đưới hình thức đầy đủ và hoàn hảo của mình, chỉ tổn tại trên trời hay cao hơn trời),
Trỉnh bày sự tồn tại riêng biệt của ý niệm đối với vật, tính quy định thứ năm của ý niệm biểu thị nét đặc thủ của quan điểm Platôn, làm cho nó có hình thức kỳ lạ, hão huyền. Chính Aristốt đã phê phán Platôn gay gắt nhất ở điểm này. Còn bốn đặc điểm đầu lại chỉ ra rằng Platôn biết cách vạch ra các các quy luật của tư duy con người và các điều kiện cho tính khách quan của nó. Học thuyết Platôn đối lập với quan niệm về tư duy như một sự tùy tiện chủ quan. Tính có lôgíc khó
nắm bắt được của tư duy có cơ sở trong cấu trúc lôgíc của
thể giới. Do vậy, nhờ sự giúp đỡ của tư duy mà con người có khả năng nhận thức được nghĩa khách quan của vật, tìm được cái chung trong các vật, xác định được quy luật của chúng.
Cau tric cua thế giới ý niệm: Theo Platôn, ý niệm là nguyên mẫu lý tưởng của vật, là mô hình hoàn hảo của nó - eidos.
Mỗi vật đều có hình ảnh tương ứng, hình ảnh này biểu thị
bản chất của vật đó. Do vậy, vật là sự sao chụp không hoàn hảo của ý niệm, còn ý niệm là khuôn mẫu không đạt tới được mà vật hướng tới như giới hạn của mình, nhưng không bao giờ đạt tới được. Hệt như vậy thì cũng có ý niệm của những giá trị đạo đức, ý niệm của các công thức toán học, v.v.. Tất cả chúng đều tồn tại trong thế giới lý tưởng dưới dạng hoàn hảo nhất. Các ý niệm có thể ít nhiều chung, ít nhiều trừu tượng. Túc là, thế giới ý niệm phải là một hệ thống có cấu trúc phân cấp, trong đó ý niệm bậc thấp hơn phục tùng ý niệm bậc cao hơn, v.v., cho đến đỉnh cao nhất, tại đây là ý niệm khác như là nguyên tắc của sự thống nhất, hay cái Thống nhất. Cái thiện là chức năng của cái Thống nhất. Qua
- #' Xem: A. Lôsep, A. Takho - Godi. Platôn. Aristất M., 1993, tr. 90-92.
134 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
đó Platôn muốn nói rằng cái Thống nhất với tư cách cái thiện bao hàm nghĩa của toàn bộ thế giới ý niệm, của toàn bộ thế giới cảm tính, là nghĩa tối cao của mỗi vật. Thứ hai, Bên cạnh cái Thống nhất, ở dưới một bậc, cần phải có một bản nguyên nữa - bản nguyên đa dạng, Nguyên tắc thứ hai này có tên gọi là Nhị tử hay tính hai mặt. Tính hai mặt là nguyên tác về tính đa dạng, bao hàm trong minh ý niệm của cái vô cùng lớn và ý niệm của cái vô cùng nhỏ. Platôn xem xét một trạng thái nào đó của thế giới ý niệm dưới ánh sảng của cái vô hạn cùng đi về hai hướng đối lập - hướng về cái vô cùng nhỏ và cái vô cùng lớn. Chinh NAj tv biéu tuong cho tinh vô hạn đi vào hai hướng đối lập. Những sự kết hợp giữa hai nguyờn tắc Thống nhất và Nủ¿ f¿, theo Platụn, là đủ để làm xuất hiện toàn bộ tính đa dạng của thế giới ý niệm.
Cái Thống nhất tác động đến tính đa dạng vô hạn theo
nghĩa hạn chế, vạch ra giới hạn, tức như nguyên tắc bảo đảm tính toàn vẹn, hay khu định với mọi cái khác. Nguyên tắc về tính đa dạng hoàn thành vai trò của thể nền, của vật liệu, vả lại ý niệm cần phải cấu thành từ cái gì đó. Do vậy, mỗi ý niệm và toàn bộ thể giới ý niệm thực chất là sự kết hợp giữa hai nguyên tắc - hữu hạn và vô hạn. Khi quy định cái.
bất định, cái Thống nhất qua đó hình thành cái vô hình, do.
vậy thể hiện là cái Thiện. Để tồn tại, ý niệm phải có sự thống nhất, do vậy cái Thống nhất là nguyên tắc của tồn tại. Để nhận thức được, ý niệm cũng cần phải được quy định, do vậy cái Thống nhất là nguyên tắc của tính nhận thức được.
Cuối cùng, để trở nên hoàn hảo, cũng cần phải có sự thống nhất, do vậy cái Thống nhất là nguyên tắc về chỉnh thể. Như vậy, cái Thống nhất đóng vai trò nguyên tắc về tính có trật
tự và có hình thức trải ngược với tính hỗn loạn và tính vô định hình.
Theo chúng tôi. khi suy luận về cái Thống nhất và cái Đa dạng như các nguyên tắc tối cao của tồn tại, Platôn da phat
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 135
hiện ra và cố gắng giải quyết một vấn để rất hiện thực và quan trọng: cái gì tồn tại đích thực (dấu hiệu của tồn tại là gì?), còn sự tồn tại của cái gì là ảo tưởng, vì trong mỗi thời điểm mỗi vật đều sẵn sàng “chảy tan ra” môi trường bao quanh, hoà tan không để lại dấu vết vào nó. Platôn nhận thấy một dấu hiệu quan trọng, quy định tồn tại - sự thống nhất nội tại của đối tượng và khu định nó với những cái khác. Tuy nhiên, dấu hiệu này là cần những chưa đủ. Nếu một vật muốn tồn tại chứ không chỉ là ảo tưởng, thì nó cần phải vạch ra giới hạn và được thống nhất từ bên trong - thiếu điều này thì sự tồn tại độc lập của nó là không thể. Ngay sau khi sự thống nhất suy yếu, giới hạn trở nên ngày một bất định hơn, đối tượng tan rã, biến mất trong những cái bao _ quanh. Đối tượng tự thân nó sẽ tiêu vong. Platôn ý thức được mối liên hệ qua lại giữa “sự khu định - sự thống nhất” với
vấn đề về tồn tại. Tuy nhiên, ông vẫn còn bỏ ngỏ vấn đề
biện minh cho tồn tại của chính đối tượng cụ thể: nếu nó không có tính độc đáo và không bổ sung gì thêm cho tính đa dạng của thế giới thì sự tồn tại của nó là không được biện minh. Chúng ta không phát hiện ra cách đặt vấn đề như vậy ở Platôn. Không coi dấu hiệu “khu định - thống nhất” cần thiết của tồn tại là dấu hiệu đầy đủ. Vấn đề biện minh cho tồn tại không thể giải quyết mà không sử dụng khải niệm cỏ nội hàm đặc biệt - khái niệm cá nhân, nhân cách. Chính nhờ khái niệm này mà vấn đề biện minh cho tồn tại được giải quyết trong triết học Thiên Chúa giáo. Trong học thuyết ý niệm của minh, Platôn biểu thị một sự định hướng đặc biệt của tỉnh thần Hy Lạp- tỉnh thần đánh giá rất cao tính hài hoà, tính có trật tự, độ. Platôn đã giới hạn cái bất định và vô định hình lại. Điều này thể hiện thái độ đối với thế giới như tác phẩm nghệ thuật do nghệ nhân hoàn thành, trong đó mọi thứ đều có tỷ lệ hài hoà và tương xứng “theo ý niệm”.
136 ĐẠI °ƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌG PHƯƠNG TÂY
Mọi ý niệm còn lại đều sinh ra từ các nguyên tắc Thống
nhất và Nhị tử, giống như tư tưởng sinh ra tư tưởng, nhưng không phải theo thời gian mà theo con đường lôgíc. Sự sinh sản cũng có trật tự, có tính tuần tự của nó. Xuất hiện ngay sau các bản nguyên là năm ý niệm chung: Tồn tại, Đứng im, Vận động, Đồng nhất, Khác nhau. Tiếp theo, ở cấp bậc thấp hơn là Bình đẳng, Bất bình đẳng, Giống nhau, Không giống nhau, v.v.. Những ý niệm chung là điển kiện cho tính có thể trước hết là của các khách thể toán học và hình học. Trên thực tế, sau khi xem xét tồn tại trong sự đứng im và vận động, chúng ta mới chuyển sang mô tả nó về mặt số lượng và hình học, sau đó mới hình dung cái gì là bằng nhau, giống nhau, khác nhau.
Thế giới ý niệm là vĩnh hằng, không chịu sự tác động của thời gian. Nó là bất động đối với thế giới cảm tính, nhưng trong nú cũng cú “vận động” của mỡnh - vận động lụgùớc, tư duy. Thế giới ý niệm vĩnh hằng và hoàn hảo là mẫu mực, là mô hình của toàn thể vũ trụ, kể cả bộ phận cảm tính của nó.
Moi thử trong thế giới cảm tính cũng đều diễn ra theo lược đồ như trong thế giới ý niệm, nhưng dưới hình thức thô thiển.
Thế giới ý niệm là kế hoạch, còn thế giới ý niệm - sự hiện.
thực hóa nó.
Nguồn gốc và cấu trúc của thế giới cẩm tính: Thế giới ý niệm được Platôn sử dụng để giải thích thế giới cảm tính.
Thế giới cảm tính là không độc lập theo nghĩa nó không thể nhận được hình thức của mình bằng cách nào khác ngoài thông qua sự tiếp cận với thể giới ý niệm. Do vậy cần phải có Đấng sáng thể tạo ra thể giới cảm tính theo khuôn mẫu của thế giới ý niệm. Đấng sáng thế là nghệ nhân, là người tinh thông, là người lành nghề, là nhà điêu khắc, là họa sỹ thần thánh. Đầu tiên ông ta đứng trước vật chất thuần túy, không do ai sáng tạo ra, tốn tại từ muôn đời không hình