TRIẾT HỌC CHÂU ÂU THỜI TRUNG CÔ
1. Ý nghĩa triết hoc cia Kinh thanh
Trong suốt hai nghìn năm qua, Thiên Chúa giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tỉnh thần của nhiều dân tộc, có tác động đến nhiều mặt của sự phát triển thế giới. Thực tế này có ý nghĩa quyết định đến việc đưa các tư tưởng Thiên Chúa giáo vào giảng dạy tại các khoa triết học của các trường đại học.
Trong quá trình giảng dạy, không được tuyên truyền cho niềm tin Thiên chúa giáo, cũng như không chống lại nó, cần loại bỏ sự đối đầu tôn giáo hung hang va tinh than tôn giáo hiếu chiến, vì chúng là những thứ phủ định quyên lựa chọn tỉnh thần tự do của mỗi cá nhân. 7T tướng Thiên Chia gido
phải được trình bày như một hiện tượng văn hóa và lịch sử quan trọng mà việc bỏ qua tất sẽ làm nghèo nàn trì thúc triết học. Vai trò của nó là quan trọng như nhau đối với người vô thần cũng như đối với người hữu thần nếu họ muốn trở thành con người có học vấn triết học và nhân văn. Cũng không nên bắt buộc giảng dạy triết học tôn giáo, vì nó cản trở việc bảo vệ quyền đi theo hay không đi theo bất kỷ tôn giáo nào của mỗi cá nhân, hay nói cách khác là quyền tự do tín ngưỡng của cá nhân. Nếu quá trình giáo dục thường định
ĐẠI CƯƠNG LỊGH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 183
hướng vào sự tuyên truyền, thì các quá trình tỉnh thần diễn ra ở bên ngoài nó không phải định hướng vào sự tuyên truyền. mà chủ yếu hướng vào sự nghiên cứu là chính. Do đó, định hướng như vậy giúp tránh được chủ nghĩa ngu dân, sự đốt nát và chủ nghĩa hư vô. Việc nghiên cửu các cơ sở của tư tưởng Thiên Chúa giáo với định hướng như vậy không có nghĩa là chỉ dừng lại ở tư liệu hiện có mà còn đòi hỏi phải làm sáng tổ nội dung, ý nghĩa của học thuyết Thiên Chúa giáo, điều này lại cần đến thái độ quan tâm của giáo viên và sinh viên. Trong điều kiện như vậy thì nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục là mở rộng nhãn quan, hỉnh thành thái độ cởi mở với mọi cái khác và khả năng tự nhìn vào mình từ bên ngoài, sẽ giải quyết được về nguyên tác.
Id. Kinh thanh
.Trước khi trực tiếp xem xét ý nghĩa triết học của các tac phẩm của các Thánh Tông đồ và các Đức cha, chúng ta cần phải làm quen sơ bộ với cấu trúc và nội dung của Kinh thánh.
Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi Kinh thánh là cuốn sách vĩnh hằng. Người ta không những muốn nói tới sự kiện tồn tại kéo đài đặc biệt của văn bản Kinh thánh và tính phố biến rộng rãi của nó (mặc dù điều này đã là rất quan trọng), mà chủ yếu là muốn nói rằng nội dung của Kinh thánh có tính sâu sắc thật sự vô tận. Lịch sử chứng minh rằng, trong mọi điều kiện xã hội, dưới những chế độ chính trị và kinh tế khác nhau, không phụ thuộc vào các nhân tố dân tộc, độ tuổi, v.v., con người luôn phát hiện ra trong văn bản Kinh thánh một điều gì đó quan trọng cho bản thân mình. Một điều hiển nhiên là nội dung Kinh thánh vạch ra hàng loạt đặc trưng phổ biến của tổn tại người và, do vậy, của tồn tại tự thân nó, chính yếu tố này đã trở thành cơ sở cho tính vĩnh hằng của Kinh thánh.
“Kinh thánh” theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “các cuốn sách”. Kinh thánh không phải là một cuốn sách mà là tập
184 DAI CUONG LICH SU TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
hợp những cuốn sách, mỗi một trong số đó đều có tên gọi và đặc thủ của mình. Các cuốn sách kinh được chia ra thanh hai nhóm: Cựu ước và Tân ước. Cựu ước được bắt đầu sưu tập từ thời gian 1300 cho đến 100 năm-TCN. Tân ước được _sưu tập ở thể kỷ I-SCN. để cập tới sự hiện thân của Chúa
Giêsu và tất cả những gì gắn liền với Người.
Các văn bản Kinh thánh được viết bằng ba thứ tếng: Do Thái cổ (phần lớn Cựu ước), một phần nhỏ là bằng tiếng Aramia và một số văn bản Cựu ước và toàn bộ Tân ước - bằng tiếng HyLạp. Vào thể kỷ II, tất cả văn bản Kinh thánh đã được dịch sang tiếng HyLạp. Bản dịch này đã trở thành sách thánh truyền đối với giáo hội phương Đông. Bắt đầu từ thé ky II, Kinh thánh cũng bắt đầu được dịch sang tiếng Latinh. Vào thể kỷ IV, một trong các Đức cha nổi tiếng ở phương Tây, Jeronim đã dịch nó sang tiếng Latinh. Bản dịch này được coi là chính thống đối với giáo hội phương Tây.
Trong Kinh thánh, chúng ta có thể tách biệt “hạt nhân
quan điểm” là cái phân biệt văn bản Kinh thánh với tác phẩm khoa học và với tác phẩm trần thuật đơn giản. Kinh thánh được xây dựng dựa trên quan điểm di huấn. Di huấn là lời giáo huấn của Chúa dành cho con người. Người ta cho rằng, su sinh ton cua con người do /zá/ quy định. Luật này được thiết lập không phải giữa con người với nhau, mà có tính chất thần thánh. Khi đưa ra lời giáo huấn cho con người,
Chúa thiết lập một kiểu quan hệ đặc biệt giữa mìỉnh và con người, kiểu quan hệ này chứng tỏ thiện chí của Chúa: Chúa gánh vác lấy trách nhiệm. Đồng thời lời giáo huấn cũng nâng con người lên, làm cho con người tự do hướng tới Chúa. Nhân đây văn bản Kính thánh được xem như là văn bản khích lệ của Chúa. Điều này có nghĩa rằng, mặc dù nó do những con người cụ thể viết, nhưng điều được viết không phải do họ nghỉ ra, mà là cái gì đó thân thánh được mở ra thông qua nó.
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 185
Chúa tự cởi mở bản thân minh thông qua Kinh thánh. Từ đó kinh thánh còn có tên gọi là Mặc khải. Do bản chất của mình nên Chúa không được nhận thức giống như các sự vật cảm tính - một cách trực tiếp, đây đủ và toàn vẹn. Nhận thức
trực tiếp và đây đủ vẻ Chúa là vượt quá khả năng của con người. Chúa tự cởi mở mình trong văn bản Kinh thánh, tự vén bức màn cho những người phát hién thay trong minh co lòng dũng cảm của đức tin. Do vậy Kinh thánh thể hiện là
“Lời Chúa” và, với tư cách như vậy, nó trở thành khách thể của niềm tin. Không thể đọc Kinh thánh mà không có đức tin hay bằng một cái nhìn lạnh nhạt - xa lạ của con người đứng bên ngoài đức tin này. Muốn đọc Kinh thánh ít nhất cũng phải có khát vọng thấu hiểu nội dung thẩm kín của nó.
Điều này phân biệt rõ các tư tưởng Kinh thánh với triết học giai đoạn trước đó. Chẳng hạn, các tác phẩm của Platôn hướng vào trí tuệ của độc giả nhưng không đòi hỏi dốc hết
những nỗ lực tỉnh thần và một thái độ tin tưởng đặc biệt vào
văn bản mới thấu hiểu chúng. Khi được thấu hiểu đúng, căn
cứ trên niềm tin, các tự tưởng Kinh thánh sẽ bộc lộ sức mạnh có kha năng làm thay đổi bộ mặt tỉnh thần của con người và của các cộng đồng người. Kinh nghiệm lịch sử trong việc phổ biến Thiên chúa giáo từ thời xa xưa cho đến tận ngày nay đã chứng tỏ điều đó.
Tân ước, tức phần thứ hai của Kinh thánh, thưởng được gọi là Phúc âm. Phúc âm được dịch là “tin lãnh". Tin lành hàm ý nói lên thông tin về sự hiện thân của Chúa Giêsu và sự phục sinh màu nhiệm của Người sau cái chết trên cây Thánh giá. Trên thực tế, Tân ước bao gồm 4 bản Phúc âm do các môn đệ của Chúa viết. Chúa Giêsu đã truyền giáo bằng lời. Học thuyết và các sự kiện cuộc đòi của Chúa được ghi
lại trong bốn cuốn sách mà người ta gọi là Phúc âm. Nội dung cơ bản của học thuyết Thiên Chúa giáo bao hàm chính 186 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
trong Tân ước, hay Phúc âm. Tuy nhiên, Tân ước có liên hệ mật thiết với Cựu ước vốn là sách kinh của người Do Thái cổ. Truyền bá học thuyết của mình, Chúa Giêsu thường xuyên so sánh lời nói mới của mình với các chân lý đã được biết tới trong Cựu ước, qua đó Người tách biệt tư tưởng của minh, làm cho nó trở nên rõ ràng và dễ hiểu hơn. Hình ảnh Chúa Giêsu kết hợp trong mình hai bản tính - của Chúa và của con người - là cái biểu thị rõ nhất sự đặc thủ của thiên Chúa giáo, phân biệt nó với các tôn giáo khác.
1.2. Nội dung triết học cúa Thiên Cluia giáo.
Sự xuất hiện của Thiên Chúa giáo đánh dấu một bước ngoặt triệt để trong tu du) triết học. Trước thế giới quan Thiên Chúa giáo đã có các tôn giáo tồn tại dưới dạng đa thần giáo, tức các tôn giáo của một cộng đồng người khép kín riêng biệt và là sản phẩm sáng tạo đặc thù của một dân tộc cụ thể.
Đó là các tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ. Các hệ thống triết học cổ đại đã xuất phát từ chúng. Việc các tôn giáo cổ mất dan anh hưởng và việc phổ biến Thiên Chúa giáo đồng thời cũng có nghĩa là sự xuất hiện một triết học mới. Thuyết phổ biến (thuyết phổ độ toàn thể) về thế giới quan được khẳng định cùng với Thiên Chúa giáo, tức một loại hình triết, lý mới phù hợp với thuyết phổ biến Thiên Chúa giáo. Loại hình này căn cứ trên những tư tưởng cơ bản của Kinh thánh.
* Chúa - nhân cách
Có thể khẳng định rằng. thời cổ đại trước Thiên Chủa giáo con người chưa hề biết tới một thần linh duy nhất và có nhân cách theo đúng nghĩa của tử này. Các thần linh của thần thoại Hy Lạp không phải là thần linh có nhân cách vì đặc.
điểm thân thánh duy nhất của chúng là sự bất tử; chúng ra đời, chiến đấu với nhau, sinh đẻ, thù hằn nhau, v.v. giống như những con người bình thường nhất. Chỉ có Kinh thánh mới đưa ra được quan niệm về Chúa như một Thần linh duy ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 187
nhất và độc đáo, nhờ có tính thần thánh của mình mà vượt
hoàn toàn lên trên con người và tự nhiên. Nếu triết học cổ đại đã tiến một số bước theo hướng nhận thức sự đặc thù của cái thần thánh, thì Thiên Chúa giáo đã đưa ra một quan niệm hoàn toàn độc đáo. Cụ thể, các nhà triết học cổ đại đã ý thức . được tính chất nguy hại của việc sùng kính một cái gì đó vô hình và bất định. Cái thần thánh trong triết học Platôn là cái Duy nhất, cái biểu thị tính chất tách biệt, có diện mạo. Aristốt đã bổ sung cho nguyên tắc của Platôn tư tướng định hình và toàn vẹn. Trí tuệ thần thánh của ông là “hình thức của mọi hình thức”. Nhưng bên cạnh một thần linh duy nhất thì các nhà triết học cổ đại còn giả định sự tồn tại của những thần linh khác. Quan niệm của Kinh thánh về Chúa độc đáo, vô . tận về tiểm năng, khác hoàn toàn với mọi cải khác, đã loại
trờ khả năng ngầm hiểu Chúa là một cái gì đó khác. Kinh thánh đã loại trừ mọi hỉnh thức của đa thần giáo và ngẫu tượng giáo.
Khác với thần linh trừu tượng của các nhà triết học cổ đại, Chúa của Thiên Chúa giáo là một nhân cách. Thần linh của Platôn là một điểm nằm xa vô hạn trong không gian và
thời gian. Có thể hinh dung thần linh này ít nhiều rõ ràng, chang hạn như là cái bao hàm trong mình 4 nguyên nhân, | nhưng hoàn toàn không thể suy ngẫm về thần linh này như một nhân cách. Nhân cách của Chúa Thiên Chúa giáo thể
hiện rõ nhất ở hình ảnh Chúa Giêsu, chỉnh Chúa Giêsu bộc lộ tồn tại sâu sắc, phong phú và độc đáo vô tận của nhân cách. Quan niệm về nhân cách của chúa cho phép hiểu được ý nghĩa của độc thần giáo Thiên Chúa giáo. Chỉ có thể xác lập quan hé tinh than thân mật và yêu thương lẫn nhau với Chúa có nhân cách. Đồng thời bản chất cao thượng và đứng trên thể giới của Chúa cũng hoàn toàn đối lập với việc tôn thở những “thần tượng thế tục”, với thiên hướng của con
188 DAI CUONG LICH SU TRIET HOC PHUONG TAY
người muốn thần thánh hóa những kẻ cầm quyền thế tục, những nhà tiên tri giả danh, những kẻ có kỳ vọng thống trị con người về mặt tỉnh thần.
* Tự tướng sang thế.
Tư tưởng “sáng thế” là một trong những tư tưởng trung
tâm của triết học Thiên Chúa giáo. Kinh thánh công khai
nói rằng Chúa tạo ra trời và đất, sinh vật và con người - toàn
bộ thế gian này. Các nhà thần học Thiên Chúa giáo nhấn mạnh rằng đây là sự sáng tao ra từ hư vó. Điều này chỉ ra tính tuyệt đối, toàn năng của Chúa. Chúa không bị giới hạn ở bất kỳ một cái gì, không có bên cạnh mình một bản nguyên vĩnh hằng nhưng không thần thánh. Chúa là tồn tại không
được sáng tạo ra, nhưng mọi cái được sáng tạo ra (thế tục)
không phải là tổn tại như là tồn tại, không phải là tồn tại đích thực, mà chỉ có được tồn tại, nhận được tồn tại thông qua sự tham dự vào tổn tại. Quan điểm “sáng tạo ra từ hư vô” thường được coi là thuyết sáng thế.
Thuyết sáng thế trong Kinh thánh có nhiệm vụ loại bỏ
những trở ngại và mâu thuẫn mà tư tưởng triết học trước Thiên Chúa giáo, cụ thể là tư tưởng triết học cổ đại, đã vấp phải. Tư tưởng “sáng tạo ra từ hư vô” có nhiệm vụ tháo gỡ đầu mối của những mâu thuẫn này. Đó là mâu thuẫn giữa một và nhiều, giữa cái vô hạn và cải hữu hạn, giữa cái bất biến và cái thường biến, giữa cái siêu cảm tính và cái cảm tính, giữa cái tuyệt đối và cái tương đối, tức tất cả những vấn để mà triết học Hy Lạp cổ đại đã vấp phải. Theo Kinh thánh, thế giới là một xét về cội nguồn vì chỉ có Chúa mới có tồn
tại vô hạn: Chúa là không có khởi đầu và không có sự kết thuc (“v6 han về cả hai phía”). Việc giả định sự tồn tại khởi thủy của một cái gi đó ở bên cạnh Chúa, chẳng hạn như của vật chất, sẽ có nghĩa là thừa nhận không phải một mà là hai thực thể thần thánh như nhau. Bản nguyên thống nhất cần
ĐẠI CƯƠNG LỊGH SỬ TRIẾT HỌG PHƯƠNG TÂY 189
phải có năng lượng sáng tạo - sản sinh, bao hàm trong mình tất cả và sáng tạo ra thể giới thông qua hành vi sáng tạo tự do. Xét từ góc độ này thì tư tưởng sáng thế luận của Kinh thánh là nhất nguyên luận tuyệt đối - thửa nhận một bản nguyên duy nhất. Song, tư tưởng này cũng đòi hỏi nhị nguyên luận vì nó đề cập tới tính không đồng nhất về nguyên tắc giữa tổn tại của Chúa và tồn tại thế tục. Chúa sáng tạo ra thế giới theo các luật của Chúa là các luật điều khiển thé giới ngay từ thời điểm sáng tạo. Do vậy trong thế giới có tính hợp quy luật, hay sự Sáng láng vô cùng của Chúa - Sophia. Sự sáng láng này chính là bản nguyên mang tính chấn chỉnh nội tại của thế giới, bắt nguồn từ ý định về thể giới của Chúa. Tuy nhiên, bên cạnh yếu tố chấn chỉnh, Chúa còn mang lại cả tự do cho thế giới. Mọi cái được tạo ra đều có tự do và với nghĩa đó là có quyền tự trị, không phụ thuộc vào sự tiên tri của Chúa, do vậy tồn tại thế tục có khả năng đi chệch khỏi ý Chúa.
Chúa sáng tạo một cách tự do, thông qua “lời nói”, nguyện vọng và sự ban phước lành. Tất cả đều được ban phát cho sự sống như một món quà vô tư. Nhưng chúng cũng được ban cho cả quyền tự do lựa chọn. Bằng cách đó thì thái độ coi.
thường tồn tại cảm tính vốn đặc trưng cho chủ nghĩa Platôn, đã được khắc phục. Thái độ coi thường vật chất đặc trưng cho triết học Platôn được khắc phục nhờ tư tưởng sáng thế của Thiên Chúa giáo, mà chính là nhờ tư tưởng cho rằng Chúa sáng tạo ra thế giới từ hư vô. Tư tưởng này loại trừ quan niệm về vật chất như một thực thể ngay từ đầu đã đứng đối lập với tồn tại của Chúa, không có day du gia trị và “độc ác”. Chúa bộc lộ thái độ sẵn sàng gánh vác lấy mọi tội lỗi của thế giới thế tục.
Tư tưởng sáng thế cũng khắc phục cả tính “duy lý” của triết học cổ đại, tính duy lý coi con đường nhận thức khoa
190 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY