thức. Tuy nhiên, tính phi hình thức của nó không là tuyệt đối mà là tương đối. Các ý niệm, các nguyên mẫu của các vật tương lai, của toàn thể vũ trụ hiện diện dưới hình thúc không rõ ràng, rất khó phát hiện ra. Chính vật chất được Dang sang thế sử dụng làm vật liệu xuất phát để tạo ra vũ trụ cảm tính theo kế hoạch được vạch thảo trong ý niệm. Vốn có tài nghệ, nghệ sỹ tạo ra thế giới gần hoàn hảo nhưng không đạt tới tính hoàn hảo tuyệt đối.
Đấng sáng thế không tạo ra cả vật chất lẫn thế giới ý niệm.
Ông ta chỉ hình thành vật chất theo khuôn mẫu của thế giới
ý niệm, theo kế hoạch lý tưởng. Bản thân kế hoạch lý tưởng không nằm trong đầu ông ta, mà nằm ở bên ngoài nó; nghệ nhân trực giác nó từ bên ngoài. Sáng tạo như sự lập kế hoạch không có mặt trong lược đồ của Platôn. Nó được thay thế bằng sự suy diễn lôgíc mang tính khách quan mà mọi ý niệm khác đều được suy ra từ ý niệm của cái Thiện. Sáng tạo ở đây không phải như là sự sáng tạo tự do, mà như là tính tất
yếu lôgíc khách quan, tuyệt đối vô nhân cách, vì ý niệm của cái Thiện không thuộc về một cá nhân nào, một chủ thể nào,
a 66
mà tồn tại khách quan dưới dạng ý niệm. Đấng sáng thế “gieo”
cấu trúc của thế giới ý niệm vào vật chất và làm điều đó một cách tốt đẹp vì ông ta là nghệ nhân. Ông ta thổi tâm hồn vào thế giới - một tâm hồn lôgíc về nguyên tắc. Nhưng, sau khi
được đưa vào vật chất, tâm hồn chịu sự tác động của các dục
vọng. Tâm hồn thế giới là cải tương tự với tâm hồn con người, do vậy lý tính đóng vai trò chủ đạo trong nó. Lý tính này đứng đối lập với các dục vọng, có nhiệm vụ hạn chế chúng.
Tâm hồn thế giới không phải là kể hoạch dưới dạng thuần túy mà đã nhiễm phải vật chất, là kế hoạch đã được thực hiện. Bản nguyên vật chất không hoàn hảo bây giờ phải tác động đến phương diện lý tính của nó, đó chính là cội nguồn của các dụng vọng.
138 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
Vậy động cơ làm việc của Đấng sáng thế là gì, vi kế hoạch không thuộc về ông ta, không phải do ông ta nghĩa ra, mà đã được định trước, được xác lập từ trước? Giống như ý niệm của cái Thiện, Đấng sảng thể cũng mang tính thân thánh. Do vậy. ông ta không thể làm việc do bị cưỡng chế hay do có những tính toán thấp hèn nào đó. Platôn hiểu rất rõ ý nghĩa của vấn đề này và đã trả lời rành mạch: “Chúng ta hãy xem người tạo dựng vũ trụ này và làm cho nó xuất hiện, đã hành động vì nguyên nhân nào. Ông ta là người có thiện chí, mà người có thiện chí thì không bao giờ căm thu trong bất kỳ
công việc nào, là xa lạ với sự thù hận, ông ta muốn cho mọi vật trở nên giống với ông ta nhiều nhất. Nhận thấy điều đó là cơ sở đích thực và chủ yếu nhất của sự sinh ra vũ trụ thực ra là dang tin cậy nhất”%),
Như vậy, Đấng sáng thế tạo ra thế giới từ tỉnh yêu cái đẹp, những tạo phẩm đẹp. Thêm vào đó, phải hy vọng như vậy vì không yêu cái đẹp thi ông ta không còn là nghệ nhân, họa sĩ nữa. Platôn hiểu cái đẹp là cái đẹp có tâm hồn, trong đó có lý tính, có tâm hồn đang cố gắng trở thành tâm hồn có trí tuệ. Do vậy, vũ trụ trở thành tạo phẩm đẹp nhất, có tâm hồn và được xuyên suốt bởi nguyện vọng về cái thiện - vì nó hướng tới cái thiện tối cao. Cái ác là một yếu tố ngẫu nhiên trong vũ trụ, là phan còn lại của tình trạng không có
trật tự và phân tán hỗn loạn. Platôn nói rõ rằng sinh vật và
thực thể biết tư duy là hoàn hảo hơn thực thể vô sinh, do vậy thế giới hoàn hảo không thể chết cứng và no có day ly tinh
và các lực sống được định hướng một cách hợp lý. Do đó, động cơ chủ đạo của công việc sáng tạo của Demiur và của sự biện minh cho thế giới là động cơ thấm mỹ. Vũ trụ được
"!' Xem: Platôn. Tác phẩm, t3, tr. 433.
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 139
tạo ra và tồn tại như sự thể hiện cái đẹp và các lực sống hài
hòa. Từ đó chúng ta dễ hiểu tại sao đề tài tình yêu lại chiếm một vị trí lớn như vậy trong sự nghiệp sáng tạo của Platôn.
Platôn không nói đến tỉnh yêu nói chung, mà nói đến tỉnh yêu lứa đôi. Tình yêu này, theo Platôn, cấu thành cơ sở, thang bậc thấp nhất, nền tảng của mọi loại tỉnh yêu khác. Các loại tỉnh yêu khác không quy về được tình yêu lứa đôi nhưng cũng không thể tồn tại thiếu nó. Xuất phát từ xung lượng tình dục khởi thủy, con người có thể đi lên theo các thang bậc tỉnh yêu đến các khách thể lý tưởng hơn và, cuối cùng, đạt tới tình yêu cái Thiện tự thân nó. Sự phân cấp tình yêu của Platôn diễn ra theo con đường giảm bớt các yếu tố vật chất thô thiển và gia tăng các yếu tố tỉnh thân: tình yêu các vật thể đẹp - tình yêu các tâm hồn đẹp - tinh yêu tri thức - tình yêu tri thức về cái đẹp - tỉnh yêu cái đẹp tự thân no”, Tỉnh yêu ở Platôn chủ yếu là tình yêu thẩm mỹ - hợp lý.
Chính tỉnh yêu cái đẹp như trật tự hợp mục đích là cái mà
Dang sang thế đã tuân thủ khi hình thành và chấn chỉnh thế
giới. Vũ trụ của Platôn sinh ra sự khâm phục trước cái đẹp.
3.3. Nhận thúc luận
Quan điểm Platôn về cấu trúc thế giới đỏi hỏi phải làm sáng tỏ quá trình nhận thức diễn ra như thế nào. Duong nhiên là vấn đề đạt được tri thức bằng con đường nào, đã xuất hiện từ tiền dé cho rằng trạng thái ban đầu thiếu tri thức, là sự thiểu vắng hoàn toàn hay một phần tri thức. Nhận thức luận cũng xuất phát từ tiền để cho rằng nhận thức không phải là hành vi chớp nhoáng và không phải là tổng thể những hành vi như vậy, mà là hành vi kéo đài, có các giai đoạn tuần tự của mình.
Xem; Platôn. Tác phẩm, t 2, tr. 121-122.
140 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
Như vậy. bản thể luận Platôn đỏi hỏi một nhận thức luận đặc biệt. Trên thực tế, nếu thể giới có được hình thức và tồn tại phù hợp với một kế hoạch nào đó, thì cần phải giải thích con người có thể nhận thức kế hoạch đỏ như thế nào.
Theo Platôn, sự sáng tạo ra thế giới tách biệt với sự nhận thức nó: thế giới tổn tại vĩnh viễn theo một kế hoạch. Con người không tham gia vào sự sáng thế hay sự đồng sáng thế cùng với thần linh, nó cũng không có khả năng tiếp tục sự sáng thế. Do vậy, con người chỉ còn một việc phải làm là nhận thức thế giới, tức phỏng đoán ra kế hoạch thần thánh ẩn náu trong thế giới nhờ trí tuệ của mình. Điều này có thể diễn ra như thế nào?
Một điều dễ hiểu là các giác quan tự thân chúng không . thể giải quyết được nhiệm vụ nhận thức. Vả lại kể hoạch về thế giới có bản chất siêu cảm tính, lý tưởng. Các giác quan đem lại cho chúng ta bức tranh bèn ngoài về tồn tại của các vật và của vũ trụ. Chiếm ưu thể trong bức tranh này là tính
biến đối và không ổn định, thế giới ở đây bi phan chia ra thành một tập hợp khó có thể nhận thấy được sự thống nhất ở trong đó. Các giác quan cung cấp cho tâm hồn đang nhận thức vật liệu thô còn cần được sử lý thông qua trí tuệ. Trong trưởng hợp ngược lại sẽ nảy sinh nguy cơ bị cảm tỉnh quyến rũ và đi theo con đường sai lam do các dục vọng lôi kéo.
Tức là, vai trò quyết định cần phải thuộc về lý tính. Nhưng, thiếu các giác quan thì lý tính không có lối thoát trực tiếp vào thế giới và, do vậy, nó không biết nhận thông tin về thế giới từ đâu. Một trở ngại tưởng chừng không giải quyết được đã xuất hiện ở đầy: kế hoạch về thế giới nằm ở bên ngoài lý tính và do vậy cần phải có một kênh thông tin giữa thế giới và lý tính. Các giác quan có thể thực hiện vai trỏ của kênh như vậy, những theo các lý do nêu trên, chúng lại không có -khả năng làm điều đó. Tuy nhiên, Platôn đã phát hiện ra lối
thoát tuyệt vời tử trở ngại ấy.
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 141
Hóa ra là tâm hồn con người dẫu sao ngay từ đầu cũng không phải hoàn toàn không biết gì về kế hoạch thần thánh.
Nó có biết nhưng sự hiểu biết này là sự hiểu biết không rõ ràng và chưa được trình bày. Hoàn toàn phù hợp với quan niệm cổ đại đặc trưng về con người như tiểu vũ trụ phản ánh day đủ đại vũ trụ, Platôn khẳng định rằng tâm hồn mỗi người đều biết các quy luật của thế giới, nhưng những tri thức tổn tại không phải dưới dạng rõ ràng mà dưới dạng che đậy.
Chính vì vậy mà cần phải có những nỗ lực đặc biệt để kéo chúng ra từ đáy tâm hồn.
Vấn đề về nhận thức được trình bày một cách hợp lý là nhu vay. Platén con minh hoa nó cả về mặt thần thoại nhờ lý giải nhận thức như là “sự hồi tưởng”. Vì tâm hồn là một bản chất lý tưởng, nên có liên can với thế giới ý niệm. Do vậy, trước khi đến cư trú trong thé xác con người, nó tồn tại dưới dạng thuần túy, lý tưởng và thế giới ý niệm mở ra cho nó. Nó tự do trực giác thể giới ấy, do vậy dễ dàng in lại thể giới ấy ở trong mình. Sau khi đến cư trú trong cơ thể vật chất, tâm hồn lãng quên những điều đã biết và đã hiểu do những tác động của cơ thể làm mất sự bình yên của nó. Một điều dễ hiểu là tâm hồn có khả năng hồi tưởng nhưng để làm điều đỏ thì cần phải có những nỗ lực nhằm khắc phục các dục vọng sinh ra từ cơ thể. Do vậy, nhận thức là việc tâm hồn hồi tưởng những bộ phận đã biết về kế hoạch thần thánh của thế giới và đi lên theo các thang bậc của sự hồi tưởng như vậy cho tới khi khôi phục được hoàn toàn kế hoạch đó. Nhà triết học, tức con người chiến thắng được những dục vọng thấp hèn trong minh, có khả năng vươn lên đính cao của quá trình nhận thức đi lên.
Theo Platôn, việc thường xuyên có thể dan dat con người đến với tư tưởng đúng đắn nhờ các câu hỏi là sự minh chứng cho quan niệm về nhận thức như hồi tưởng. Khi trả lời những 142 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
câu hỏi đặt ra một cách dung dan, con người phát hiện ra tri thức đã hiện diện ở trong nó nhưng vốn chưa được ý thức.
Ngoài ra, quá trình nhận thức cũng như quá trình tìm ra giải
pháp cho một vấn đẻ phức tạp cũng rất giống với quá trình hồi tưởng. Và, trong cả hai trường hợp, để diễn ra nhận thức, thì cần phải có thời điểm “sang tam”, thoi diém sang tri dot nhiên, khi mà con người phát hiện ra khâu thiếu hụt trong chuỗi suy luận và khép nó lại - giải pháp được tìm ra. Động cơ quan trọng để lý giải nhận thức bao hàm trong mình sự hiểu biết là ý định của Platôn nhằm lý giải nó như là sự đóng góp của bản thân con người, chứ không phải chỉ có của các thày giáo: vả lại không một thày giáo nào có thể thực hiện công việc khép lại vòng tròn hiểu biết thay cho học trò. Chính vi vậy quá trinh nhận thức là quá trình rút chân lý ra từ tâm hồn của bản thân nhờ sự tập trung trí tuệ. Trong đối thoại
“Mênông”, Platôn đã chỉ ra điều đó diễn ra như thế nao.
Xôcrát hội thoại cùng một nô lệ không có học vấn nhưng đã chứng minh được định lý của Pitago nhờ có sự giúp đỡ của nhà triết học. Xôcrát vẽ lên cát một cái hình và đặt ra những
câu hỏi, giúp đỡ nô lệ đi theo con đường suy lý lôgíc. Rốt cuộc nô lệ đã giải bài toán học và trình bảy định lý. Qua thí dụ với Xôcrát đó Platôn đã chứng ming rằng công lao giải quyết vấn đề bao giờ cũng thuộc về học trò; thầy giáo chỉ là người trợ giúp. Nhưng, điều đó cũng chứng tỏ rằng chân lý hiện diện trong sâu thẳm tâm hồn - cần phải rút nó ra. Do
vậy, nhận thức mang tính hiểu biết là việc hồi tưởng các bộ phận của kế hoạch thân thánh về vũ trụ.
Tư tưởng hồi tưởng còn cho phép Platôn lưu ý tới một đặc điểm nữa của nhận thức. Đương nhiên, người đang nhận thức cần phải xuất phát tử thể giới cảm tính. Nhưng, nhiệm vụ của nó là hình thành một số luận điểm và khái niệm. Có thé
nhận thấy cái tương tự với các khái niệm trong các vật mà
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 143
kinh nghiệm đạt tới được, nhưng đây là cái tương tự gần đúng, chứ không phải chính xác. Tuy nhiên, xuất phát từ chúng, con người đi tới tri thức xác thực, phát hiện ra các quy luật bộc lộ một cách chính xác. Do vậy, xuất phát từ những dữ liệu kinh nghiệm cảm tính, cần phải thực hiện một bước đột phá bằng tư duy đến với các khái niệm bao hàm một cái gì đó quan trọng hơn cái có trong dữ liệu cảm tính.
Cái bổ sung đến từ đâu? Theo Platôn, nó cũng được lý giải thông qua việc tâm hồn hồi tưởng những gì mà nó đã trực giác được trong thế giới ý niệm.
Khi-tính đến sự khác nhau về nguyên tắc giữa kinh nghiệm cảm tính và kết luận lôgíc bằng khái niệm của lý tính, Platôn phân biệt giữa dư luận và khoa học. Dư luận là tri thức dao động. Khoa học (“epistema”) là tri thức có luận cử hay có kỷ vọng trở nên như vậy. Cuối cùng, loại tri thức tối cao là biện chứng. Các nhà triết học nắm bắt được nó vì họ chế ngự được dục vọng và có tỉnh yêu vô tư đối với sự thông thái.
3.4. Nhân học
Quan điểm nhân học chung được phác họa trong siêu hình học và nhận thức luận Platôn. Rõ ràng là Platôn phát triển quan niệm về con người từ hai bộ phận cấu thành cơ bản là:
tâm hồn và thể xác. Lý tính đóng vai trò chủ đạo trong tâm hồn. Tâm hồn là *ly tính đang hình thành”. Ông muốn nói rằng trong quá trình phát triển của tâm hồn, lý tính ngày cảng có quyền lực và năng lực chế ngự dục vọng lớn hơn.
Tâm hồn trẻ thơ có ít lý tính hơn tâm hồn người lớn. Platôn xem quan hệ giữa tâm hồn và thể xác là quan hệ mâu thuẫn.