Những tư tưởng triết lục cử hản của gián ph hụt

Một phần của tài liệu Đại cương lịch sử triết học phương tây (Trang 196 - 200)

TRIẾT HỌC CHÂU ÂU THỜI TRUNG CÔ

2. Những tư tưởng triết lục cử hản của gián ph hụt

Các vấn đề thần học là trọng tâm của các Cha đạo. Thực ra, các cơ sở của thần học Thiên Chúa giáo đã hình thành chính trong giai đoạn giáo phụ học. Song, thần học của các Cha đạo đồng thời cũng là một hình thức triết lý đặc biệt.

Những người sáng lập ra tư tưởng Thiên Chúa giáo đã ý thức được rất rõ nội dung phong phú, những kết luận về mặt đạo đức và thế giới quan được rút ra từ một luận điểm thần học nào đó. Song, họ đã không quan tâm tới việc giải mã các luận điểm thần học và phiên dịch chúng sang ngôn ngữ triết học thế tục. Thực tế này có nguyên nhân của nó là chú giải học thể hiện như một loại hình triết lý đặc biệt - đây là sự triết lý trong đức tin (niềm tin), “dưới chiêu bài” của niềm tin. Nhiệm vụ của các Cha đạo hoàn toàn không phải là việc cần phải thuyết phục ai đó tin vào chân lý Mặc khải. Mục đích của họ là giải thích rõ nghĩa của các chân ly Thiên Chúa giáo, là tìm ra cách trình bày chúng một cách chính xác nhất .về mặt thần học, là làm sáng tỏ văn bản Kính thánh. Qua việc làm này họ đã đặt cơ sở cho truyền thống tư tưởng triết học của giáo hội mà thiếu đó thì sự tổn tại của giáo hội Thiên Chúa giáo là không thể. Truyền thống này có tên gọi là

“Thánh truyền”. Việc đặt nền móng cho thánh truyền lại càng có ý nghĩa lớn hơn nữa vì Thiên Chúa giáo thậm chí không phải là tôn giáo thống trị tuyệt đối cả ở “thế kỷ vàng son” của chủ giải học (thế ký VỊ - đầu thể kỹ VI. Giáo hội:

chỉ thoát ra khỏi tình cảnh ẩn dật bắt buộc của mình và tập hợp dưới mái nhà thờ của nó những người đã đánh mất niềm tin nhưng lại đang khát khao có được niềm tin mới. Toàn bộ văn hóa vẫn tồn tại dưới hình thức mà nó đã hình thành ở giai đoạn trước đó do có ảnh hưởng của di sản văn hóa cổ đại. Các nhà giáo phụ học và các Cha đạo đã sống và sáng tạo chính trong bối cảnh đối đầu và thâm nhập lẫn nhau

ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 197

giữa các tư tưởng triết học tôn giáo trước kia và các tư tưởng triết học tôn giáo mới.

Các nhà giáo phụ học đã xuất phát từ ý thức rõ ràng về sự -_ khác biệt của tư tưởng Thiên Chúa giáo so với triết học Hy Lạp cổ đại, cũng như so với những quan niệm gắn liền với Do Thái giáo mà Thiên Chúa giáo đã sinh ra từ trong lòng nó. Thái độ của các nhà giáo phụ học đối với triết học Hy Lạp cổ đại khẳng định quan niệm về triết học này như là “sự thông thái bên ngoài”, là cái khác biệt với “sự thông thái bên trong” bắt nguồn từ Mặc khải. Đồng thời các Cha đạo -_ cũng tích cực sử dụng các phạm trù của triết học Hy Lạp để lý giải những vấn đề thần học Thiên Chúa giáo làm cho họ

quan tâm, qua đó họ đã mở rộng va làm sâu sắc hơn những thành tựu của tư tưởng Hy Lạp dưới một ánh sáng mới. Thái độ đối với Do Thái giáo được quy định bởi một quan niệm

khác hắn về Chúa. Đây là sự khác biệt giữa Chúa chỉ ban

hành luật, ra lệnh và chỉ đạo, với Chúa là tình yêu. Do vậy, những sự khác biệt ở đây được ghi nhận thông qua hình ảnh Chúa Giêsu. Nội dung triết học - thần học của hiện tượng Chúa Giêsu trở thành một trong những để tài trung tam của chú giải học.

Ngoài mô tả về cuộc đời và việc làm của Chúa Giêsu, Phúc âm còn bao hàm những chỉ dẫn quan trọng về nội dung triết học - thần học của bản thân hình ảnh Chúa Giêsu, cụ thể là luận điểm về Chúa Giêsu như Thần ngôn (Logos).

. Logos là một khải niệm phổ biến-của triết học cố đại, nó biểu thị tính có quy luật của thế giới. Logos của người Hy Lạp cổ tượng trưng cho tính có trật tự của Vũ trụ nhằm phân biệt với tính không có trật tự của trạng thái hỗn mang tổn tại :

trước đó. Chính khái niệm “Logos” đã được sử dụng trong

Phúc âm để nêu đặc trưng của Chúa Giêsu:"`Đầu tiên là Lời (Logos), và Lời có ở Chúa, và Lời là Chúa... Tất cả đều bắt đầu tồn tại thông qua Loi”.

198 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

Việc lý giải Chúa Giêsu với tư cách Logos, cũng như hàng loạt tư tưởng khác của Kinh thánh đã làm bộc lộ cấu trúc nhiều giai tầng trong nghĩa của Kinh thánh: ngoài nghĩa đen thì còn có những nghĩa sâu xa hơn, đỏi hỏi phái được chú giải chuyên sâu. Không nên hiểu điều này là dường như trong văn bản Kinh thánh còn có một cái gì đó giống như các thủ thuật phóng dụ được sử dụng trong nghệ thuật. Kinh thánh hoàn toàn không phải là một sự hư cấu mà chỉ hàm ý chỉ một:

điều gì đó. Nhân đây các Cha đạo đã xây dựng phương pháp chủ giải (exégétique) để nghiên cứu Kinh thánh. Phương pháp này có nhiệm vụ tách biệt hai nghĩa cơ bản của Kinh thánh - nghĩa đen và nghĩa tâm linh. Thừa nhận tâm quan trọng của nghĩa đen, họ chủ yếu tập trung vào nghĩa tâm linh, xác lập mối quan hệ giữa hai nghĩa này. Qua đó họ đã góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa thân học, đạo đức và triết học

của Kinh thánh. Cụ thể là họ đã vạch ra và làm sáng tỏ quan

niệm về Chúa như là sự thống nhất của ba Ngôi Chúa.

2.1. Đề tài ba Ngôi

Các cuộc tranh luận về nghĩa của quan điểm ba Ngôi Chúa và mối tương quan giữa ba Ngôi đã bùng lên do có quan niệm về Chúa Giêsu được trực tiếp nói tới trong Phúc âm và chúng ta cũng đã nói tới - Chúa như là Logos. Người đầu tiên.đã quan tam toi dé tai Chua - Logos la một trong những bậc tiền bối trực tiếp của chú giải học - Phylon - Alecxandrisky, một người gốc Do Thái, sống ở giữa thế kỷ I-SCN. Phylon phân biệt Logos với Chúa, do vậy ông nói về Logos như Ngôi thứ hai của Chúa; ông coi Chúa Giêsu - Logos là người đứng giữa Đức Chúa Cha và thể giới. Người môi giới không những là khâu trung gian giữa Chúa và thể gian (tức giữa cái vĩnh hằng và cái nhất thời) mà bản thân người môi giới còn không phải là cái không được sáng tạo ra giống như Chúa, nhưng cũng không phải là cái thể tục

ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 199

giống như thế giới. Logos ở Phylon biểu thị những giá trị tinh thần của Kinh thánh. Logos là Sự sáng lang (thông thải) và Lời (tức bản nguyên mang tỉnh chẩn chỉnh), - cái hợp nhất thế giới. Logos là cơ sở đạo đức của thế giới. Đây là tính vốn có nội tại của nó đối với thế giới. Nhưng, nó cũng mang tính siêu việt - đứng trên thế giới, nằm ngoài thế giới.

Nó là Lời mang tính sáng tạo, tạo dựng, là Lời Chúa.

Các tư tưởng của Phylon đã thu hút được sự quan tâm của các nhà chú giải học đến vấn đề mối tương quan giữa Chúa Giêsu - Logos với các Ngôi khác trong ba Ngôi, trước hết là với Đức Chúa Cha. Tuy nhiên, tư tưởng của ông về Logos như về người trung gian giữa cái không được sáng tạo ra và

cái thế tục đã không thể được thừa nhận vi nó bao hàm trong mình yếu tố hạ thấp Ngôi thứ hai, tách rời Đức Chúa Cha với Đức Chúa Con. Người ta đòi hỏi phải tìm ra một cách thức trình bày biểu thị đúng quan hệ giữa Ngôi thứ nhất và Ngôi

thứ hai. Các cuộc tranh luận kéo dài đã diễn ra trước khi

cách trình bày ấy xuất hiện, nhiều phương án giải quyết đã được đưa ra. Chỉ đến Công đồng Nikei (325) thì cách trình bày cần tìm mới được tìm thấy và được ghi nhận trong Biểu tượng đức tin Nikei. Trước đó các cuộc tranh luận đã diễn ra, xung quanh phương án do linh mục Ari đưa ra. | Ari đã xuất phát từ khái niệm về Chúa như về một thể thống nhất hoàn hảo, tự khép kín ở bản thân mình (đương nhiên, sự không hoàn hảo là mức độ phân tán, không khép kín lớn nhất). Tính tự khép kín này của Chúa, hay đơn tử - - Chúa, theo Ari, là Đức Chúa Cha. Tất cả những cái khác đều -=là.xa lạ với Chúa xét về bản chất, có bản chất khác, riêng của mình. Tính hoàn tất của tồn tại Chúa loại trừ bất kỳ khả năng nào để Chúa dành bản chất của mình cho một ai đó. Do vậy Ngôi Lời (Logos), hay Đức Chúa Con, là hoàn toàn xa lạ và không tương thích với Đức Chúa Cha. Như vậy, Đức Chúa.

200 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY - -

Một phần của tài liệu Đại cương lịch sử triết học phương tây (Trang 196 - 200)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(720 trang)