46 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TAY

Một phần của tài liệu Đại cương lịch sử triết học phương tây (Trang 45 - 49)

học đòi hỏi kỹ năng hoài nghi, mặc dù cũng không thể thiếu niềm tin. Nhưng dẫu sao, khi nhận thức, chúng ta không thể đặt hy vọng vào niềm tin. Tính thuyết phục lôgíc và có luận chứng ở đây quan trọng hơn nhiều. Nhưng, nếu ý nghĩa nhận thức của niềm tin là không đáng kể thì ÿ' nghĩa cuộc sống của nó lại là rất lớn.

Bản thân quả trình sinh tồn của con người không thể thiếu niềm tin. Trên thực tế, để sống, chúng ta cần phải tin vào VIỆC chúng ta có một sử mệnh ít nhiều quan trọng nào đó trên trần gian này. Chúng ta tin (không có những chứng minh chặt chẽ cho điều này) rằng cuộc sống của chúng ta không chấm dứt ở khoảnh khác tiếp theo. Không có niềm tin thì không thể thực hiện được một công việc nào cả vì khi bắt tay vào một công việc nào đó, chúng ta cần phải có niềm tin dù nhỏ nhất vào thắng lợi của nó. Để sống, chúng ta cần phải có niềm tin vào sức mạnh của ban than minh. Chúng ta tin tưởng vào các giác quan của chúng ta và có niềm tin rằng trong đa số trường hợp, chúng đem lại cho chúng ta thông tin đáng tin cậy vẻ thế giới bên ngoài. Cuối cùng, chúng ta có niềm tin vào lý tính của chúng ta, vào năng lực tư duy của chúng ta trong việc phát hiện ra giải pháp có thể chấp, nhận được cho những vấn để phức tạp. Thêm vào đó, trong ' cuộc sống còn có vô số trường hợp mà kết cục chúng ta không thể tính toán trước một cách chính xác tuyệt đối. Trong những tỉnh huống như vậy, niềm tin nâng đỡ chúng ta. Sự thiếu vắng niềm tin sẽ dẫn tới tình trạng thờ ơ và buồn rầu, rồi có thể chuyển thành trạng thái thất vọng. Sự thiếu vắng niềm tin sinh ra thái độ hoài nghi và vô liêm sỉ.

Triết học bằng cách này hay cách khác đều thừa nhận vai trò của niềm tin theo nghĩa rộng. Chẳng hạn, nhà triết học người Đức, K. Giaxpe đã luận chứng khái niệm “niềm tin triết học”. Cũng có thể thấy các khái niệm tương tự ở các nhà triết học khác.

ĐẠI GƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 47

Niềm tin triết học không phải là cái đối lập với niềm tin

tôn giáo. Một mặt, bất kỳ tín đồ nào cũng có thể thừa nhận nó không phụ thuộc vào thành phần tôn giáo, mà vẫn không khước từ những chính kiến tôn giáo của mình. Mặt khác, nó là chấp nhận được đối với cả những người thở ơ về mặt tôn giáo hay không tự quyết được trong các vấn đề tôn giáo.

Niềm tin tôn giáo đứng đối lập với các điều mê tín đị đoan.

Mê tín dị đoan là niềm tin không có suy ngắm vào những đối tượng và những lời tiên tri tủy tiện. Mê tín dị đoan là niềm tin mù quáng. Đây thậm chí không hoàn toàn là niềm tin vì mê tín dị đoan không có đủ tính tinh táo và nghiêm túc vốn là đặc trưng của niềm tin đích thục. Niềm tin triết học cũng bác bỏ sự sửug bái các ngẫu tượng. Sự sùng bái như vậy sẽ đặt lên ngai vàng cao vô tận một cá nhân hay một nhóm cá nhân nào đó. gản cho họ phẩm chất không mắc sai lầm. Sự sùng bái các ngẫu tượng thưởng kéo theo thai độ thất vọng nặng nề vi dan dan con người sẽ phát hiện ra rang khách thể sùng bái, ngoài những ưu điểm, còn có cả nhiều khiếm khuyết. đôi khi là những tật xấu. Cuối củng, niềm tin triết học bác bỏ bứi vớt giáo. Bái vật giáo la su sung bai các vật,

“Hải vật giáo gán ép một cách phi ly ý nghĩa tuyệt đối cho cái mà, xét vệ thực chất, là cái nhất thời. có điều kiện. không vĩnh cửu.

Niérp tin triết học đòi hỏi phải thừa nhận cái có ý nghĩa tuyệt đới. Nó định hướng con người vào những giả trị vĩnh hang. Day là niềm tin vào cai than thánh, thiêng liêng. có ý nghĩa bất biến. Niềm tin triết học biểu thị niềm tin vào chân

lý, vào cái thiện và cái đẹp mà, mặc dù khó đạt được, nhưng

vẫn tồn tại và xứng đáng để con người hướng tới chúng.

Niềm tin triết bọc nói rằng. ngoài những cái thể tục, hư vô và nhất thỏi mà chúng ta không thể bỏ qua vì chúng ta cần phải đáp ứng những nhu cầu trực tiếp, còn có những cái tối

48 ĐAI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY

cao, phục vụ cho việc đáp ứng những nhu câu tinh thân. Khi hướng vào cái tối cao, niềm tin triết học cho phép định hướng tốt hơn trong thế giới thể tục, né tránh những cám dé va cam bẫy của nó. Niễm tin nay cho phép thiết lập sự giao tiếp day đủ giá trị với những người khác. Do vậy, theo Giaxpe, cũng có thể gọi niềm tin triết học là niềm tin vào sự giao tiếp. Vi ở đây hai luận điểm có hiệu lực là: chân lý là cái hợp nhất trong chúng ta và giao tiếp bao chứa các cội nguồn của chân lý. Con người phát hiện ra người khác như một hiện thực duy nhất mà nó có thể hợp nhất trong sự hiểu biết và tin tưởng. Trên mọi cấp độ hợp nhất của con người, những người có củng số phận sẽ tìm thấy con đường dẫn tới chân lý, con đường sẽ bị đánh mất trong tỉnh trạng cô lập, cố chấp và độc.

đoán, trong sự cô đon khép km.

Điều rất quan trọng đối với sự thịnh vượng và phát triển của thể giới hiện đại là cần phải tim ra con đường tổ chức sự đối thoại có đây đủ giá trị giữa những người hữu thân và những người vô thần, giữa những người thuộc các tôn giáo khác nhau. Triết học có một vai trỏ quan trọng trong việc giải quyết vấn đề này. Tất nhiên, Triết học tạo thân không thể góp phần xác lập được sự đối thoại như vậy. Nó chỉ làm ,

mọi người đối đầu với nhau, gieo rắc lòng hẳn thù và sự chía re. Nhung tỉnh thần tôn giáo hiếu chiến cũng không góp phần giải quyết vấn đẻ này.

Loài người đã vấp phải những biểu hiện của tinh thần tôn giáo hiểu chiến trong suốt một thời gian lịch sử dài và hiện nay vẫn tiếp tục vấp phải. Đặc trưng cửa nó là sự cưỡng chế niềm tin, là thái độ không khoan dung đổi với các tôn giáo khác, đối với quyền con người độc lập giải quyết vấn đề về niềm tin tôn giáo. Triết học tạo thần và tính thần tồn giáo hiếu chiến là những mối nguy hiểm lón. Chúng không phải đã bị loại trừ hoàn toàn trong xã hội hiện đại, mà ngày càng lộ rõ tham vọng của mình.

ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY 49

8. Cau tric tila tri thifc triét hoc

Tri thức triết học có một cấu trúc nhất định. Điều này có nghĩa các bộ phận riêng biệt, trước hết được nhóm theo hệ đề tài, sẽ được tách biệt ở bên trong triết học. Cùng với sự phát triển của triết học thì một cấu trúc tương đối ổn định

của nó cũng đã hình thành, có thể gọi đó là cấu trúc truyền

thống hay cổ điển. Nó được xem là khuôn mẫu ít nhiều bắt buộc đối với bất kỳ quan điểm triết học toàn vẹn nào.

Cấu trúc của các học thuyết triết học không phải là bất biến trong sự tồn tại hiện thực của triết học. Nó biến đổi tùy thuộc vào nhiều nhân tố: tính chất của thời đại lịch sử, các đặc điểm văn hóa của một xã hội nhất định, quan niệm về mục đích và các nhiệm vụ của triết học, v.v.. Những thiên vị riêng tư của nhà triết học đóng một vai trò không nhỏ, ông ta có quyền quan tâm đặc biệt đến một số bộ phận của triết học và coi nhẹ các bộ phận khác.

Theo chúng tôi, cần phải xem xét cấu trúc của tri thức triết học trước hết từ góc độ các quan niệm truyền thống hay cổ điển. Các quan niệm như vậy định trước tiêu chuẩn về việc triết học cần có cấu trúc như thế nào mới phải. Theo quan điểm này thì các bộ phận cơ bản của tri thức triết học là::

- Bản thể luận triết học, hay học thuyết về tồn tại;

- Nhận thức luận, hay học thuyết triết học về nhận thúc;

- Nhân học triết học, hay học thuyết triết học vé con người;

-- Triết học xã hội;

- Triết học lịch SỬ; ằ

- Đạo đức học, hay triết thuyết về đạo đức và về luân lý, về cái thiện và cái ác;

- Tham my hoc, hay hoc thuyét về cái đẹp và cái xấu, về mục đích và ý nghĩa của nghệ thuật;

- Lịch sử triết học. -

Một phần của tài liệu Đại cương lịch sử triết học phương tây (Trang 45 - 49)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(720 trang)