TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
1. Thửi cổ fại nhí mật thừi ại văn hoa
I.1. Các điểm đặc trưng của thời cơ đại
Có thể khẳng định rằng, mỗi thời đại sau này đều xây dựng một quan niệm, một hình ảnh của riêng mình về thời, cổ đại. Theo quan điểm của Thiên Chúa giáo đã thắng thế,
văn hóa cổ đại khởi đầu được lĩnh hội như là văn hóa đa thân giáo. Song, những người theo chủ nghĩa nhân đạo Phục hưng lại phát hiện ra các con đường mới để sáp nhập di sản văn hóa cổ đại vào văn hóa trung cổ. “Nối tiếp Petrarka là vô số nhà văn, nhà tư tưởng, họa sỹ, nhà chức trách muốn thay loại hình văn hóa không làm họ thỏa mãn bằng một
loại hình văn hóa mới, phong cách - bằng phong cách mới”),
⁄
® B, Ratxen. Lịch sử triết học phương Tây. M, 1993, t1, tr. 42.
E. Haren. Vấn dé Phục hưng Italia. M., 1986, tr. 37.
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY. 69
Trong tác phẩm của mình, các nhà hoạt động Phục hưng lần
đầu tiên đã thử nghiệm xây dựng một quan điểm toàn vẹn về thời cổ đại. Những thử nghiệm tương tự đã được tiếp tục thực hiện từ thế kỷ XVIII đến thế ky XIX. Chung gan lién với tên tuổi của I. Vinkenman, Ph. Sinlo, Ph. Seling, H.
Hêghen, Ph. Nitsê, O. Spengole.
Nhà triết học và là chuyên gia nổi tiếng về văn hóa cổ đại, A. Lôsép đã khải quát tài liệu tích lũy được như sau:
“Như vậy, quan niệm của chúng ta về thời cổ đại:
1. Can phải coi cơ sở của nó là trực giác về thể xác con người như đặc trưng quan trọng của tồn tại nói chung (Spengole)
2. Nó ghi nhận tính hoàn hảo của thể xác tuyệt mỹ và tao nhã (Vinkenman)
3. Nó chống lại một cách dữ dội mọi sự tìm kiếm cái vô
hạn và bí ấn (Sinlo)
4. Nó đi vào sự sinh thành và khoái cảm tột độ cùng với tính vô hạn và bí ẩn của minh
5. Được giải phóng khỏi khát vọng thuần túy tỉnh thần va khỏi sự khắc phục tính xác thịt theo lối khắc kỷ, đây là thể xác thần bí và đồng thời trần tục (Phục hưng) -
6. Nó mang lại một cấu trúc hình tròn và được ý thức rõ ràng của tồn tại (Khai sáng)
7. Nó không phải cái gì khác như là sự tổng hợp cái vô hạn và cái hữu hạn, cái lý tưởng và cái thực tai (Seling va Hêghen)”6).
Phù hợp với quan điểm chung của mình, Lôsép nhấn mạnh xu hướng tượng trưng của thể giới quan cổ đại. Tuy nhiên,
°'A. Lôsep. Lược khảo về xu hướng tượng trưng và thần thoại cổ đại. M., 1993. tr. 67.
70 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY.
việc xử lý toàn diện và sâu sắc tài liệu rất phong phú về thời cổ đại đã cho phép ông phát hiện ra những bình diện đa dạng nhất trong nó. Dầu sao thì sau khi công bố các tác phẩm của Lôsép, quan niệm đơn giản hóa về văn hóa và triết học cổ đại cũng không còn nữa.
Khi lĩnh hội thể giới một cách linh động và phù hợp với trực giác về cơ thể con người, người Hy Lạp cổ quan niệm vũ trụ như là một cơ thể sống, vĩnh viễn trẻ. Vũ trụ sống, thở, chơi đùa với những sắc màu đa dạng của mình. Không gian và thời gian trong nó mở rộng ra và co hẹp lại, chúng không thuần nhất và có mật độ khác nhau. Do đó, vũ trụ thể hiện là một bức tranh, có trật tự. Được lấp đây bởi một trong bốn nguyên tố (nước, lửa, không khí, đất), các vùng cụ thể của vũ trụ thực chất là các mức độ cô đặc không gian khác nhau.
Đồng thời trong vũ trụ cũng có “thiện cảm phổ biến”, lực hấp dẫn lẫn nhau không mang tính cưỡng chế. Vũ trụ như vậy là nguồn gốc của thái độ kinh ngạc sung sướng và thái độ khâm phục, tạo ra thể giới quan mang sắc thái thẩm mỹ.
Tồn tại đối với người Hy Lạp là một ngôi đền chứa đây rẫy . những bức tượng phát ra ánh sáng của thần linh. Như vậy, thế giới trong trực giác của người Hy Lạp khác căn bản sơ với hành ảnh thế giới của khoa học cổ điển căn cứ trên cơ học Niutơn, theo đó thế giới thể hiện ra là một không gian vũ trụ thuần nhất, đen tối, trong đó những hành tinh, những vi sao và những nguyên tử phân tán hỗn loạn.
Không phải con người man rợ, mà con người có giáo dục,
“văn minh”, tức người Hy Lạp, là con người thẩm mỹ, là một cái tương đồng với tác phẩm nghệ thuật, pho tượng, v.v..
“Nhưng pho tượng là gì? Đây là cơ thể nhưng cũng không đơn giản là cơ thể. Đây là tinh thần... đây là thể xác ở mức độ cần thiết để thực hiện tỉnh thần và đây là tinh thần ở mức
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY. 71
độ bao chứa bản nguyên tinh than trong cơ thể”), Giáo duc thấm mỹ ở Hy Lạp cổ đại tuyệt đối không tách rời giáo dục thể chất, đạo đức, trí tuệ. Nó là việc xử lý vật liệu, đem lại cho vật liệu hình thức kiểu diễm cho phù hợp với vật chất.
Tài nghệ, kỹ năng được đánh giá cao nhất là sự thông thái.
Hôme công khai nói về sự thông thái của người thợ mộc hay của người thợ rèn. Người thông thái là họa sỹ, là tướng lĩnh, là bác sỹ, là người xà ích, thậm chí là chiến binh, - tất cả những ai đạt tới sự hoàn hảo trong công việc của minh. Sự
thông thái là kỹ năng tạo ra vật thể hài hoà và đẹp, là kỹ năng hiểu được cấu trúc của nó. Nhưng điểm đặc trưng nhất là ở chỗ sự thông thái như vậy không bị đem đối lập với nghệ thuật phát ngôn. Ngược lại, nghệ thuật phát ngôn là một trong các nghệ thuật, đứng cùng một dãy với kiến trúc, hội hoạ, nghề mộc. Nghệ thuật phát ngôn không tự nhiên có được: cần phải học nó. Do tính có hình anh uyén chuyển của văn hóa, nghệ thuật phát ngôn được coi như là kỹ năng nhào nặn, trình bày thế giới một cách hài hòa. Ngôn ngữ là cơ quan để hình thành tư tưởng va bản thân đối tượng của tư
duy. Ngôn ngữ là cơ quan của sự tự ý thức đại chúng. |
Nếu tính đến nghĩa của khái niệm “sự thông thái” thì chúng ta cũng hiểu được khái niệm “triết học” - theo nghĩa
den là “tình yêu sự thông thái”. Đây là tình yêu tài nghệ, là khát vọng hình thành và chấn chỉnh thế giới, nhận thức cấu tạo của nó thông qua ý thức và phân tích ngôn ngữ. Với tư cách là sự hướng tới vẻ đẹp của các hình thức ngôn ngữ và của lời nói, thì ở đây sự thông thái không thể loại bỏ được yếu tố ngôn ngữ. Nghệ thuật ngôn ngữ là nghệ thuật bố cục,
đạt tới tính cân đối trong việc xây dựng văn bản, các nội
Sdd.,tr.88
72 BAI CUONG LICH SU TRIET HOC PHUONG TAY
dung của nó, tính không gượng ép của luận cứ. Xét đến cùng, đây là việc đem lại cho văn bản đặc điểm cải biến thể giới, hiện thực một cách có thẩm mỹ. Do vậy, nó là nhận thức rõ ràng rằng tính không cân đối, sự không có khả năng phát ngôn là nhân tố làm nghèo nàn thể giới, làm mất tính hài hòa của nó, là nhân tố đe dọa sự tồn tại của nó. Con người can’
phải học được cách né tránh việc cố ý hay vô tình đóng vai
trò mâu thuần với bản chất uyễn chuyển của vũ trụ. Chính vì vậy mà triết học Hy Lạp cổ đại đồng thời cũng là ngôn ngữ học hay, nói chính xác hơn, là một trong các thành tố của văn hóa ngôn ngữ. Ý nghĩa quan trọng mà phạm trù “độ ”
có trong thế giới quan Hy Lạp cổ cũng gan lién voi diéu do.
B. Ratsen viết “Người Hy Lạp không có thiên hướng ôn hòa cả trong lý luận lẫn trong thực tiễn”) khi ông luận chiến chống lại ý kiến phổ biến cho rằng khái niệm “độ chán thực”
biểu thị “không nhiều” và cũng “không ít” hơn, là cái tạo ra tinh thần đặc thù Hy Lạp. Những người ủng hộ ý kiến này cho rằng sự thiếu vắng ở người Hy Lạp thiên hướng mô tả cái kỳ quải và cái biến dạng thường bắt gặp trong hình tượng nghệ thuật của các dân tộc man rợ, là một thực tế đặc biệt, nó chủ yếu quy định đặc thủ của thời cổ đại. Độ được quan tâm rất nhiều. Trên thực tế, có thể gặp những câu cách ngôn nhấn mạnh giá trị của độ ở khắp toàn bộ văn hóa Hy Lạp:
“Hãy đừng tức giận quá mức: tốt hơn là hãy bình tĩnh; hãy binh tĩnh, bạn sẽ có đức hạnh”; “Không cái gi quá mức”;
“Độ là điều tốt nhất”, v.v.. Học thuyết Aristốt kết thúc tư tưởng về độ. S. Avenrinsep gọi học thuyết này là “triết học trung dung”, học thuyết quan tâm tới việc lựa chọn cái thiện đáng tin cậy nhất và cái ác nhỏ nhất. Aristốt đặc biệt
` B, Ralsen. Sđd., tr.67.
?› Xem: Thiên Chúa giáo và văn hóa ở châu Âu. M., 1992. tr.18.
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY. 73
quan tâm tới “độ” trong học thuyết đạo đức học của ông, trong đó đức hạnh là một loại tính ôn hòa, là cái kiểm chế con người tránh khỏi sai lắm mà dụng vọng đưa đến.
Nhưng ôn hoà không phải là tính tâm thường, mà là giá trị chứng tỏ sức mạnh của ]ÿ tính. Những xung lượng, những dục vọng, những cảm xúc luôn hướng tới sự thái quá, luôn
quá độ và do vậy luôn nguy hiểm. Lý tính cần phải vô hiệu hóa, hạn chế những khát vọng tự phát. Tuy nhiên, chúng ta cũng bắt gặp nhiệm vụ như vậy ở Platôn trong câu truyện
thần thoại về cỗ xe có cánh. Người xà ích điều khiển cỗ xe
thực ra là tượng trưng cho lý tính. Anh ta làm công việc kim chế bước nhảy ngang bướng của con ngựa tượng trưng cho các bệ phận dục vọng và tức giận của tâm hồn. Để tâm hồn hướng lên cái cao thượng, lên thế giới lý tưởng, cần phải học được cách điều khiển các dục vọng, vì “con ngựa bình dân” - bản tính thứ hai của chúng ta - luôn có thiên hướng kéo xuống phía dưới. Platôn không đặt ra mục đích giành chiến thắng tuyệt đối trước dục vọng. Cũng giống như Aristốt, ông coi điều đó là không thể. Nhưng biết cách kim hãm dục vọng trong một khuôn khổ là điều bắt buộc đối với
người có đức hạnh. :
Đương nhiên, người Hy Lạp không phải bao giờ cũng ôn hoà trong cuộc sống cũng như trong sáng tạo. Nhưng, họ _ thức được độ như một giá trị. Họ coi ý thức như vậy là sự
khác biệt cơ bản của thời văn minh so với thời man rợ. Họ đã đặt cơ sở cho khái niệm về văn minh sau khi phân biệt người cố gắng điều tiết dục vọng với người không biết độ, hệt như họ đã đề cao nghệ thuật của nghệ nhân. Thiếu nhận thức về ý nghĩa của sự sáng tạo và tài nghệ thì lao động tạo ra phương.
tiện sinh hơạt cần thiết sẽ bị đánh giá không cao hơn gì sự ăn cướp. VÌ sự ăn cướp cũng giải quyết tốt vấn đề đáp ứng
nhu cầu. .
74 ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
Hy Lạp cổ đại đã đem lại một mỏ hình văn mình nói chung, vấn mình nhự là văn minh. Tuy nhiên, mô hình đó là phức tạp và rất mâu thuẫn. Nhưng, nó vẫn sẽ mãi mãi là một mô hình hấp dẫn, đặc biệt là những khi nền văn minh ở đâu đó bi de doa hay đang tìm kiếm xung lượng mới để có được hơi thở khỏe mạnh. Mô hình Hy Lạp là mô hình tĩnh, nó hướng vào việc tự vệ chứ không phải vào sự tự phát triển. Điều này thể hiện tính chất bi đát của số phận thời cổ đại, vì nó thực không có khả năng sống sót trong điều kiện biến đổi, chính điều này định trước sự tiêu vong của nó. Nhưng, chat “tinh”
cho phép nó trở thành mô hình đáng được nghiên cứu ti mi.
Điều quan trọng nhất là ở chỗ do chất ấy nền có thể đưa nó vào thành phần của bất kỳ nên văn mình nào. Thực ra, khi đó cần giải quyết vấn đề phức tạp về con đường và phương thức đưa vào như vậy, tức vấn đề đưng hợp với cái sẽ chứa nó. Sự phát triển sau đó của nền văn minh dựa trên các giá trị Thiên Chúa giáo, đã chứng tỏ có các phương án khác nhau trong việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, với mọi phương án (nếu không hoàn toàn từ bỏ quá khử), người ta đều thừa nhận giá trị của phương diện trí tuệ - kỹ thuật trong tư duy Hy Lạp. Thời cổ đại có được thành tựu về kỹ thuật, cao nhất của tư duy là chủ yêu nhờ sự nghiệp sáng tạo của Platôn và Aristốt dựa trên những thành tựu trước đó của tư duy Hy Lạp. Tổng thể những thành tựu này tạo thành hiện tượng được gọi là triết học Hy Lạp cổ đại.
“Triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng và củng cố những thủ thuật tư duy phổ biến, không bị hạn chế ở một cái gì đó bên ngoài, trước hết là ở niềm tin và kinh nghiệm cảm tính.
Cách tiếp cận triết học là cách tiếp cận tất cả mọi thứ từ góc độ tính có lôgíc vô hình của suy luận. Đây là sự phân tích và tổng hợp bằng tư duy, dần dần vạch ra nguyên nhân của các sự vật vốn thường không nhận thức được đối với các giác
ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌG PHƯƠNG TÂY. 75
quan. Đồng thời đây cũng là lý luận được xây dựng không phải vì các nhu cầu thực tiễn hay các nhu cầu khác, mà hoàn toàn vì việc tim tòi chân lý, không phải theo nghĩa là câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi “sống như thế nào?” mà trước hết là câu trả lời cho câu hỏi cái gì có thể tổn tại và, như thé nao, theo các quy luật nào. Đây chính là công việc liên tục và kiên trì của tư duy đối với nghĩa của các từ và là công việc
của ngôn ngữ đang cố gắng biểu thị tư tưởng một cách không mâu thuẫn và rõ ràng.
Như vậy, triết học Hy Lạp đã bát đầu từ luận điểm không mạch lạc cho rằng dường như nước là bản nguyên của vạn vật, luận điểm thuộc về Talét ở Milê. Tuy nhiên, Ph. Nitsê đã có nhận xét xác đáng: “Câu nói “vạn vật là nước” của Talét đã nâng con người lên cao hơn sự sờ mó và bò trườn giống như con giun đặc trưng cho các khoa học cụ thể, ông đã cảm nhận thấy trước bí ẩn tối hậu của vạn vật và nhờ sự cảm thấy trước này mà đã chiến thắng sự mơ hồ quen thuộc của các thang bậc nhận thức thấp hơn”0), Trên thực tế, sau khi nói
“mọi thứ sinh ra tử nước”, Talét muốn nói một điều quan trọng hơn, mà chính là thể giới có tính chỉnh thể, sự thống nhất. Đồng thời ông cũng biếu thị niém tin rằng những dữ liệu kinh nghiệm cảm tính, tức những gì chúng ta nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, v.v., - đó không phải là tất cả, do vậy, chúng ta có quyền đưa ra giả thuyết tưởng tượng ra. Giả thuyết này không suy ra trực tiếp từ những sự kiện quan sát nhưng cũng không được mâu thuẫn với chúng; nó có nhiệm
vụ hợp nhất và khái quát chúng. Bằng chứng về tính chân thực của nó có thể là tính không mâu thuẫn về mặt lôgíc của nó, là khả năng nó cho phép giải thích, tiên đoán, phát hiện
“' Ph. Nitsê. Triết học ở thời đại bi đát của Hy Lap. M., 1994, tr. 203.
76 ĐẠI CƯƠNG LỊ0H SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
ra một cái gì đó. Về thực chất, những nhà triết học cổ đại khác và nối tiếp họ là triết học sau đó đã đi theo con đường mà Talét phát hiện ra.
Tuy nhiên, “tỉnh yêu sự thông thái” không bao giờ lại chỉ bó hẹp ở việc tìm kiếm bán nguyên đầu tiên. Nó là một tư tưởng uyên bác và sâu sắc, không phụ thuộc vào đối tượng suy ngẫm. Talét nổi tiếng với những câu châm ngôn về các đề tài khác nhau. Ông nói rằng không có ranh giới giữa cái chết và sự sống. “Tại sao ngài không chết?”, - người ta hỏi ông. Ông trả lời: “Chính bởi vì...”. Trả lời cho câu hỏi: “Ngày hay đêm có trước?”, ông đáp: “Đêm có trước một ngày”. Có ai đó hỏi ông: “Có thể che dấu các thần linh công việc xấu xa không?”, ông trả lời: “Thậm chí suy nghĩ xấu xa cũng không thể”. Một kẻ bạc tình nói với ông: “Lẽ nào tôi hứa là không sống dâm đãng?”. Talét đáp lại: “Sự bạc tình không tốt hơn là lời hứa phạm tội”. Người ta hỏi ông cái gì khó khăn trên trần gian? Ông đáp: “Nhận thức bản thân mình”;
Cái gì để dàng? - “Khuyên người khác”; Cái gì dễ chịu nhất? - “Thành công”; Cái gì là thần thánh? - “Cái không
có sự bắt đầu và sự kết thúc”; Ông nhìn thấy cái chưa từng
có nào? - “Tên bạo chúa ở tuổi già”; Khi nào trải qua bất hạnh tốt nhất? - “Khi thấy kẻ thu cia minh con dau khé hơn”; Cuộc sống nào tốt nhất? - “Khi bản thân chúng ta không làm ra điều mà chúng ta lên án ở người khác”; Ai hạnh phúc? - “Người có cơ thể khoẻ mạnh, tâm hồn nhạy cảm và dễ giáo dục”.
l.2. Thời cổ đại dưới ánh sáng lịch sử
Quá trình đưa thời cổ đại vào một nền văn hóa làm xuất hiện những khả năng mới. Nhưng, nó cũng dẫn tới những - mối nguy hiểm và những cám dỗ. Vật hy sinh cho những sự quyến rũ như vậy là Ph. Nitsê. Dẫu sao thi sự hiểu biết toàn
ĐẠI GƯƠNG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY. 77 -