Chương 1: CON ĐƯỜNG SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN NGỌC
1.2. Sáng tác c ủa Nguyên Ngọc và dấu ấn thời đại
1.2.2. Khuynh hướng sử thi, điểm nểi bật nhất quán trong sáng tác của Nguyên
1.2.2.1. Văn học 1945 - 1975 là nền văn học "xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay"
(Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng lần thứ tư). Trong hoàn cảnh cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại suốt 30 năm, văn học đã phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân và chịu sự chi phối rất lớn của điều kiện lịch sử. Đảng có một vai trò chủ đạo; vừa lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng, vừa lãnh đạo phong trào văn hóa văn nghệ của dân tộc. Cho nên văn học thời kỳ này chịu sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất trên một lập trường nhất định, một hệ tư tưởng nhất định. Vốn rất coi trọng và đề cao sức mạnh của văn nghệ, Đảng đã đề ra đường lối văn nghệ lúc này là hướng tới đại chúng, phục vụ đại chúng, phục vụ nhiệm vụ chính tri. Với yêu cầu này, nền văn học thời kỳ 1945 - 1975 đã phản ánh một cách chân thực và hùng hồn cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ nhưng rất hào hùng của dân tộc ta. Chưa bao giờ nền văn học của chúng ta lại có một niềm hào hứng đi sâu vào mọi mặt của đời sống để khám phá ra những vẻ đẹp kỳ tích anh hùng đang nảy nở hàng ngày, hàng giờ đến như vậy.
Chưa bao giờ nhiệm vụ cách mạng giao cho nhà văn lại có ý nghiã cao cả và thiêng liêng đến như vậy. Các nhà văn hầu như đều thấm nhuần vai trò trách nhiệm của mình đối với yêu cầu lịch sử, của thời đại. Họ phải trở thành người "viết sử" cho lớp lớp các thế hệ anh hùng, cho hiện tại và cho cả mai sau để cổ động tinh thần chiến đấu của nhân dân ta. Bằng giọng văn ca ngợi, các nhà văn đã phản ánh được thực tế cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc, nêu cao phẩm chất cao đẹp, khí phách lẫm liệt vô song của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hầu hết họ đều hướng ngòi bút của mình vào những nội dung mang tính sử thi. Nguyên Ngọc là một trong những tác giả tiêu biểu
cho phong cách văn chương thời kỳ này; đó là sự kết hợp hài hòa giữa tính chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.
1.2.2.2. Khái niệm sử thi cho đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Có khi nó được hiểu là một thể loại văn học xuất hiện từ thời cổ xưa. Theo từ điển Tiếng Việt:
"Sử thi là tác phẩm thuộc loại văn học tự sự, miêu tả sự nghiệp cửa những người anh hùng và các sự kiện anh hùng. Tính chất sự kiện được phát triển toàn diện trong một giai đọan trọn vẹn nhất định của cuộc đời nhân vật, lịch sử xã hội" [85]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: "Sử thi còn được gọi là anh hùng ca, là thể loại văn học tự sự dài (thường là thơ), xuất hiện sớm trong buổi bình minh của lịch sử kháng chiến, là một câu chuyện kể lại có đầu đuôi với qui mô lớn" [25; 193]
Trong các quan niệm vừa nêu trên, khái niệm sử thi được hiểu như một thể loại thuộc phạm trù văn học cổ xưa, tiền tiểu thuyết. Với tư cách là một thể loại, sử thi đã một đi không trở lại nhưng một số đặc tính của nó vẫn được kế thừa trong văn học hiện đại và giới nghiên cứu hiện nay sử dụng khái niệm sử thi với một hàm nghĩa khác.
Trong cuốn "Dần luận nghiên cứu văn học" của nhà nghiên cứu Xô Viết G.N.Pospelốp đã cho rằng: sử thi nằm trong ý nghĩa của thể tài và văn học được chia làm bốn thể tài: Thần thoại, đời tư, thế sự, lịch sử dân tộc. Trong văn học hiện đại, dấu ấn sử thi còn được lưu lại ở thể tài lịch sử dân tộc. Những tác phẩm mang tính sử thi thường được nảy nở và nuôi dưỡng bởi hiện thực hào hùng, giàu vẻ đẹp lý tưởng, mà nội dung của nó là đề cập đến những sự kiện, biến cố lịch sử, mục đích phản ánh của tác phẩm là lịch sử và các vấn đề liên quan đến cộng đồng. Tác phẩm có tính sử thi thường tập trung miêu tả cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng quốc gia, hay quá trình hình thành dân tộc, là sự nhìn nhận con người theo chuẩn mực cao nhất của cộng đồng. Tác phẩm mang tính sử thi còn khẳng định, ca ngợi chiến công của người anh hùng, đại diện ưu tú của cộng đồng. Những phương diện đời tư, đời thường không được chú ý nhắc tới hoặc nếu có cũng chỉ để nhấn mạnh thêm trách nhiệm của con người đối với cộng đồng. Lời văn sử thi thường trang trọng, đẹp một cách tráng lệ và hào hùng, có sức thuyết phục đối với người đọc.
1.2.2.3. Văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng tám đến 1945 là nền văn học mang tính thần sử thi vì nó chủ yếu hướng tới việc phản ánh các biến cố lịch sử liên
quan tới số phận cộng đồng như hai cuộc chiến tranh vệ quốc và các phong trào vận động cách mạng. Nền văn học này là sản phẩm của thời đại, nó tự phân biệt mình với văn học các giai đoạn khác.
Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, độc lập tự do lại phải trả bằng máu xương nhiều như hai cuộc chiến tranh giữ nước vừa qua. Nhưng nó cũng là những năm tháng hào hùng nhất của lịch sử 4000 năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Cả nước cùng hành quân ra trận, mỗi tên đất, tên làng đều in dấu chiến công. Ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đó, văn học chúng ta có những đặc điểm riêng nổi bật nhất là khuynh hướng sử thi. Đường lối văn nghệ của Đảng ta luôn luôn hướng sáng tạo văn học nghệ thuật vào nhiệm vụ phản ánh chân thực và sinh động sự nhiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Chính từ định hướng đó sinh ra nhu cầu tất yếu và ngày một bức thiết phải xây dựng những bức tranh nghệ thuật lớn, tương xứng với tầm vóc của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Sau kháng chiến chống Pháp, Đảng kêu gọi văn học nước ta phản ánh trung thực và giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn phức tạp, những vấn đề lớn đang đặt ra trong xã hội ta ngày nay, những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh của Tổ quốc, của nhân dân. Từ đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ "đẩy mạnh sáng tác văn học nghệ thuật, phấn đấu để sớm có những tác phẩm, có tầm vóc lớn, có trình độ khái quát cao về chiến công và kỳ tích của con người Việt Nam trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc"[36]. Đảng cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng những tác phẩm "nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta"[36] ghi lại những trang sử oanh liệt, bao quát diễn tả lại những giai đoạn lớn của cuộc kháng chiến. Do đó văn học nước ta thời kỳ này cảm hứng sử thi đã trở thành một cảm hứng chủ đạo. Các nhà văn lúc này, bám vào hiện thực, hướng về cái mới mẻ của đời sống để khám phá, phản ánh và ca ngợi vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu cũng như trong lao động của nhân dân ta. Từ đó khắc họa được hình tượng những con người vì sự nghiệp, vì tập thể, những con người xả thân vì nghĩa lớn, biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của cộng đồng lên trên quyền lợi hạnh phúc cá nhân. Nguyên Ngọc là một trong những nhà văn thể hiện thành công nhiệm vụ, yêu cầu của Đảng, của Cách mạng trên lĩnh vực văn học.
Sáng tác của Nguyên Ngọc giai đoạn trước 1975
Nguyên Ngọc là một trong những tác giả ý thức rất rõ vai trò sứ mệnh của nhà văn - người chiến sĩ. Ông đã dùng văn chương của mình làm vũ khí chiến đấu. Với tấm lòng yêu nước thiết tha, ông đã từng lặn lội khắp các chiến trường để chiến đấu và tích lũy tư liệu, thai nghén tác phẩm. Với ông, sáng tác văn học chính là công việc phục vụ nhạy bén nhu cầu kháng chiến. Do đó, ngay từ khi mới bắt đầu sáng tác, ông đã bám sát các vấn đề lớn, nóng bỏng của cách mạng, của sự nghiệp chiến đấu bảo vệ và xây dựng đất nước. Cái hồn trong các trang viết của ông là thuộc về đời sống cách mạng. Những tác phẩm của ông tràn đầy nhiệt huyết, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng tiêu biểu là tác phẩm Đất nước đứng lên.
Tác phẩm Đất nước đứng lên ra đời đã khẳng định một bước tiến quan trọng trong văn xuôi Việt Nam hiện đại trên phương hướng mà đường lối văn nghệ của Đảng vạch ra. Đồng thời, nó cũng góp phần khẳng định vị trí, tên tuổi nhà văn trong lòng bạn đọc. Tác phẩm được Nguyên Ngọc sáng tác và ra mắt bạn đọc sau ngày hòa bình lập lại tháng 12 / 1955 nhưng nó lại được thai nghén từ những năm cuối giai đọan chống Pháp. Vốn là người hoạt động nhiều năm ở chiến trường Tây Nguyên, ông đã từng cùng ăn, cùng ở, cùng tham gia sinh hoạt với đồng bào Tây Nguyên, Nguyên Ngọc rất am hiểu những phong tục tập quán, cũng như đời sống tâm hồn con người Tây Nguyên. Sau khi tập kết ra Bắc và được triệu tập về dự trại viết truyện anh hùng.
Nguyên Ngọc đã chọn viết về người chiến sĩ du kích Tây Nguyên, con người mà ông đã từng thân quen trong những năm hoạt động ở chiến trường Tây Nguyên vừa được tuyên dương anh hùng. Đó là anh hùng Đinh Núp. Trong vòng ba tháng, với một niềm say mê và bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, cùng với sự am hiểu về Tây Nguyên cũng như sự hiểu biết về anh hùng Núp, Nguyên Ngọc đã viết đi viết lại bốn lần. Đến cuối năm 1955 mới hoàn thành, với tên gọi hết sức khái quát Đất nước đứng lên. Là một tác phẩm được trao tặng giải thưởng, giải nhất viết về miền núi cùng với Truyện Tây Bắc của Tô Hoài.
Đất nước đứng lên là bản anh hùng ca bất hủ về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Với tinh thần ý chí quyết chiến, quyết thắng, với lòng yêu chuộng tự do, độc lập, nhân dân Tây Nguyên
dưới sự lãnh đạo của Núp, của Đảng, họ đã đứng lên đánh bại kẻ thù lớn hơn nhiều lần về kinh tế, quân sự.
Bản chất của bọn đế quốc là đi đến đâu, chúng dựa vào thế lực hùng mạnh, về vũ khí tối tân, hiện đại của mình để uy hiếp tinh thần nhân dân. Người dân Tây Nguyên lúc đầu họ rất sợ Pháp vì họ cho rằng: Pháp là "giáng", là "người nhà trời" nó có những cái mà họ không thể có, bắn nó, nó không chảy máu, không chết, "Pháp có xe, có máy bay, có súng lớn, súng nhỏ", "trên trời nó cũng đi được, dưới nước nó cũng đi được... bắn trúng nó, nó không chảy máu (73;26). Do đó mà các làng ở Tây Nguyên đều phải qui phục và đi xâu cho Pháp, dân làng Rông Hoa cũng sợ, chạy lên núi. Chỉ riêng Núp không chạy, anh "đi An Khê coi Pháp và dừng ná bắn thử pháp để xem nó có chảy máu không [73;28] và rồi anh đã chứng minh được: "Té ra nó cũng chảy máu”
[73;28]. Niềm vui của Núp làm được điều tưởng như không thể. Núp đã bày tỏ niềm vui sướng đó với mẹ, với mọi người: "mẹ ạ, lũ làng ạ, tôi bắn chảy máu một thằng Pháp rồi, Pháp không phải ông trời. Pháp cũng đánh được"[13; 31]. Thế là từ đó, làng Kông Hoa quyết tâm đi theo Núp đứng lên chống Pháp "khi trước chưa biết, bây giờ biết rồi, biết Bok Hồ ở Hà Nội chỉ huy hết, biết không phải làng Kông Hoa đánh Pháp một mình, biết làm cán bộ đi nói lũ làng nghe theo rồi... làng Kông Hoa phải đánh Pháp, đánh được Pháp"[73; 44]
Pháp đánh An Khê, chiếm các làng Đê Pô, Đê Mô, Đê Ta, Ba Lang, Kông Mi.
Kông Giang, Kông Ma...tât cả đều qui phục, chịu đi xâu hết, chỉ riêng làng Kông Hoa là không chịu đi, quyết tâm đánh Pháp. Trước sức mạnh hùng hậu với vũ khí hiện đại của kẻ thù, làng Rông Hoa cũng nhiều lần phải dời vào rừng sâu để tìm kế sách chống Pháp lâu dài. Họ nghĩ Pháp sống một cuộc sống sung sướng quen rồi, không chịu được khổ. Cho nên họ sẽ đánh được chúng bằng chiến lược lâu dài. Họ động viên nhau làm nương rẫy để có cái ăn, sáng chế vũ khí: hầm chông, giáo mác, cung tên, bẫy đá để đánh giặc. Trong cuộc chiến đấu không cân sức ấy, thực dân Pháp để hòng khuất phục được ý chí, tinh thần chiến đấu của người dân Tây Nguyên chúng đã cấm không bán muối, tịch thu tất cả các dụng cụ bằng sắt thép như: dao, rìu, rựa, kim may, dồn người dân Kông Hoa vào tình cảnh đói rét, rách rưới. Nhưng Núp cùng với nhân dân Kông Hoa đã tìm mọi cách vượt qua, kiên trì chiến đâu chống Pháp để giành lại độc lập tự
do cho đất nước mình. Thực dân Pháp biết người dân Kông Hoa rất quí muối: "trên rừng cái gì cũng có vị ngọt, đắng cay, chua chát không thiếu, chỉ thiếu chất mặn của muối..." và trong suy nghĩ của họ là: "Trên đời này cái gì cũng để giành được: Trâu, bò, lợn, gà, cây cối, ngay cả con người cũng để giành được, chỉ có muối là không để giành được.."(Nguyên Ngọc). Người Tây Nguyên, họ rất quí muối. Dường như hiểu được tầm quan trọng của muối đối với người dân Tây Nguyên, do đó, Pháp cấm vận chuyển, bán muối cho dân làng Kông Hoa, rồi chúng dùng muối để mua chuộc nhân dân Tây Nguyên. Người dân Kông Hoa rơi vào tình cảnh đói muối "Hàng tháng nay, dân làng Kông Hoa phải ăn tro tranh thay muối", " nước da người nào cũng tái mét, bủng dẹt, má con gái không còn màu đỏ". Trước tình cảnh đó, Núp đã động viên dân làng: "Ăn tro tranh khổ lắm. Tôi cũng biết khổ nhưng ăn tro tranh khổ một đời mình thôi. Còn ăn muối Pháp khổ đời mình, đời con mình khổ nữa, đời cháu mình khổ nữa ..."[73; 54]. Nhận thức được điều đó, Núp cùng với bà con không chịu bó tay:
"Anh Núp thấy người Kông Hoa ăn tro tranh lâu quá, người cứ teo lại. Anh đi mãi trong núi tìm thử có thứ gì ăn khá hơn không (...) sau càng anh tìm được trái lô pang, ăn hơi mặn, chan chát, đỡ hơn tro tranh nhiều ... [73;71].
Người dân Kông Hoa còn phải chịu đựng cái rét buốt thấu xương vì quần áo rách tả tơi. Con gái thương con trai, con trai thương con gái không giám gặp nhau, sợ cái khố, cái váy rách, mắc cỡ lắm. Nhưng không có cây kim, biết lấy gì để vá. Trước kia, cây kim phải xuống tận dưới kinh mới mua được, bây giờ thực dân Pháp đã ngăn cấm không đi được nữa, không tìm đâu ra: "Trời cứ mưa, cứ gió. Cái lạnh ở đâu đến làm tím cả mặt mày. Con nít có khi lạnh quá thở không nổi, phải đốt lửa lên hơ. Núp thấy thương quá"[73;61]. Không bó tay chấp nhận và cuối cùng thì Núp cũng làm được một cây kim giúp đỡ bà con: "Cây kim của Núp chuyền tay tất cả phụ nữ trong làng.
Mấy ngày sau, con gái thương con trai, con trai thương con gái lại đi đào củ mài, bẻ rau chung với nhau, không sợ mắc cỡ nữa. Con nít có áo vá lành để mặc, cái môi tím bây giờ đỏ"[73;62]. Cuộc đấu tranh lâu dài gian khổ, bên cạnh phải chống lại mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù, nhân dân Kông Hoa còn phải chống chọi với nạn đói: "Đói ngày càng tăng. Cả ngày không còn ai trong làng. Ba bốn người, từng tốp đi lang thang trong rừng, tìm củ mài, tìm rau, tìm lá cây ăn. Mấy năm trước, đói còn chịu
được. Năm nay không có muối, rau ăn nuốt cũng không được. Củ mài ở gần đào hết rồi. Rau gần cũng bẻ hết rồi, phải ăn lá cây, phải đi vô trong rừng sâu, ăn cả tre lồ ô non"[73;60]. Nạn đói hoành hành, ngày càng trở nên nặng nề hơn: "Tháng giêng, đói càng nặng, con người ta chỉ còn hai mắt, phải leo lên núi cao lắm mới còn củ mài, măng le, lá cây ăn được. Người mạnh đi được xa, người yếu nằm chờ chết"[13;62].
Trước tình thế đó, Núp đã nghĩ ra một cách bày cho dân làng "Phải làm rẫy gấp đôi, mỗi nhà trước kia làm một rẫy, bây giờ làm hai rẫy, người đồng chí phải làm ba rẫy"[73; 61] . Khó khăn chồng chất khó khăn, hết nạn này đến nạn khác, nhưng dưới sự chỉ huy của Núp, dân làng Kông Hoa không nản chí, họ động viên nhau tìm mọi cách khắc phục nạn đói, vừa đánh giặc.
Người Tây Nguyên từ bao đời nay, họ làm rẫy tháng ba, tháng tư. Làm như vậy lúa thường bị hư hại vì cơn mưa tháng tư. Nhưng họ không làm sớm vì "giàng" không cho, giàng phạt, Núp nghĩ: "Đói nữa, đói nữa thì làm sao đánh được Pháp"[73;68] thế là anh nảy ra quyết định táo bạo phải làm rẫy sớm, từ tháng giêng. Chính quyết tâm đánh Pháp đã giúp Núp cùng bà con vượt qua những điều mê tín, những hủ tục và giành được thắng lợi. "Nhưng Núp, Ghíp, Liêu không ai chết cả. Năm đó, cuối tháng ba trời tệ qua, đổ mưa to lắm, cả làng phải bỏ rẫy gần hết, chỉ còn rẫy của Núp và ghíp làm lúa sớm gặp mưa tốt lắm, thu được hơn năm trăm gùi lúa. Bữa cơm, bữa cháo, cả làng ăn chung với núp và Ghíp qua những ngày đói"[73,69]. Năm sau, Núp lại làm rẫy sớm, cả làng ai nấy đều theo Núp làm rẫy tháng giêng và không còn cái đói...
Đất nước đứng lên quả là bài ca của những con người chiến thắng. Đọc tác phẩm, chúng ta như được sống lại quá khứ oai hùng nhưng đầy thử thách của nhân dân Tây Nguyên, chúng ta thông cảm với họ, khâm phục ở họ ý chí vượt qua mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh giặc đến cùng để giành lại cuộc sống. Qua tác phẩm, nhà văn đã củng cố niềm tin vào chính nghĩa, vào khối đoàn kết toàn dân, vào ý chí con người.
Đồng thời, khẳng định một chân lý lớn của cách mạng là: Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng yêu nước, yêu tự do, khi có đường lối đúng đắn có thể đánh thắng được mọi kẻ thù"[73;16]. Đất nước đứng lên là hiện thực vĩ đại nhất của thời đại cách mạng vô sản và phong trào chống đế quốc. Tác phẩm đã giúp bạn bè trên thế giới hiểu rõ hơn về