KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
6. Đánh giá mức độ khuyết tật
Phần cuối cùng của chương này trình bày các kết quả liên quan đến việc đánh giá mức độ khuyết tật cho người khuyết tật tham gia nghiên cứu này. Kết quả từ phiếu điều tra cho thấy, trong số người trả lời (n=440), 78% có được giám định mức độ khuyết tật, cơ sở quyết định việc người được giám định có được nhận mức trợ cáp khuyết tật của Nhà nước hay không. Trong số những người không được giám định, lý do không biết đến giám định như tìm ở đâu, ai quyết định, lợi ích gì là nguyên nhân chủ yếu (chiếm đến 72% số câu trả lời) (xem Biểu 24). 65% số người được giám định mức độ khuyết tật được đánh giá ở cấp xã/phường và 35% ở cấp tỉnh. Trong quá trình giám định, cảm nhận kỳ thị hoặc phân biệt đối xử của những người này đối với
hệ thống dịch vụ công rất thấp (6% số người trả lời, n=346). Trở ngại chính trong quá trình giám định khuyết tật bao gồm việc cơ quan giám định họ tin tưởng ở xa (20% số người trả lời), cơ quan nhà nước không giải thích kết quả giám định cho họ (16%) hoặc không cung cấp thông tin đầy đủ (9%).
Trong nghiên cứu định tính, quá trình đánh giá khuyết tật (để nhận trợ cấp khuyết tật) theo trải nghiệm của những người được phỏng vấn rất đa dạng. Có nhiều người hài lòng với quá trình đánh giá khuyết tật vì họ nhận được trợ cấp sau khi đánh giá. Nhóm khuyết tật vận động được phỏng vấn thường có trải nghiệm tương đối tích cực một phần theo như lời người trong nhóm cũng như những người ngoài nhóm khuyết tật này chia sẻ, dạng khuyết tật của họ phù hợp với cách đánh giá hiện giờ tập trung nhiều hơn vào khó khăn của sáu chức năng cơ bản của người khuyết tật trong cuộc sống hàng ngày mà chưa gắn các khó khăn này với các rào cản khi họ tham gia các hoạt động kinh tế và xã hội.1
Biểu 24: Tỷ lệ trả lời cho các lý do không đi giám định mức độ khuyết tật trong số người tham gia nghiên cứu định lượng (n=94)
72%
3% 3%
11%
22%
Không biết (GĐMĐ là gì, hỏi ai, lợi gì)
Không muốn bị nhận diện là NKT
Không tin kết quả GĐ
Họ nói tôi không thuộc diện trợ cấp
Khác
% số người trả lời
Lý do chưa/không đi giám định mức độ khuyết tật
1 Xem thêm Mẫu số 05: Phiếu đánh giá mức độ khuyết tật dành cho người đủ 6 tuổi trở lên trong Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT (Bộ LĐTBXH, Bộ Y tế, Ban Tổ chức và Bộ GDĐT, 2012).
Tuy nhiên, ngoài nhóm khuyết tật vận động, những nhóm khuyết tật khác có những trải nghiệm theo họ có tính bất cập cao.
Theo lời một người được phỏng vấn là nữ, khiếm thị ở Thành phố Hồ Chí Minh:
“Bất cập trong việc xác định mức độ khuyết tật ở đây tôi khẳng định là các quy định xác định mức độ khuyết tật không hiểu về cuộc sống người người khuyết tật là như thế nào. Cái cơ bản là anh không hiểu cái cách sinh hoạt và đời sống người ta như thế nào nên mới có những quy định để xác định độ nặng nhẹ dựa trên việc anh có thể tự chăm sóc mình không. Chúng tôi khiếm thị thì tự chăm sóc được phần lớn thời gian nhưng không nhìn ảnh hưởng đến rất lớn đến khả năng làm việc và tham gia xã hội. Những cái đó không được động tới trong việc đánh giá.”
Bên cạnh việc thiếu hiểu biết về các khó khăn mà người khuyết tật gặp phải để có một cơ chế đánh giá hợp lý, quá trình đánh giá này cũng bọc lộ vấn đề liên quan đến cách thức đánh giá được tiến hành. Việc đánh giá mức độ khuyết tật tại các điểm nghiên cứu dựa rất nhiều vào cảm tính của cán bộ thực hiện chính sách cho người khuyết tật của địa phương. Trong số các nhóm khuyết tật được phỏng vấn, sự khác biệt trong việc đánh giá mức độ khuyết tật thể hiện rõ nhất bằng mức độ nặng nhẹ của khuyết tật mà những người điếc có cùng độ tuổi, và sức khỏe.
Ngay trên cùng một đơn vị hành chính, một người điếc nam ở Hà Nội chia sẻ (qua lời của phiên dịch):
“Lúc tôi đi giám định mức độ khuyết tật, tôi gặp một cặp vợ chồng người điếc nữa. Tôi có nói chuyện với họ lúc đi ra. Hai vợ chồng người đấy đi ra được đánh giá mức độ nặng, tôi đi một mình thì bị đánh giá mức độ nhẹ. Khi tôi hỏi cán bộ đánh giá, mgười ta bảo là hai vợ chồng thì nó vất vả thế là cho mức độ rất nặng. Còn tôi sống một mình nên được nhẹ.”
Cách nhìn quen thuộc về người khuyết tật: nghèo và đáng thương vẫn là thước đo để quyết định độ nặng nhẹ của khuyết
tật, và do đó trợ cấp khuyết tật. Theo lời của một người là nam giới khiếm thính đi đánh giá khuyết tật và được người nhà cho ăn mặc giả làm người thần kinh, sau đó được xác nhận khuyết tật nặng và nhận trợ cấp người khuyết tật. Theo lời giải thích của anh:
“Mình phải dùng đến cái thủ thuật đấy. Kiểu dạng như là xuất hiện với tư cách nhìn trông đáng thương thì người ta mới đánh giá cái mức độ khuyết tật cao cho mình, chứ còn nếu mà mình nhìn không đáng thương, mà nhìn cái kiểu lịch sự nhã nhặn thì người ta không nghĩ mình là người khuyết tật.”
Cách đánh giá chưa công bằng và minh bạch gây ra hiểu nhầm hay đố kỵ trong cộng đồng người khuyết tật. Sự hiểu nhầm và đố kỵ dẫn đến hành vi kỳ thị ngay trong cộng đồng xung quanh việc được nhận hay không được nhận, nhận nhiều hay ít và ai là người xứng đánh hay không xứng đáng nhận trợ cấp khuyết tật. Trong số những người được phỏng vấn, một người là nữ bị bại liệt chân bẩm sinh chia sẻ đã bị một số người khuyết tật khác tại chỗ làm việc của em chế giễu cho rằng em giả vờ có khuyết tật để nhận trợ cấp. Điều này xuất phát từ việc người này được nhận trợ cấp (theo dạng chất độc da cam) và cao hơn nhiều so với người khác. Điều này xảy ra, ngoài yếu tố không công bằng trong đánh giá khuyết tật, do người khuyết tật không có đầy đủ thông tin về thủ tục, trình tự xét trợ cấp khuyết tật và mức độ trợ cấp như lời một bạn nam ở Nghệ An chia sẻ:
“Em cứ chạy đi chạy lại vài lần, mắt thì không nhìn được, đi lại rất khó khăn. Mỗi lần như vậy, em được cho biết em thiếu một loại giấy tờ. Em cũng không được giải thích tổng thể ngay từ đầu mà cứ phải đi lại nhiều lần.”
Đối với nhóm người được phỏng vấn là những người có khuyết tật trí tuệ, việc đánh giá mức độ khuyết tật thường không được tiến hành. Ở Việt Nam hiện nay, theo Rydstrom (2010), thuật ngữ “khó khăn học hành” (Learning difficulties) được hiểu
qua nhiều cách từ chậm phát triển trí tuệ, bại não, chứng bệnh Down, và những vấn đề về hành vi. Thuật ngữ “khuyết tật học hành mà WHO dùng chưa được sử dụng chính thức (qua văn bản hay quy định pháp luật) ở Việt Nam. Ở Đà Nẵng nơi nghiên cứu viên có thể tiếp cận được với những người khuyết tật trí tuệ, nhìn chung khuyết tật trí tuệ thường hay được dùng để ám chỉ các khuyến tật liên quan đến nhận thức và phát triển. Về khó khăn này, theo một giáo viên nữ dạy hơn 12 năm ở một trường cho trẻ khuyết tật trí tuệ nhận xét:
“Khi mà các ban ngành ngồi lại với nhau để đánh giá tình trạng giáo dục cho người khuyết tật trí tuệ thì người ta nhận thấy đối với khuyết tật trí tuệ rất khó xác nhận trẻ có khuyết tật này. Có nghĩa là đối với trẻ điếc, trẻ mù thì nó thể hiện liền qua hình thức bên ngoài kiểm tra dễ nhưng mà còn cái khuyết tật trí tuệ rất khó đo. Vì vậy, hiện nay để xác định trẻ có khuyết tật trí tuệ thì cứ thấy trẻ không theo kịp ở trường bình thường thì người ta kết luận trẻ là khuyết tật trí tuệ và cho vào trường chuyên biệt học.”
Thêm vào đó, từ góc độ gia đình của trẻ có khuyết tật trí tuệ, nhiều cha mẹ mặc cảm không muốn chấp nhận con họ có khuyết tật (để có các biện pháp giáo dục hoặc chăm sóc phù hợp).
Đây cũng là vấn đề khá phổ biến trong gia đình có con là người khuyết tật ở các dạng khuyết tật khác như trẻ em điếc.
4