Nhận diện kỳ thị đối với người khuyết tật trong xã hội Việt Nam

Một phần của tài liệu Xoa bo ky thi_13.4.18 (Trang 26 - 29)

3. Kỳ thị và người khuyết tật qua các nghiên cứu ở Việt Nam

3.1. Nhận diện kỳ thị đối với người khuyết tật trong xã hội Việt Nam

13% số người được hỏi trong một nghiên cứu ở Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh của Ủy Ban các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết họ không được cộng đồng của họ đối xử tốt (ISDS, 2008). Sự kỳ thị với người khuyết tật cũng khác biệt tùy theo loại khuyết tật, theo tuổi, giới và học vấn. Những người khuyết tật trí tuệ, giao tiếp và tự chăm sóc bản thân có tỷ lệ bị kỳ thị cao hơn những người có các khó khăn khác. Người trẻ tuổi bị kỳ thị cao hơn so với những người có nhiều tuổi hơn.

Người có trình độ học vấn cao hơn có xu hướng ít gặp kỳ thị hơn (ISDS, 2013).

Về văn hóa, người khuyết tật bị kỳ thị vì họ được xem là sự trừng phạt cho tội lỗi mà người nhà họ kiếp này hay ông bà họ kiếp trước đã phạm phải. Điều này là kỳ thị được áp đặt ngay lập tức lên một đứa trẻ khi nó ra đời và thậm chí làm cuộc sống của đứa trẻ khuyết tật có thể bị nguy hiểm vì bị dấu đi hoặc bị bỏ rơi để trẻ không phát triển (ISDS, 2013; Burr, 2015).

Khi đến tuổi đến trường, khả năng ứng xử và khả năng học của trẻ khuyết tật sẽ quyết định liệu đứa trẻ đó có được đi học

hay không (Nguyễn và Mitchell, 2014). Điều này đi ngược lại với quy định của Luật Giáo dục theo đó mọi công dân đều có quyền học tập và Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ để mọi công dân đặc biệt với trẻ em khuyết tật có thể đi học. Quyền đi học của người khuyết tật ở Việt Nam được cân nhắc trên cơ sở năng lực của họ chứ không phải là quyền phổ cập dành cho mọi trẻ em như luật quy định. Hơn nữa, dù mục tiêu tạo điều kiện cho tất cả trẻ khuyết tật tham gia học hòa nhập đã có từ năm 2006 (xem Bộ GDĐT, 2006), các đánh giá cho thấy công tác chuẩn bị cho việc triển khai chương trình này còn hạn chế. Giáo viên không được đào tạo sâu về chuyên môn để dạy giáo dục hòa nhập. Nhà trường thiếu trang thiết bị, dụng cụ tài liệu trợ giảng chuyên biệt như phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu, chữ nổi để đáp ứng được việc dạy hòa nhập cho học viên là người điếc hoặc khiếm thính, người khiếm thị hoặc mù hay người có chứng tự kỷ (Lynch and Pham, 2013). Điều này dẫn đến thực trạng các trường thường chỉ nhận được các học sinh có mức độ khuyết tật nhẹ. Thêm vào đó, mặc dù ở các thành phố lớn đã có những trung tâm giáo dục dành riêng cho trẻ em khuyết tật, ở các vùng nông thôn, những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, các em thường không đến được các trung tâm mà phải học hòa nhập tại các trường gần nhà nhưng thiếu giáo viên có chuyên môn hay giáo cụ dạy trẻ khuyết tật. Trong hoàn cảnh như vậy, các học sinh có khuyết tật nặng hoặc đặc biệt như điếc hoặc khiếm thị không thể theo được và thường bỏ học nửa chừng (Lê Xuân, 2016). Về giới, nam là người khuyết tật khi đến tuổi đến trường thường được cho đi học văn hóa hoặc đi học nghề với mục tiêu để cho họ có thể giao tiếp với xã hội tuy vậy điều này không áp dụng vào trẻ em nữ khuyết tật (Nguyễn và Mitchell, 2014).

Khi đến tuổi đi làm, thực trạng dạy nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật cũng đặt ra nhiều vấn đề bất cập. Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật chưa qua trường

lớp đào tạo chuyên sâu về cách dạy cho người khuyết tật mà thường tham gia các lớp bồi dưỡng ngắn hạn. Do vậy, kỹ năng truyền đạt cho học viên bị hạn chế, dẫn đến thực trạng người khuyết tật được đào tạo có tay nghề không được như mong đợi.

Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp chưa nhiệt tình khi nhận lao động là người khuyết tật vào làm do thiếu tin tưởng vào khả năng của người khuyết tật, hay do tâm lý ngại thay đổi hay vì sợ ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả sản xuất, kinh doanh (xem USAID, 2005; Nguyễn và Mitchel, 2014; Nhân dân Điện tử, 2017).

Nếu được đi làm, mức độ kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi làm việc rất cao ví dụ được trả lương tháng thấp hơn so với người không khuyết tật làm công việc tương tự (ISDS, 2013).

Về mặt luật pháp, người khuyết tật vẫn chỉ đơn thuần được xem là những người có thiếu hụt về thể chất hoặc suy giảm chức năng, do vậy gặp khó khăn trong lao động, học tập, sinh hoạt như định nghĩa về người khuyết tật trong Luật Người khuyết tật đã nêu. Vì vậy, Nhà nước vẫn dùng những hội chẩn y học như là một yêu cầu thể chế trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội cho người khuyết tật. Những điều nêu trên cho thấy, khuyết tật vẫn được xem là việc mất khả năng hay không đủ điều kiện đáp ứng các yêu cầu để tham gia vào quá trình sản xuất, làm cho vấn đề loại trừ sự tham gia của người khuyết tật trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, và xã hội càng nổi trội hơn (xem Dingo, 2007). Điều này khác hẳn với cách tiếp cận dựa trên quyền thể hiện trong Công ước về Quyền của Người khuyết tật nhấn mạnh đến rào cản từ chính sách (và do vậy sự cần thiết có các chính sách xã hội hợp lý) để người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ và bình đẳng vào xã hội. Thêm vào đó, các văn bản hiện đang còn lẫn và không rõ ràng cũng như chưa có sự thống nhất về nhận thức trong các cơ quan cung cấp hỗ trợ, trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật. Khi Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2012/

NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của

Luật Người khuyết tật, không có quy định nào đề cập đến dạng khuyết tật nào, mức độ khuyết tật cụ thể ra sao thì được hưởng quyền trợ giúp pháp lý theo quy định của luật. Vì những lý do này, quyền được trợ giúp pháp lý nhiều khi chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm thực thi có hiệu quả trên thực tế (Phạm Thị Hồng Đào, 2016).

Về tiếp cận dịch vụ y tế, theo một báo cáo của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID (Lynch và Pham, 2013) mặc dù dịch vụ y tế hỗ trợ phục hồi chức năng được đưa vào trong Luật Người khuyết tật nhưng việc thực hiện gặp nhiều hạn chế. Nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ này chủ yếu tập trung vào vật lý trị liệu cho người có khuyết tật vận động và đôi chỗ có trị liệu để giúp người bệnh phục hồi khả năng nói. Tuy vậy, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và đào tạo chuyên môn cho cán bộ làm việc tại các trung tâm này hạn chế, đặc biệt ở các trung tâm cấp cộng đồng, đã gây ra sự thiếu tin tưởng với các trung tâm trong tâm lý người sử dụng.

Ngay cả đối với người khuyết tật vận động sử dụng dịch vụ vật lý trị liệu, các tư vấn về tâm lý sau chấn thương (với khuyết tật do tai nạn hay bệnh lúc lớn) rất cần thiết như nhiều người chia sẻ trong nghiên cứu định tính (sẽ thảo luận ở Chương 4) cũng không có. Điều này làm giảm tính thiết thực của các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế cho người khuyết tật.

Một phần của tài liệu Xoa bo ky thi_13.4.18 (Trang 26 - 29)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(184 trang)