Các thông tin về nhân khẩu

Một phần của tài liệu Xoa bo ky thi_13.4.18 (Trang 58 - 63)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Bức tranh chung về người khuyết tật

1.1. Các thông tin về nhân khẩu

Trong nghiên cứu định lượng, có tổng số 516 người tham gia trong đó 269 (tương đương 52%) người là nam, 237 (tương đương 46%) là nữ, 6 người (độ tuổi từ 18-38) chọn “khác” cho giới tính của mình và 4 người không trả lời câu hỏi giới tính và tuổi.

Phần lớn những người tham gia ở độ tuổi từ 18 đến 38 (chiếm 67

% tổng số người tham gia) (xem Biểu 1). Độ tuổi từ 39 đến 58 tuổi chiếm 17% và số còn lại là những người trên 59 tuổi (không kể 4 người không điền thông tin về tuổi). Số người chưa kết hôn lớn nhất chiếm 49%, đã kết hôn chiếm 38%, ly hôn chiếm 6%.

Biểu 1: Tổng số người tham gia khảo sát định lượng theo giới và độ tuổi

Khác Nam Nữ (Khuyết)

(Khuyết) 0 8 5 4

Từ 59 tuổi trở lên 0 35 26 0

Từ 39 đến 58 tuổi 0 44 46 0

Từ 18 đến 38 tuổi 6 182 160 0

0 50 100 150 200 250 300

Số người trả lời

Nhìn chung, số người khiếm thị có tỷ lệ tham gia vào nghiên cứu định lượng cao nhất (36%). Tiếp theo là nhóm khuyết tật vận động (34%). Những người điếc/khiếm thính, tự chăm sóc và giao tiếp có tỷ lệ tham gia bằng nhau (cùng chiếm 13% số người tham gia). Số người khuyết tật trí tuệ có tỷ lệ tham gia thấp nhất, chiếm

9% tổng số người tham gia. Trong số những người liệt kê “Khác”

cho phần giới, 2 người khuyết tật trong cả sáu loại chức năng (ở các mức độ khác nhau) và 3 người có nhiều hơn một khó khăn liên quan đến trí tuệ và tự chăm sóc.

Về địa bàn phân bố của người tham gia nghiên cứu định lượng, tỷ lệ tham gia theo miền cao nhất ở khu vực miền Bắc (bao gồm Hà Nội, Thái Nguyên) tiếp theo sau là miền Nam (Thành phố Hồ Chí Minh) và miền Trung (Đà Nẵng) (xem Biểu 2).

Biểu 2: Phân loại các dạng khuyết tật của người tham gia nghiên cứu định lượng theo vùng, miền

76

48 49 56

47 45

17

17 24 16

26 25

8

35 28 28 26 31

Nhìn Nghe Vận động Trí tuệ Tự chăm sóc

Giao tiếp

% từng loại khuyết tật

Loại khuyết tật phân theo miền

Miền Nam (%) Miền Trung (%) Miền Bắc (%)

Số người tham gia vào nghiên cứu định tính là 58 người (29 nam và 28 nữ và một người tự xác định giới tính khác) từ sáu nhóm khó khăn theo chức năng được phỏng vấn tại 5 địa bàn (xem Biểu 3). Có 44 người tham gia ở độ tuổi từ 18 đến 38. Người điếc có số lượng tham gia cao nhất vào nghiên cứu định tính.

Trong số những người được phỏng vấn, 69% số những người phỏng vấn chưa lập gia đình và 15% đã có gia đình.

Biểu 3: Số người tham gia nghiên cứu định tính theo giới tính và địa bàn

0 2 4 6 8 10 12

Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Khác Nam Nữ Nam Nữ

Hà Nội Nghệ An Thái Nguyên Hồ Chí Minh Đà Nẵng

Số người tham gia

Địa bàn nghiên cứu

Khuyết tật nghe Khuyết tật nhìn Khuyết tật vận động Khuyết tật trí tuệ Khuyết tật giao tiếp

Lưu ý: Khuyết tật liên quan đến khả năng tự chăm sóc được đưa vào cùng nhóm với khuyết tật vận động vì toàn bộ những người có khó khăn tự chăm sóc là người khuyết tật vận động và gần một nửa số ngời khuyết tật vận động cũng là những người không thể tự chăm sóc mà cần có người giúp.

Khuyết tật liên quan đến giao tiếp trong phỏng vấn phần nhiều là người có khó khăn nghe nên được để vào cùng nhóm người điếc/khiếm thính.

Riêng có một trường hợp được phỏng vấn ở Thành phố Hồ Chí Minh (qua nhắn tin) được xếp loại riêng trong nhóm khuyết tật liên quan đến giao tiếp vì người này nghe và hiểu rất tốt nhưng không nói hoặc nói được rất ít (chủ yếu có/không).

Trong số mẫu khảo sát khuyết tật trí tuệ có 3 người được phỏng vấn có tuổi đời là 15. Nghiên cứu định tính vẫn giữ thông tin về số này vì khó tìm được người khuyết tật trí tuệ để phỏng vấn.

Về mức độ khó khăn liên quan đến sáu chức năng (theo thang đo ICF), “có một số khó khăn” được người tham gia nghiên cứu định lượng chọn nhiều nhất. Mức độ “không thể làm được việc này” cao nhất ở nhóm khiếm thị, tiếp theo là nhóm khuyết tật vận động (xem Biểu 4). Số liệu phân tích từ phiếu trả lời cho thấy, 73% số người trả lời (trong tổng n= 448) có ít nhất 2 khuyết

tật trở lên, 20% có một khuyết tật (Lưu ý: 7% số người còn lại không có bất kỳ khó khăn nào về chức năng vì có thể họ là người khuyết tật chiều cao như thường gặp khi phỏng vấn với nhóm khuyết tật này trong nghiên cứu định tính).

Biểu 4: Mức độ khó khăn trong việc thực hiện sáu chức năng cơ bản của người tham gia nghiên cứu định lượng

15 11

36 30

24 19

19

6

20

8

10

9 17

6

14

1 3

5

Khó khăn nhìn (%)

Khó khăn nghe (%)

Khó khăn vận động (%)

Khó khăn trí tuệ (%)

Khó khăn tự chăm sóc (%)

Khó khăn giao tiếp (%)

% số người trả lời

Khó khăn liên quan đến chức năng

Không thể làm được việc này Có rất nhiều khó khăn Có một số khó khăn

Về trình độ học vấn, 48% số người tham gia nghiên cứu định lượng học hết trung học cơ sở và trung học phổ thông. 10% số người tham gia nghiên cứu không có cơ hội đi học hoặc học chưa hết tiểu học (xem Bảng 1).

Bảng 1: Trình độ học vấn của người tham gia nghiên cứu định lượng Bậc học cao nhất n % Chưa bao giờ đi học/học chưa hết tiểu học 43 10

Tiểu học 69 16

Trung học cơ sở 101 24

Trung học phổ thông 100 24

Trung cấp, cao đẳng 52 12

Đại học, sau đại học 60 14

Trong nghiên cứu định lượng, những người khuyết tật tự chăm sóc là nhóm có tỷ lệ người không được đến trường hoặc

không hoàn thành bậc học tiểu học. Ở hai cấp học trung học cơ sở và trung học phổ thông, người khuyết tật giao tiếp có tỷ lệ hoàn thành bậc học này cao nhất (xem Bảng 2). Trong khi đó, về giáo dục bậc đại học và sau đại học, người khiếm thị là nhóm có tỷ lệ người tốt nghiệp bậc học này nhiều nhất và đứng trên nhóm khuyết tật vận động (xem Bảng 2).

Bảng 2: Các loại khuyết tật và trình độ học vấn của người tham gia nghiên cứu định lượng

Nhìn Nghe Vận động Trí tuệ Tự chăm sóc Giao tiếp

n % n % n % n % n % n %

Chưa bao giờ đi học/

chưa học hết tiểu học 16 11 1 2 23 16 5 13 12 22 6 11

Tiểu học 19 13 13 27 27 19 11 29 10 19 13 25

Trung học cơ sở 31 21 21 43 26 18 5 13 5 9 21 40

Trung học phổ thông 39 27 3 6 29 20 9 24 12 22 9 17

Trung cấp, cao đẳng 21 14 7 14 26 18 6 16 10 19 4 8

Đại học, sau đại học 21 14 4 8 11 8 2 5 5 9 0 0

Nhìn từ góc độ giới, tỷ lệ người có trình độ đại học và sau đại học là nữ cao hơn 5% tỷ lệ này ở nam giới. Ở các cấp học khác sự khác biệt giữa nam và nữ không nhiều (xem Biểu 5).

Biểu 5: Tỷ lệ người hoàn thành các bậc học phân theo giới trong nghiên cứu định lượng (n=224 nam và 200 nữ)

10 17

24 25

13 12

10 16

24 22

12 17

Chưa bao giờ đi học/chưa hoàn thành tiểu học

Tiểu học Trung học cơ sở

Trung học phổ thông

Trung cấp, Cao đẳng

Đại học, Sau đại học

% số người tả lời

Trình độ học vấn Nam (%) Nữ (%)

Về trình độ của những tham gia nghiên cứu định tính, trong 58 người tham gia phỏng vấn, phần đông học hết tiểu học (xem Biểu 6) số người học hết đại học là 6. Những người học hết đại học có 2 nữ và 4 nam là những người thuộc nhóm khuyết tật vận động, khiếm thị và khuyết tật chiều cao. Có tổng số 5 người (2 nữ và 3 nam) không bao giờ được đến trường trong đó 4 người là người khiếm thị và một người khuyết tật vận động.

Biểu 6: Số người được phỏng vấn và trình độ học vấn (n= 58) trong nghiên cứu định tính

5

17

12 12

6 6

Chưa bao giờ đi học/chưa hoàn thành tiểu học

Tiểu học Trung học cơ sở

Trung học phổ thông

Trung cấp, Cao đẳng

Đại học

Số người được phỏng vấn

Trình độ học vấn

Một phần của tài liệu Xoa bo ky thi_13.4.18 (Trang 58 - 63)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(184 trang)