KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tiếp cận dịch vụ y tế: Bảo hiểm y tế và việc sử dụng BHYT
Số người có thẻ BHYT chiếm tỷ lệ cao trong số những người tham gia nghiên cứu định lượng. Có 93% (n=441) số người tham gia nghiên cứu này có thẻ BHYT trong đó tỷ lệ nam và nữ trong số những người có thẻ BHYT gần bằng nhau (xem Biểu 16).
Biểu 16: Tỷ lệ người có thẻ BHYT (n=441) trong số người tham gia nghiên cứu định lượng, phân theo giới tính
93% 92%
7% 8%
Nam Nữ
% số người trả lời
Giới tính
Có thẻ BHYT Không có thẻ BHYT
Trong số những người có thẻ BHYT, 96% được Nhà nước cấp cho thẻ mà họ sở hữu. Trong số những người không có thẻ BHYT các lý do không có BHYT bao gồm: không có tiền mua (33% số người trả lời), không biết mua thẻ BHYT ở đâu (21%), không tin vào lợi ích của thẻ (9%), và không biết thẻ BHYT (6%) là gì (xem Biểu 17).
Biểu 17: Tỷ lệ trả lời cho các lý do giải thích không có BHYT trong số người tham gia nghiên cứu định lượng
6%
24%
33%
9%
Không biết BHYT là gì
Không biết mua ở đâu
Không có tiền mua BHYT không có lợi ích gì
% số người trả lời
Lý do không có thẻ BHYT
Trong số những người đi khám trong lần gần đây nhất (n=377), 75% có sử dụng thẻ BHYT. Tuy nhiên, cũng có 11% số người trả lời chưa bao giờ dùng thẻ (Biểu 18). Trong số những người không dùng BHYT (15%), lý do được đề cập đến nhiều nhất (34%) là do thẻ bảo hiểm của họ trái tuyến nên không được thanh toán. Lý do khác được đề cập nhiều là thẻ BHYT không chi trả hoặc chi trả thấp chi phí liên quan trong khi đó các thủ tục không thuận tiện (Biểu 19).
Biểu 18: Tỷ lệ người dùng BHYT trong nghiên cứu định lượng
(n=377)
Biểu 19: Tỷ lệ trả lời cho các lý do không sử dụng BHYT trong nghiên cứu định lượng
75%
15% 11%
Có Không Chưa bao giờ
đi khám
% số người trả lời
Tỉ lệ người dùng BHYT
2%
21%
5%
14%
34%
Không muốn bị nhận diện
BHYT không trả bệnh
của tôi BHYT chỉ
trả một phần nhỏ
Thủ tục không thuận lợi
Không được thanh
toán
% số người trả lời
Lý do không sử dụng BHYT
Trong nghiên cứu định tính, có 8 người (2 nữ, 6 nam) không có thẻ BHYT (trên tổng số 58 người được phỏng vấn). Trong số những người không có thẻ BHYT có đến 6 người là người điếc.
Tình trạng chung trong số những người điếc này là họ không biết thẻ BHYT là gì và lợi ích của thẻ ra sao.
Thêm vào đó, ý thức sử dụng dịch vụ y tế công cộng trong cộng đồng người khuyết tật chưa cao hoặc chưa có điều kiện kinh tế để tiếp cận các dịch vụ chuyên biệt cho loại khuyết tật của họ. Mặc dù là người khuyết tật, những người thường có sức khỏe yếu hơn người bình thường như nghiên cứu của ISDS (2013) đã chứng minh, những người được phỏng vấn không đăng ký chương trình khám định kỳ nào liên quan đến khuyết tật của họ.
Phần lớn những người được hỏi về chăm sóc y tế đều không có thói quen đi khám bệnh. Họ cho rằng chỉ khi ốm nặng thì mới đi khám. Đa phần khi cảm thấy không khỏe thì ra hiệu thuốc mua thuốc tự uống như trường hợp một người khiếm thị là nữ sống ở thành phố Vinh chia sẻ:
“Kiểu là em bị thoái hóa cột sống ấy chị. Rồi hay đau đầu ấy chị.
Em thì đủ loại bệnh đó chị. Bệnh đại tràng nữa ạ. Càng thêm tuổi là càng nặng hơn thôi chị, nó làm cho em đau nhiều hơn. Ngày xưa em đau đầu ít thôi nhưng giờ thì em hay đau suốt. Em chỉ đi chụp đầu thôi ạ, chưa đi khám tổng thể bao giờ. Khi nào đau quá thì em ra hiệu thuốc mua thuốc về tự chữa thôi ạ.”
Mặc dù tỷ lệ người có thẻ BHYT cao trong số những người được phỏng vấn, tỷ lệ dùng thẻ BHYT thấp. Trong số 50 người (27 nữ, 23 nam) có thẻ BHYT chỉ có 25 người (14 nữ và 11 nam) có sử dụng thẻ BHYT khi đi khám chữa bệnh. Những người có thẻ BHYT mà không dùng vì họ không bao giờ đi khám hay họ không dùng được do trái tuyến. Trường hợp người khiếm thị nêu trên, việc đi khám bẳng thẻ BHYT hay không không có ý nghĩa nhiều do tiền khám bệnh không đắt mà tiền thuốc mua để chữa bệnh mới nhiều. Những thuốc người này dùng lại không
được thanh toán ở khu vực người đó ở vì trái tuyến. Vì lý do này, thu nhập từ việc làm chỉ đủ chi trả tiền thuốc cho nhiều người khuyết tật như nghiên cứu viên đã chứng kiến trong quá trình nghiên cứu ở tất cả các địa điểm nghiên cứu vì đa phần người khuyết tật được phỏng vấn đến từ vùng nông thôn, lên thành phố tìm việc.