II. Đoạn trích ―Côn Sơn ca‖ của Nguyễn Trãi
2. Gợi ý lập dàn bài
a. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề:
“Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông, như núi, như người Việt Nam.”
Tình yêu sông núi, đất trời, con người xứ Việt từ ngàn xƣa đã bắt nguồn cho mạch chảy bất diệt của thơ ca, trong đó có thơ trung đại Việt Nam. Mỗi bài thơ về tình quê hương, đất nước tựa như bông hoa đượm hương, đượm sắc đem đến những xúc cảm khó phai.
- “Thiên trường vãn vọng” của Trần Nhân Tông và đoạn trích “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi là những minh chứng rất sáng cho điều đó.
b. Thân bài:
*Luận điểm 1:Tình yêu quê hương, đất nước trong bài “Thiên trường vãn vọng”
- Khái quát về tác giả và tác phẩm:
+ Trần Nhân Tông vừa là vị vua Trần tài trí lỗi lạc, vừa là một nhà văn hóa, một nhà thơ tiêu biểu của đời Trầncó tâm hồn thanh cao, yêu nước.
+ Sau chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ ba không lâu, vua có dịp về thăm quêcũ Thiên Trường (Nam Định ngày nay) và sáng tác bài thơ này.
+ Bài thơ là cái nhìn tinh tế pha sắc Thiền về bức tranh làng quê với thiên nhiên và cuộc sống con người hữu tình, nên thơ. Từ đó tỏa sáng một trái tim yêu mến, gắn bó với quê hương, đất nước.
- Chứng minh biểu hiện:
+ Yêu cảnh sắc và cuộc sống nơi làng quê Thiên Trường:
Cảnh thôn xóm mờ ảo lúc hoàng hôn buông xuống:
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên, Bán vô bán hữu tịch dương biên.
Điệp từ “thôn” (thôn xóm làng quê) kết hợp cặp đối “hậu – tiền” vừa tạo nhịp điệu, vừa gây ấn tƣợng trong nét vẽ về cảnh thôn dã.
Người đọc có liên tưởng tới những nếp nhà san sát, nối nhau kéo dài liên tiếp, gợi cuộc sống ấm áp, đông vui, không giống với cảnh ảm đạm, đìu hiu trong bài “Qua Đèo Ngang”
(Bà Huyện Thanh Quan):
Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Quân dân nhà Trần đã đồng tâm chống quân Nguyên – Mông, và giờ đây họ đang đƣợc hưởng cuộc sống an nhiên, yên bình. “Yên”
nghĩa là khói.Phải chăng, đó là những làn sương chiều lãng đãng hòa quyện với những vầng khói thổi cơm ngay từ những mái nhà lan tỏa thành một màn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng khiến người ngắm cảnh cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ (đạm tự yên)?
“Tịch dương” là buổi chiều tà, trời đang ngả dần về tối, thường gợi sự cô đơn, lạnh lẽo. Nguyễn Du trong một lần đi sứ từng viết trong bài “Tổ Sơn đạo trung” (Đường Tổ Sơn):
Tiêu tiêu khô thảo lộ nhất tuyến Tịch tịch tà dương sơn tứ vi
(Cỏ khô xơ xác đầy trên lối
Chiều xuống quạnh hiu bốn phía non)
Nhƣng đặt trong hoàn cảnh sáng tác và âm hưởng chung bài thơ của Trần Nhân Tông, bóng chiều hiện lên thanh nhẹ, êm ả, bán vô bán hữu (nửa nhƣ có nửa nhƣ không). Cái vô - hữu ấy khởi phát từ phong cách dĩ thi thuyết Thiền, dĩ Thiền ngụ thi (dùng thơ để nói Thiền, gửi Thiền vào thơ) của ông.Sắc thái bình đạm, tĩnh lặng và không phân biệt giữa thực và hƣcủa cảnh vật khiến tâm hồn con người như cũng lâng lâng. Hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy làng xóm, khói sương êm ả, thanh bình nhƣ thế? Ngoại cảnh và tâm cảnh hòa hợp rất tự nhiên.Vần thơ tả ít mà gợi nhiều.
Cảnh đồng quê thanh bình:
Mục đồng nghịch lí ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền.
Hai câu cuối sử dụng bút pháp lấy động tả tĩnh,gợi tả cảnh sắc đồng quê rất dân dã, bình dị, thân thuộc. Trên những nẻo đường quê, đàn trâu nối đuôi nhau về thôn. Có âm thanh tiếng sáo mục đồng cất lên, âm thanh réo rắt, hồn nhiên, thanh bình của làng quê ta xƣa nay. Có từng đôi, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp nhau hạ xuống đồng.Khung cảnh làng quê thật yên bình, mang một vẻ đẹp vừa gần gũi vừa không kém phần thơ mộng. Con người và thiên nhiên đều hòa điệu trong nhịp sống thanh nhàn, êm đềm.
+ Niềm tự hào về đất nước thái bình, thịnh trị:
Chỉ đôi ba nét chấm phá, lựa chọn một vài hình ảnh, âm thanh đặc sắc, từng câu thơ đều thể hiện tâm hồn thi sĩ vô cùng thƣ thái và đầy xúc cảm trước cảnh sắc bình dị của quê hương. Tình cảm đối với quê hương rõ ràng không hề khiên cƣỡng mà xuất phát từ tấm lòng yêu quê hương nồng hậu, tha thiết. Bài thơ khiến ta hiểu thêm vì sao triều đại nhà Trần dưới sự trị vì của vua Trần Nhân Tông lại là thời kì yên bình và phồn thịnh vào bậc trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Thiên Trường thuở ấy, đường sá rầm rập ngựa xe, có biết bao cung điện của vua chúa, tôn thất nhà Trần, nhƣng Trần Nhân Tông không nói đến lầu son gác tía, bệ ngọc ngai vàng tráng lệ nguy nga, mà chỉ nói đến cảnh sắc thiên nhiên, cảnh vật đồng quê.
Điều đó cho thấy tâm hồn thi sĩ giàu tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, hướng đôi mắt dõi về cuộc sống của dân, vì nhân dân.
Thiên Trường là nơi đã từng bị gót giày xâm lƣợc của quân Nguyên tràn qua, tàn phá; đứng vững và trở lại đƣợc cảnh thanh bình hiện hữu mà tác giả đã đƣợc thấy quả là
“nhờ phúc tổ tông”, cho nên niềm vui đƣợc nhân lên, sự trân trọng cái hạnh phúc hiện hữu đƣợc nhân lên.
+ Nghệ thuật đặc sắc:
Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt
Thi trung hữu họa
Kết hợp điệp ngữ và tiểu đối
Nhịp, giọng thơ êm ái, hài hòa.
Tiểu kết: GS. Nguyễn Khắc Phi:
“Thiên Trường vãn vọng là một tuyệt tác, một trong những bài thơ tứ tuyệt Đường luật cô đọng nhất, một trong những bài thơ trữ tình hay nhất của văn học trung đại Việt Nam”.
*Luận điểm 2: Tình yêu quê hương, đất nước trong đoạn thơ “Côn Sơn ca”:
- Khái quát tác giả và bài thơ:
+ Nguyễn Trãi là nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn đức toàn tài, danh nhân văn hóa thế giới, với sự nghiệp văn học đồ sộ và phong phú.
+ Bài “Côn sơn ca” có thể đƣợc viết trong khoảng thời gian Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn.
+ Bài thơ chữ Hán đƣợc dịch ra bằng thể thơ lục bát mang âm hưởng nhẹ nhàng, khắc họa rất thành công cảnh trí tươi đẹp, thanh bình của Côn Sơn trong cảm nhận của tác giả.
Qua đó ta thấy được tâm hồn con người hòa hợp trọn vẹn với thiên nhiên quê hương.
- Chứng minh biểu hiện:
+ Tình yêu, niềm tự hào về vẻ đẹp thiên nhiên nơi Côn Sơn:
Bức tranh thiên nhiên Côn Sơn đƣợc miêu tả qua 4 khung cảnh. Ấn tƣợng đầu tiên là cảnh suối, đƣợc miêu tả trong trạng thái vận động (chảy), gắn liền với âm thanh êm ả (rì rầm), gợi cho nhân vật “ta” liên tưởng tới âm thanh của tiếng đàn cầm trong trẻo, sâu lắng.
Cái hay ở đây là cách so sánh của Nguyễn Trãi đem đến một sự sáng tạo mới lạ trong văn chương trung đại. Vốn dĩ thiên nhiên luôn là chuẩn mực của cái đẹp, con người muốn đẹp thường đem ví von với thiên nhiên (Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang / Hoa cười ngọc thốt đoan trang,...). Thế nhƣng Nguyễn Trãi lại lấy cái tuyệt kĩ trong ngón đàn của con người, âm thanh trầm bổng, du dương và có phần sang trọng, thanh cao của đàn cầm để làm chuẩn mực cho tiếng suối Côn Sơn. Tiếng suối không hề lạnh lẽo, quạnh vắng mà mang hơi ấm con người.
Cảnh đá: đá xuất hiện với tấm áo rêu biếc, gợi cảm giác bình yên, thân
thuộc nhƣ ngồi chiếu êm.
Cảnh thông: trong ghềnh (núi), thông mọc um tùm, chen chúc nhƣ muôn chiếc lọng xanh, san sát nhau nhƣ nêm, thôi thúc con người tìm đến nghỉ ngơi, thư giãn (lên nằm).
Cảnh trúc: trúc trong rừng xanh mát, màu xanh nối tiếp nhau trải dài dịu lạnh, không gian thanh tĩnh khơi dậy nguồn thi hứng dào dạt, ca tụng cuộc sống nhàn dật, ung dung (ngâm thơ nhàn).
Thiên nhiên Côn Sơn mang bóng dáng của không gian của chốn lâm tuyền không vướng chút bụi trần: trong, xanh, mát, sạch và tĩnh lặng. Nó không chỉ là môi trường sống mà còn là niềm vui, nguồn hạnh phúc của con người.
+ Tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên quê hương, lánh đục về trong của một vị quan luôn sôi sục lòng yêu nước.
Sự hiện diện của nhân vật “ta”
chính là chủ thể trữ tình. Mối quan hệ của
“ta” với thiên nhiên đƣợc khắc họa tinh tế với những chuyển biến: từ “nghe” – “ngồi” –
“nằm” – “ngâm thơ”, thu hẹp dần khoảng cách để hòa hợp, đồng điệu trọn vẹn.
Ung dung, tự tại, làm bạn với thiên nhiên, làm chủ cuộc sống của mình, tìm thấy niềm vui và nguồn thi hứng ngay tại chốn quê hương núi rừng.
Thi nhân hiện lên nhƣ một vị ẩn sĩ đã tìm được không gian sống lí tưởng của mình, một bậc hiền triết đứng cao hơn những bon chen danh lợi, tranh quyền đoạt vị, tìm về cuộc sống trong sạch, không vướng bận, âu lo.
Có thể nói tình cảm của Nguyễn Trãi đối với Côn Sơn vừa là biểu hiện tự nhiên của tình yêu quê hương, đất nước, lại vừa là một thái độ chính trị, một quan điểm nhân sinh của một nhân cách lớn. Đồng thời nó cũng là một nỗi đau lớn, một bế tắc lớn của một lí tưởng xã hội không thể được thực hiện trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Tuy vẫn sục sôi lòng yêu nước, mong muốn được cống hiến, nhưng trước những cuộc tranh quyền phức tạp chốn triều đình, ông đành
phải tự tách mình ra để tìm đến những thú riêng – chính là trở về sống nhàn dật ở Côn Sơn.
+ Nghệ thuật đặc sắc:
Bản dịch theo thể lục bát truyền thống, âm điệu mƣợt mà
Ngôn ngữ giàu hình ảnh, miêu tả thiên nhiên sinh động, gợi cảm
Thủ pháp nghệ thuật: so sánh, điệp...
Tiết tấu nhịp nhàng, giọng êm ái.
Tiểu kết: Bức tranh thiên nhiên Côn Sơn đẹp hữu tình cũng bởi lòng người hữu ý.
Cái mạch ý sâu xa và thiêng liêng ấy không gì khác chính ở tình yêu quê hương, đất nước của chủ thể trữ tình.
* Luận điểm 3: Điểm giống và khác nhau về tình yêu quê hương, đất nước của hai nhà thơ:
Điểm giống:
- Hai nhà thơ ở hai thời đại xa nhau với địa vị khác nhau nhƣng luôn dành cho quê cũ – mảnh đất thân quen những tình cảm đáng yêu, đáng mến.
- Người đọc đều không thấy tâm thế quyền qúy, đài các của vua, quan mà chỉ thấy nỗi lòng tha thiết của những người con với quê hương.
- Yêu quê hương qua cái nhìn trìu mến vào cảnh vật, hòa điệu với thiên nhiên thơ mộng, hữu tình.
- Ngòi bút thơ đậm chất hội họa, vừa tả, vừa gợi.
Điểm khác:
- Cảnh sắc trong thơ vua Trần Nhân Tông là ở chốn điền viên, làng quê Thiên Trường;
còn cảnh sắc trong thơ Nguyễn Trãi lại là chốn lâm tuyền Côn Sơn - quê ngoại của ông.
- Bài thơ “Thiên Trường vãn vọng” mang âm hưởng của hào khí Đông –A thời Trần, nhất là lại đƣợc sáng tác sau cuộc kháng chiếng chống quân Nguyên, âm hưởng ấy cất lên càng thêm tự hào.
Bài thơ “Côn Sơn ca” đƣợc sáng tác trong hoàn cảnh lánh đục về trong của người anh hùng Nguyễn Trãi, vì thế bên cạnh màu sắc êm đềm của cảnh vật còn là những chiêm
nghiệm, trầm tƣ, suy ngẫm trong phong thái an nhàn, tĩnh tại.
- Hình thức và phong cách sáng tác cũng khác nhau. Ở Trần Nhân Tông, 4 câu thơ tuy viết về thế tục nhƣng đƣợm sắc Thiền. Ở Nguyễn Trãi, tuy vần thơ viết về cõi “an bần lạc đạo”
nhƣng ẩn đâu đó vẫn có phần khao khát đƣợc nhập thế, đƣợc say mê cứu đời.
3. Kết bài:
- Khẳng định lại vẻ đẹp của hai bài thơ là ở những tâm hồn yêu quê hương, đất nước.
- Liên hệ bản thân: Từ hai bài thơ bồi đắp cho em cảm xúc gì và hành động nhƣ thế nào?
Bài tập 2: (dành HS khá, giỏi)
Em hãy lí giải tại sao tìnhyêu quê hương, đất nước luôn là mạch nguồn cảm hứng trong thơ Trung đại nói riêng và văn chương nói chung?
- GV tổ chức hoạt động nhóm đôi.
- HS thảo luận, trình bày
- GV gọi nhận xét, bổ sung và chuẩn xác kiến thức.
Gợi ý:
- Xuất phát từ đặc trƣng cơ bản của văn chương muôn đời là mang tính giáo dục, hướng con người tới giá trị chân – thiện – mĩ.
Theo đó, văn chương ra đời không chỉ để phục vụ nhu cầu giải trí, thẩm mĩ, mà cao hơn hết là giúp con người sống phong phú, giàu có hơn về tâm hồn, tình cảm, biết yêu thương, trân trọng, tự hào và bảo vệ quê hương, đất nước. Mài sắc khả năng chiến đấu chống lại kẻ thù, giữ bình yên cho non sông.
- Xuất phát từ sứ mệnh của người nghệ sĩ mọi thời đại là luôn hướng cái nhìn, trái tim, ngòi bút về những tình cảm lớn, đẹp, cao cả và thiêng liêng của con người. Họ góp thêm một phần tiếng nói yêu quê hương, làm phong phú cho mạch nguồn cảm xúc ấy theo mỗi thời kì.
- Xuất phát từ thực tế hiện thực đời sống và lịch sử của dân tộc: Dân tộc ta, đất nước ta từ xa xưa đã phải kiên cường chống lại biết bao âm mưu thôn tính, nhiều cuộc chiến tranh xâm lƣợc đẫm máu,... nỗi niềm khao khát tự do, độc lập, ấm êm luôn thường trực trong mỗi người dân. Vì thế, khi được chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên và con người đẹp tươi, thanh bình, nên thơ, no đủ, thì dù ở vùng miền nào, dù là ai cũng thấy rất vui mừng, hạnh phúc và tự hào. Với các thi nhân có xúc cảm nhạy bén, niềm vui đó bước vào trong thơ một cách rất tự nhiên.
Bài tập 3: (HS về nhà làm)
Hãy chép lại theo trí nhớ nguyên văn đoạn thơ “Bài ca Côn Sơn” và trả lời câu hỏi sau:
Gợi ý:
1. - Nguyên tác bài thơ bằng chữ Hán đƣợc viết theo thể ca (tự do về số chữ trong câu, số câu trong bài). Đoạn thơ trong bản dịch thơ
1. Thể thơ nào đƣợc sử dụng trong
“Bài ca Côn Sơn”? Thể thơ này có điểm gì khác so với các thể thơ trong
“Sông núi nước Nam”, “Phò giá về kinh”?
2. Đoạn thơ gồm 4 cặp câu lục bát.
Cấu trúc của 4 cặp câu này có điểm gì chung và nêu tác dụng khi xây dựng cấu trúc nhƣ vậy?
3. Biện pháp điệp đƣợc sử dụng trong đoạn thơ nhƣ thế nào? Chỉ ra tác dụng của biện pháp nghệ thuật này?
4. Đoạn thơ có những hình tƣợng nghệ thuật nào? Theo em hình tƣợng nào là trung tâm?
5. Em ấn tƣợng với hình ảnh, chi tiết nào nhất trong đoạn thơ? Tại sao?
6. Dựa vào đoạn thơ, hãy viết đoạn văn miêu tả phong cảnh thiên nhiên Côn Sơn.
sử dụng thể thơ lục bát.
- Điểm khác so với các thể thơ (thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt) trong “Sông núi nước Nam”, “Phò giá về kinh”:
+ Nguồn gốc: Lục bát là thể thơ dân tộc (do người Việt sáng tạo); còn thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt là hai thể thơ có nguồn gốc từ Trung uốc.
+ Số câu: thơ lục bát không hạn định số câu; một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt chỉ có 4 câu.
+ Vần: thơ lục bát có tất cả các câu đều tham gia hiệp vần, gồm vần chân (chữ cuối câu thơ) và vần lƣng (chữ thứ 6 của câu 8), thường là vần bằng. Thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt chỉ có vần ở cuối câu (vần chân), các vần đƣợc gieo ở cuối câu thứ nhất (không bắt buộc), câu thứ hai, thứ tƣ (bắt buộc).
2. Đoạn thơ gồm 8 câu với 4 cặp lục bát đƣợc cấu trúc giống nhau:
- Câu 6 chữ: miêu tả cảnh trí thiên nhiên núi rừng Côn Sơn. Bốn câu 6 chữ nhƣ bộ tranh tứ bình tươi đẹp, yên tĩnh, thanh nhàn.
- Câu 8 chữ: Khẳng định sự hiện diện của con người qua từ “ta”, qua những hành động trực tiếp: nghe, ngồi, nằm, ngâm, qua những cảm nhận về thiên nhiên mang dấu ấn cá nhân:
nhƣ tiếng đàn cầm, nhƣ ngồi chiếu êm.
Tác dụng của cấu trúc này: Tạo nên sự đan cài, đồng hiện, sóng đôi giữa người và cảnh;
cảnh đƣợc chiêm ngƣỡng và tái tạo từ đôi mắt nhìn, đôi tai nghe, từ cảm nhận của nhân vật
“ta”.
3. - Biện pháp điệp đƣợc sử dụng trong đoạn thơ:
+ Điệp từ: “Côn Sơn” (2 lần); “ta” (5 lần);
“nhƣ” (3 lần), “có” (2 lần); “ngồi” (2 lần);
“trong” (3 lần)
+ Điệp cấu trúc: cặp câu lục bát 1 – 2, 3 – 4 lặp lại cấu trúc: Côn Sơn..../ Ta....; cặp 5 – 6, 7 – 8 lặp lại cấu trúc: Trong.../ ...ta...; cả 4 cặp câu lục bát sử dụng cấu trúc biểu đạt giống nhau: câu 6 chữ tả cảnh và câu 8 chữ tả hành động, cảm nhận của nhân vật “ta”.
- Tác dụng:
+ Tạo ấn tƣợng về sự đan cài, hòa quyện