NHÌN TỪ NỘI DUNG CẢM HỨNG
2.4. NỖI NIỀM HOÀI CỔ
Hoài cổ (hoài 懷: nhớ ; cổ 古: xưa) là nỗi niềm luyến tiếc , tưở ng nhớ cái thuộc về xƣa cũ. Hoài cổ là cảm hứng của rất nhiều nhà thơ , nhất là thơ của các nhà Nho từ thế kỷ XIX tr ở về trước. Nhiều nhà Thơ mới cũng đã thể hiện cảm hứng này . Vũ
Đình Liên với “hai nguồn cảm hứng chính l à lòng thương người và tình hoài cổ”
[74,tr.65] đã ta ̣o nên kiê ̣t tác Ông Đồ nhƣ chính nhà thơ tƣ̀ng xác nhâ ̣n vào năm 1941 trong bƣ́ c thƣ gởi cho Hoài Thanh : “Ông chính là cái di tích tiều tu ̣y đáng thương của mô ̣t thời tàn” [74,tr.66]. Mô ̣t ba ̣n thơ trong nhóm Bàn Thành tứ hữu là Chế Lan Viên cũng với nỗi niềm hoài cổ mà đã để la ̣i tâ ̣p thơ đầu tay nổi tiếng Điêu tàn (1937), khẳng định chỗ đƣ́ng trên thi đàn văn ho ̣c lãng ma ̣n bấy giờ . Riêng đối với Quách Tấn, thơ ông cũng mang mô ̣t nỗi niềm hoài cổ.
Cảm hứng về nỗi niềm hoài cổ (khiển hoài) qua thơ ở mục Văn uyển, trên Nam Phong tạp chí, được bộc lộ rõ qua các bài thơ vịnh sử: nhân vật lịch sử nước Nam, nhân vật lịch sử Trung Quốc, có bài vịnh theo thần thoại, truyền thuyết lịch sử. Nội dung và đặc trƣng thi pháp của thơ vịnh sử là để khiển hoài, ngôn chí; để đánh giá, khen chê, lấy bỏ nhƣ nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng đúc kết và nói nhƣ nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn là “dùng để bình luận, đánh giá, phán xét, rút ra bài học lịch sử” [80,tr.102]; ở đó, qua các bài thơ vịnh sử, thường có sự thống nhất giữa chân thực lịch sử và hiện thực cuộc sống. Thơ vịnh sử nhân vật nước Nam trên Nam Phong tạp chí nhiều nhất là vịnh Triệu Ẩu (10 bài), Hai Bà Trƣng (9 bài) chủ yếu là Bà Trưng Trắc, thứ đến là vịnh Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Chẳng hạn, vịnh về Hai Bà Trưng, thì trước đó trong Hồng Đức quốc âm thi tập có ngợi ca:
Tô Định bay hồn vang một trận, Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành.
Sau này, đầu thế kỷ XVI, Đặng Minh Khiêm trong tập thơ vịnh sử chữ Hán Thoát Hiên vịnh sử thi tập cũng tiếp tục ca ngợi vị nữ anh hùng này. Kế tục mạch cảm hứng ấy, trên Nam Phong tạp chí, các tác giả viết:
- Quần thoa đánh đuổi bao quân Hán, Thành quách thu về một cõi Nam. (số 17) - Xông pha trăm trận thánh vương nghiệp, Đánh đổ ba quân của sứ Tàu.(số 50) - Nữ nhi chi khác bậc anh hùng, Thù nước thù nhà quyết trả xong. (số 114) - Phá toang mấy cõi thành Tô Định, Nhẹ bước phong vân chiếm bệ rồng. (số164)
Cũng viết về Hai Bà Trƣng, nhƣng khác với tác giả vịnh sử trên Nam Phong tạp chí, nữ sĩ Ngân Giang trong phong trào Thơ Mới đã khéo léo đƣa vào thơ mình những cách tân nghệ thuật, thêm yếu tố tính nữ vào trong hình tƣợng nhân vật:
Thù hận đôi lần chau khóe hạnh, Một trời loáng thoáng bóng sao rơi.
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm, Gạt gió chim bằng vƣợt dặm khơi.
Ngang dọc non sông đường kiếm mã, Huy hoàng cung điện nếp cân đai.
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa, Tám nẻo mƣa ngàn táp đóa mai.
Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ,
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai.
Hồn người chín suối cười an ủi, Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi.
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận, Non hồng quét sạch bụi trần ai.
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận,
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời...
Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa, Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi.
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi.
(1939)
Thì ra, Ngân Giang đã tái hiện sự nghiệp hiển hách của Trưng Nữ Vương vừa bằng cảm hứng dân tộc lịch sử để tạo ra chất sử thi sảng khoái vừa bằng cảm quan về chính thân phận mình - một người phụ nữ tài sắc mà bơ vơ cô độc giữa cõi đời.
Cái chất nhân văn trong thi phẩm tuyệt tác này là ở chỗ đó, nhất là bốn câu cuối bài.
Nhà thơ Đông Hồ, bạn của nữ sĩ Ngân Giang, trong khi bình giảng bốn câu thơ cuối cùng của bài thơ trên đã sung sướng quá, xúc động quá, nên đã đột quỵ ngay tại giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn vào ngày 25-3-1969!
Riêng Quách Tấn trong hai tập thơ xuất bản trước năm 1945, ông không viết thơ vịnh sử mà chỉ có thơ vịnh cảnh, tức cảnh, cảm hoài. So với các nhà thơ cùng thời, sƣ̣ khác biê ̣t của thơ Quách Tấn về cảm hứng nỗi niềm hoài cổ là ở chỗ nhà thơ nói lên nhƣ̃ng niềm nuối tiếc , luyến tiếc của mình về một thời đã xa , về mô ̣t cái gì
đó trong quá vãng mà không mong có ngày gă ̣p la ̣i ; đó còn là niềm thương nhớ
người xưa, nhất là những mối tình của mô ̣t thời trai trẻ . Có thể bắt gặp tâm tra ̣ng này ở bất kỳ nhà thơ nào, nhƣng Quách Tấn có cái tâm sƣ̣ riêng của ông. Đo ̣c thơ ông, người đo ̣c sẽ cảm nhâ ̣n về một Quách Tấn với dáng hình, tâm tư trĩu nă ̣ng cùng những gì đã ảnh hưởng sâu đâ ̣m đến cả đời thơ của ông. Nói đơn giản hơn, đó chính là những dòng thơ đƣợc viết ra từ cõi lòng chân thật , ghi lại nhƣ̃ng kỷ niê ̣m thâ ̣t , không hề che đâ ̣y hay giấu giếm . Nhƣ̃ng dòng thơ đó “chất nă ̣ng ƣu tƣ , ẩn dấu nhƣ̃ng nỗi buồn xa vắng” nhƣ Đă ̣ng Thi ̣ Hảo đã nhâ ̣n đi ̣nh trong Tƣ̀ điển văn học [24,tr.1470].
Nỗi niềm hoài cổ của Quách Tấn đƣợc thể hiện rõ nhất ở bài “Đêm thu nghe quạ kêu”. Bài thơ được Hoài Thanh ví “có thể sánh ngang với thơ Đường, thơ Tống ngày xƣa” [74,tr.267], và bài thơ này cũng đ ƣợc xem là “sƣ̣ mang nă ̣ng đẻ đau” của chính nhà thơ:
Tƣ̀ Ô Y hạng rủ rê sang,
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng…
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng, Thu sông Xích Bích nguyê ̣t mơ màng.
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc, Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng?
Tiếng dội lƣng mây đồng vọng mãi, Tình hoang mang gợi tứ hoang mang…
Sở dĩ nói bài thơ mang nỗi niềm hoài cổ bởi lẽ theo nhƣ lời th ƣ của Quách Tấn gƣ̉i thi sĩ Bàng Bá Lân: “Nhƣ̃ng thơ của tôi phần nhiều đều có mô ̣t “li ̣ch sƣ̉” và mô ̣t
“tâm sự” . Có bài đã nằm trong người tôi hàng chín , mườ i năm , rồi mô ̣t khi gă ̣p duyên lành liền phát hiê ̣n . Nhƣ bài “Đêm thu nghe quạ kêu” là một . Nguồn cảm xúc bài thơ này nằm trong người tôi ngót 12 năm trời” [73,tr.26].
Trong tác phẩm “Trường Xuyên thi thoại – Những bài thơ kỷ niê ̣m” [73], Quách Tấn đã kể lại lai lịch, hoàn cảnh ra đời của bài thơ . Đa ̣i để là, hồi còn trai trẻ, năm 1927, khi ông còn ở quê nhà , mẹ ông bị bệnh , ông đi bốc thuốc cho bà , khi về
trời tối. Đêm ấy có trăng nhưng không sáng vì trời đầy sương . Trên đường về , vì nghe tiếng đô ̣ng nên bầy qua ̣ thảng thốt , kêu thất thanh , rùng rợn. Tƣ̀ đó tiến g qua ̣ ám ảnh ông. Sau đó me ̣ mất. Nhƣng tiếng qua ̣ vẫn não nùng. Mãi đến năm 1939, khi đã về làm viê ̣c ta ̣i Nha Trang , trong mô ̣t đêm khuya , ông đang ngồi hóng mát với người ba ̣n thơ Nguyễn Đình, lại một lần nữa, ông nghe tiếng quạ kêu rộn ràng. Suốt đêm không ngủ, nhà thơ nhớ mẹ, nhớ bồi hồi làng xưa, nước mắt tuôn trào. Sau đó, nhà thơ cất bút viết bài “Đêm thu nghe quạ kêu”.
Từ đó, người đo ̣c ít nhiều sẽ nhâ ̣n ra được tín hiê ̣u nghê ̣ thuâ ̣t thấp th oáng sau nhƣ̃ng câu thơ . Để hình thành bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” , không chỉ có văn bản với những cấu trúc nghệ thuật thơ biểu hiện trong tác phẩm , mà còn phải tính đến những yếu tố ngoài văn bản , có tác dụng hình thàn h văn bản . Nếu không, sẽ
không thấy hết ý nghĩ a, nghê ̣ thuâ ̣t của tác phẩm . Chính cái nỗi niềm hoài cổ mà Quách Tấn đã thai nghén ý thơ , ngôn ngƣ̃ thơ trong cả 12 năm, đúng mô ̣t giáp trong hê ̣ can chi. Để rồi tƣ̀ cái nỗi niềm hoài cổ trên mà các yếu tố địa lý , văn hóa ám ảnh nhà thơ, tạo ra những liên tưởng , chắp nối để hình thành tác phẩm . Cái thực hóa cái
mô ̣ng, cái thực bớt đi phần cụ thể rùng rợn , thê lương. Bến đò An Thái , con sông Côn, tiếng qua ̣ não nùng chỉ còn trong tâm thức , từ ngữ được ghi la ̣i trên văn bản đã
bị “khúc xa ̣” đi nhiều. Muốn rõ ngo ̣n nguồn la ̣ch sô ng cần tiếp câ ̣n cấu trúc nghê ̣ thuâ ̣t tác phẩm, tiếp câ ̣n cấu trúc văn bản và cả cấu trúc ngoài văn bản. Cái nỗi niềm hoài cổ biểu hiện thông qua tín hiệu nghệ thuật đã thể hiện con người và khuynh hướng nghê ̣ thuâ ̣t nhà thơ.
Cần phải nói thêm rằng , ở bài “Đêm thu nghe quạ kêu” cũng thể hiện một phong cách của Q uách Tấn là thường dùng điển cố , điển tích rất riêng theo phương thức liên tưởng – cảm giác. Những hình ảnh thực , mô ̣ng hiê ̣n ra , ẩn vào đan xen , quấn quít lấy nhau , từ đó hàng loa ̣t điển cố , điển tích Đường thi vốn đã thấ m sâu trong con người cổ điển Quách Tấn dần xuất hiê ̣n trên trang giấy , trên những dòng thơ. Về ý tưởng , bài thơ không chỉ bắt nguồn từ cảm xúc thật của tác giả , mà còn chịu ảnh hưởng từ ba bài thơ nổi tiếng đời Đường mà ở trước luận văn có nhắc đến.
Chính nỗi niềm hoài cổ mà Quách Tấn đã để lại cho hậu thế một kiệt tác , đồng thời vi ̣ trí của ông càng được khẳng đi ̣nh trên thi đàn Viê ̣t Nam . Bên ca ̣nh đó , bạn đo ̣c cũng thích thú , tò mò trước nỗi niềm hoài cổ của ông, bởi lẽ bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” được thai nghén đúng mô ̣t giáp tròn , hình thành trong nửa đêm . Rồi đến hai năm sau (1941) mới được sửa chữa la ̣i . Đồng thời, có một sự ngẫu nhiên lạ lùng: Quách Tấn bi ̣ tiếng qua ̣ ám ảnh vào năm Đinh Mão (1927), rồi viết bài thơ này vào năm Kỷ Mão (1939), sau đó tác giả viết lại sự tích, hoàn cảnh ra đời bài thơ vào năm Quý Mão (1963) gởi cho Bàng Bá Lân . Ba năm Mão gắn với mô ̣t b ài thơ.
Âu cũng là thiê ̣n duyên!
Nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ còn thể hiê ̣n trong bài “Mộng thấy Hàn Mặc Tƣ̉”: Ôi Lê ̣ Thanh ! Ôi Lê ̣ Thanh,
Một giấc trƣa nay lại gặp mình.
Nhan sắc châu phun màu phú quý, Tài hoa bút trổ nét tinh anh.
Rượu tàn thu cũ say sưa chuyê ̣n, Hưởng tạ trời cao bát ngát tình.
Tôi khóc tôi cười vang cả mộng, Nhớ thương đưa lạc gió qua mành.
Bài thơ in trong “Mùa cổ điển” (1941) được Quách Tấn viết vào khoảng 1939-1940. Có thể xem đây là một bức thƣ bằng thơ của Quách Tấn gởi cho Hàn Mă ̣c Tƣ̉ sau mô ̣t giấc mô ̣ng đe ̣p ban trƣa. Mở đầu bài thơ là tiếng go ̣i ba ̣n đến hai lần. Tiếng go ̣i nhƣ dồn chƣ́a nỗi niềm thiết tha nhớ ba ̣n . Nhớ ba ̣n là nh ớ những vần thơ như châu phun, nét bút tinh anh của bạn. Nhớ ba ̣n, nhà thơ đã khóc, cười vang cả mộng. Trên thực tế thì lúc bấy giờ Hàn Mă ̣c Tử đã vào nhà thương ở Quy Hòa (Quy Nhơn), nhƣng trong mộng la ̣i thấy Tƣ̉ la ̣i sắc sả o mă ̣n mà hơn xƣa. Phải chăng Quách Tấn biết mình sắp phải “chia xa” Hàn Mặc Tử , mình sắp mất đi một tri âm tri kỷ nên nhà thơ đã “hoài cổ” , nhớ la ̣i nhƣ̃ng hình ảnh đe ̣p về ba ̣n , giƣ̃ la ̣i nhƣ̃ng nét thanh xuân nhất về bạn ? Có thể thấy chữ “tôi” trong bài này rất mới, cảm xúc dâng tràn ít thấy trong thơ cổ.
Có thể nói, làm thơ là để gởi gắm cõi lòng . Quách Tấn cũng thế . Thơ của ông thường khắc ghi những kỷ niê ̣m về mô ̣t thời đã xa , khó lòng gặp lại . Đó còn là nhƣ̃ng kỷ niê ̣m đe ̣p về nhƣ̃ng mối tình của thi nhân mô ̣t thời trai trẻ với Liên Tâm , với Chƣ́c Thành . Chính những mối tình ấy đã làm nên chất men để góp phần tạo cảm hứng cho thi nhân đề thơ , mà trong hồi ký Bóng ngày qua, nhà thơ có nói rất rõ. Cũng không phải ngẫu nhiên mà nhan đề các tập thơ của ông đã mang cái ý hoài niê ̣m, tưởng nhớ một thời đã xa như : Một tấm lòng, Mùa cổ điển, Đọng bóng chiều, Mộng Ngân Sơn…