CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 95 - 103)

NHÌN TỪ NỘI DUNG CẢM HỨNG

2.3. CẢM HỨNG VỀ QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC

Đề tài và cảm hứng về quê hương đất nước là một truyền thống lớn, một nội dung chủ yếu và cũng là chủ đề xuyên suốt của văn học Việt Nam. Qua đề tài - cảm hứng này, các tác giả đã bộc lộ lòng yêu quê hương đất nước của mình và ít nhiều

đã truyển tải tình yêu ấy đến với người đọc. Cảm hứng về quê hương đất nước trong thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ không chỉ thể hiện trong bộ phận văn học cách mạng mà còn thấy thấp thoáng trong bộ phận văn học công khai hợp pháp. Trên báo chí, nhiều lúc các tác giả muốn bộc lộ lòng yêu nước thương nhà của mình nhưng vì chế độ kiểm duyệt quá gắt gao của thực dân nên họ phải tìm cách nói quanh co, bóng gió, kín đáo. Có thể nêu ra đây một vài thi phẩm viết theo thể thơ Đường luật của vài tác giả cùng thời với Quách Tấn. Giang Hồ Du Tử trong bài Đọc sử cảm vịnh đã cất lời kêu gọi kín đáo: “Bốn nghìn năm lẻ đắp xây nên,/ Dân chẳng ngu si nước chẳng hèn./ Muôn dặm non sông màu gấm vóc,/ Một đoàn con cháu giống rồng tiên./ Thịnh suy ngắm lại gương tang hải,/ Thời thế trông vào bạn thiếu niên./ Nhắn nhủ ai ơi nên gắng sức, Võ đài này chính buổi đua chen. (Đọc sử cảm vịnh - Giang Hồ Du Tử). Nguyễn Văn Năng sau khi gợi lại một thời oai hùng của cha ông nhƣ Đinh Bộ Lĩnh với ngọn cờ lau, dòng Bạch Đằng với chiến công hiển hách của Ngô Quyền, của Trần Quốc Tuấn ở câu thực và luận thì nhà thơ đã than thở cho vận nước suy vi ở câu đề và kết: “Bâng khuâng hồn nước cũ,/ Đau đớn nhớ người xưa.

(…) Trời đất này ngao ngán,/ Lòng ai bối rối tơ.” (Nhớ - Nguyễn Văn Năng). Và trong câu thực:“Nhớ người chưa ráo đôi hàng lệ,/ Đợi nước thêm đau một tấm lòng”; câu kết: “Phen này tỉnh dậy xem sao đã, Nam tử sao đành phụ núi sông.”

trong bài Đêm không ngủ của Nguyễn Văn Năng cũng thể hiện nội dung vừa nêu.

Một số tác giả thì dùng thể Đường luật với bút pháp trào phúng để công kích những tên tay sai bán nước cầu vinh, mà những thi phẩm này có bài được đăng trên báo chí tiến bộ công khai như Lê Quang Chiểu với bài Mắng Tôn Thọ Tường; Lê Cương Phụng với bài Trở về Huế; Phan Điện với bài Vịnh Hoàng Cao Khải… Tất cả đều là những thi phẩm chứa chan lòng yêu quê hương đất nước.

Với thơ Đường luật của Quách Tấn, trong hồi ký Bóng ngày qua, nhà thơ cho biết tập Bó hoa rừng với 50 bài thơ Đường luật của ông và Hàn Mặc Tử sở dĩ không dám cho xuất bản vì trong lời đề Tựa, nhà chí sĩ Sào Nam Phan Bội Châu đã hạ bút khen “hai ngọn bút có lực”, “hai mảnh hồn thắm thiết nghĩa non sông” mà theo hồi ký của Quách Tấn thì: “thời bấy giờ ngấm ngầm yêu nước mà có khi còn bị tù tội, huống hồ nỗi lòng gởi gắm vào thơ “bị” bậc cách mạng lừng danh “phác giác”. Nỗi mừng không thắng nỗi sợ…” [71,tr.192].

Có thể nói Quách Tấn là một nhà thơ yêu thiết tha và tự hào về nhƣ̃ng cảnh vật của quê hương đất nước . Hình ảnh quê hương đất nước được nhà thơ ghi lại trong nhiều thi phẩm . Đó là những thắng cảnh của quê hương mà ông đã tái hiê ̣n qua sự

cảm nhận riêng . Sáng tác thơ về cảnh đẹp , không chỉ là ghi la ̣i nhƣ̃ng kỷ niê ̣m để

ghi dấu những đi ̣a danh mà bước chân nhà thơ đã từng đến , mà còn là cách để thi nhân giãi bày , bô ̣c lô ̣ nỗi niềm đối với quê hương đất nước xiết bao tự hào . Hình ảnh quê hương trong th ơ Quách Tấn là những nơi chốn ông đã đi qua , là quê nhà nơi gia đình đang đoàn tu ̣.

2.3.1. Quê hương đất nướ c: những nơi chốn đã đi qua

Sinh thời, Quách Tấn bôn ba nhiều nơi và đi đến đâu thi sĩ cũng đều để lại những bài thơ hay viết về thắng cảnh quê hương với mô ̣t tình yêu da ̣t dào pha lẫn niềm tự hào về đất nước đe ̣p giàu.

Đây là cảnh Đà La ̣t trong bài thơ “Đà Lạt đêm sương” mà ở trên có giảng bình, giờ xin được nhắc la ̣i để thấy cái tình c ủa thi nhân đối với thắng cảnh quê hương. Đó là vẻ đe ̣p của ánh trăng phản chiếu lón g lánh trên mă ̣t hồ phẳng lặ ng, trong khi thời gian đang chầm châ ̣m trôi . Nhà thơ đang đứng tựa bên bờ hố ngắm cảnh mà ngỡ mình nhƣ đang bên bờ suối ngo ̣c, thả hồn theo cảnh , nhâ ̣p vào cảnh như đang say, đang mô ̣ng. Sương từ đâu ùa về làm cho trăng in mă ̣t hồ tan biến , bờ

suối ngo ̣c cũng mất , và con người như đang chông chênh cõi hư vô ; khi đó ta có

cảm giác nhƣ đất trời đang tan ra trong suốt , tƣ̣a thủy tinh, mà ở trên vừa trích dẫn.

Phải có con mắt quan sát tinh tế , phải có tấm lòng hòa điệu , phải có một thế đứng đă ̣c biê ̣t , nhà thơ mới bao quát đƣợc toàn bộ khung cảnh , mớ i có nhƣ̃ng câu thơ

“huyền ảo” cùng ánh trăng “bãng lãng”, cùng sương mù nơi xứ cao nguyên thơ mô ̣ng này !

Còn đây là cảnh cố đô Huế với sông Hương núi Ngự thơ mô ̣ng. Phong cảnh xứ

Huế tuyê ̣t đe ̣p , đe ̣p từ ngo ̣n núi dòng sông tĩnh lă ̣ng , hiền hòa, đe ̣p từ những vườn cây chìm trong sương khói với những cu ̣m thanh trà , chùm long nhãn , đe ̣p từ cung điê ̣n thâm nghiêm , chùa đền cổ kính , lăng tẩm cô liêu… Tất cả bao trùm mô ̣t bầu không khí buồn dìu di ̣u như cảnh hoàng hôn mùa thu . Người ta thường ví Huế với người cô phu ̣ nhớ chồng nơi xa , nằm mơ màng bên cửa sổ , màu núi Ngự là vầng trán, sông Hương là đôi mắt và cung lăng chùa miếu là những viên bích ngo ̣c kim

cương cài nơi mái tóc , đeo nơi ngực nơi tay , quả thật đúng như thế . Thâ ̣t là đầy mô ̣ng đầy thơ ! Bài thơ “Thu Tràng An” được viết khi tác giả cùng với Chế Lan Viên đi thăm Huế, ít nhiều thể hiện dáng trầm mặc của cố đô . Đêm thất ti ̣ch (mùng 7 tháng 7 âm lịch) đã buồn, bởi gắn với mối tình Ngưu Lang – Chức Nữ, dù đêm ấy họ trùng phùng sau một năm dài xa cách , nhớ thương; đêm ấy thi nhân càng buồn thêm vì đang xa quê , trên bước giang hồ , nhớ về cố lý (quê cũ ). Cảnh buồn đến chăn gối cũng trễ trà ng, trong khi gió trăng thì chờn chợ, mờ ảo; lòng người cũng buồn nên âm điê ̣u bài thơ cũng mang mô ̣t điê ̣u buồn tiêu tao:

Thân không hò he ̣n bước giang hồ, Để lẻ hoa vàng tiết rụng ngô.

Chăn gối trễ tràng đêm thất tịch, Gió trăng chờn chợ bến hoàng đô.

Xuân tàn ngọn sáp tâm còn bén, Thu ấm lò nghê đúc chẳng cô.

Đành cũng nước mây niềm cố lý, Mừng tin sương sớm tạnh đầm ô.

Và đây là cảnh hoàng cung hoang tàn theo thời gian trong bài “Rụng tiếng vàng”, “Thế miếu” chỉ còn là phế tích, “gầy gọ”trong gió sương của buổi chiều thu nắng nha ̣t , tiếng qua ̣ rô ̣n ràng . Chỉ cần nhìn cảnh , người đo ̣c cũng đã nhâ ̣n ra nỗi buồn của thi nhân cùng với mây chiều man mác:

Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng, Sầu vương lau lách lạnh thành hoang.

Tro tàn thƣ viê ̣n duyên ngao ngán, Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng.

Gầy gọ gió sương từng Thế miếu, Bẽ bàng trăng nước trúc Hương giang.

Trông vời Thiên Mụ mây man mác, Lơ lƣ̉ng chuông hôm rụng tiếng vàng.

(Rụng tiếng vàng)

Hoă ̣c bài “Lại viếng Hương giang” viết về cảnh dòng sông êm ả , sóng lặng, trăng soi bóng nước , tiếng chuông chùa Thiên Mụ vang trong gió làm cho thi nhân ngâ ̣p ngƣ̀ng:

Sóng lặng Trường Tiền trăng để nhớ, Chuông hồi Thiên Mụ gió đưa thương.

Ngập ngừng lối cũ vườn Thương Bạc, Bẻ nhánh hoa về ấp ủ hương.

(Lại viếng Hương giang)

Trong tập thơ Một tấm lòng , Quách Tấn viết nhiều về những vùng đất , nơi chốn mà bước chân nhà thơ từng đi qua , để ghi lại nỗi niềm cảm xúc đối với cảnh . Chẳng ha ̣n, đến Chợ Lớn , nhà thơ tự hỏi đây là nơi trung tâm phố phường s ao la ̣i vắng vẻ? Chùa Cây Mai xƣa kia là nơi bao tao nhân mặc khách đến viếng cảnh làm thơ, nay la ̣i vắng bóng trăng tà ? Nghĩ kỹ, cảnh buồn vắng bởi quê hương đang bị giă ̣c Pháp chiếm đóng (Đến Chợ Lớn cảm hoài).

Đi ngang qua Phú Yên, nhà thơ cũng ghi lại những gì trông thấy : đây đỉnh núi Cù Mông, nọ Vũng Rô , con đường thiên lý, vườn dừa mé biển , rẫy bắp bên sườn núi, chuông ngân nơi Nha ̣n Tháp, gió lộng đầm Ô Loan, mây phủ ngo ̣n Đá Bia v .v..

(Qua Phú Yên tƣ́c cảnh).

Đến Đà La ̣t , cảnh nơi đây thơ mộng nên tác giả sáng tác nhiều thơ . Ngoài bài Đà Lạt đêm sương đã dẫn ở trên, trong tập thơ Một tấm lòng, Quách Tấn còn viết thêm bảy bài ngợi ca cảnh đe ̣p Đà La ̣t : Phong cảnh Đà Lạt, Cảnh hồ Đà Lạt, Cảnh Cam Ly, Lại đến Cam Ly , Cảnh Djiring, Mùa đông ở Đà Lạt cảm hoài , Mùa hạ ở

Đà Lạt cảm hoài . Đây là sáu câu đầu bài Phong cảnh Đà Lạt: “Thị thành pha lẫn thú lâm tuyền,/ Dẫu chẳng Bồng lai thế cũng Tiên,/ Hoa cỏ vẽ vời tranh thuỷ mạc,/

Lâu đài tô điểm cảnh thiên nhiên./ Ngày vui non gió thơ đầy túi,/ Đêm thưởng hồ trăng rƣợu nặng thuyền.” Còn đây là cặp thực và luận bài Cảnh hồ Đà Lạt: “Lâu đài giợn bóng quanh ba mặt,/ Hoa cỏ lồng gương mướt bốn mùa./ Đêm tạnh sương pha màu thuỷ trắng,/ Ngày thanh nước nhuộm sắc trời thu.”

Về Bình Đi ̣nh, về la ̣i nơi chôn nhau cắt rốn , thi nhân đã viết năm bài : Chơi bãi Quy Nhơn cảm hoài , Cảnh chùa ông Núi , Đá Vọng phu (02 bài) và Cảnh Phú

Phong. Cảnh Phú Phong là bài thơ trực tiếp viết về quê mình . Phú Phong ngày xƣa

thuô ̣c huyê ̣n Bình Khê , có thời Phú Phong cũng là tên huyện , nay là thi ̣ trấn thuô ̣c huyê ̣n Tây Sơn . Bài thơ nhắc đến những tên đất , tên sông, tên núi thân quen nhƣ : Phú Phong, Bình Khê, Núi Chúa, Sông Côn, Cây Cốc , Đồng Hưu, Cổ Bàn (thành Đồ Bàn), Hầm Hô bằng mô ̣t tình cảm tự hào về quê hương . Đây là mô ̣t miền quê với đất đai màu mỡ tươi tốt nên “cây sum trái”, “nước khỏa dòng” và là một miền đất ghi dấu anh hùng . Chính các địa danh xuất hiện trong thơ ông tạo nên không gian hiện thực chứ không ƣớc lệ, mà ở trên luận văn có nhấn mạnh:

Tiếng hạt Bình Khê đất Phú Phong, Ruộng nương màu mỡ chợ làng đông.

Chàm pha Núi Chúa cây sum trái, Lụa trải Sông Côn nước khỏa dòng.

Cây Cốc phố phường danh Tấn sĩ, Đồng Hưu đồn lũy dấu anh hùng.

Cổ Bàn non nước còn thiêng mãi, Có thuở Hầm Hô cá hóa rồng.

(Cảnh Phú Phong)

2.3.2. Quê hương: nơi gia đình đang sinh sống và đoàn tu ̣

Viết về những cảnh đe ̣p của quê hương , Quách Tấn không thể không nói đến nơi vùng đất mình sinh sống , nơi gia đình đang đoàn tu ̣ . Nha Trang , miền thùy dương cát trắng với bốn mùa nắng gió lồng lô ̣ng mát mẻ, hàng dừa bên bờ đung đưa theo làn gió biển , nơi đó có đàn chim én tung bay trên trời xanh , trên biển sóng nhấp nhô. Đó là nhƣ̃ng hình ảnh gần gũi , quen thuô ̣c xung quanh nhà của ông , mà ngày ngày nhà thơ đã chƣ́ng kiến rồi ghi la ̣i nhƣ̃ng vẻ đe ̣p tinh tế ấy bằng cả tấm lòng dạt dào tự hào về cảnh đẹp quê hương . Bài thơ “Bên sông” là một trong nhiều bài viết về cảnh vật xung quanh nhà , nơi đó có cái đầm rô ̣ng lớn , nối liền với dòng sông Cái (sông Nha Trang ) chảy ra vịnh Nha Trang (biển Đông ). Ngày xƣa , nơi khúc đầm ấy có nhiều cảnh thơ mộng , đêm có ánh trăng trải trên sông , thuyền bè

qua la ̣i với tiếng hát trầm bổng ; ven bờ là hàng liễu rủ . Cảnh ấy giờ đây không còn nữa, bởi đô thi ̣ hóa . Đầm nước nay bị lấp đi , chỉ còn lại tên chợ nổi tiếng, là trung tâm thương mại của Nha Trang, Khánh Hòa: Chợ Đầm. Cảnh ngày xưa trước nhà đã gơ ̣i ý tƣ́ cho thi nhân viết bài thơ “Bên sông” mà ở trên đã dẫn. Bài thơ là niềm cảm

khái của thi nhân trước cảnh . Cảnh đầm Xương Huân còn gây nhiều cảm hứng cho nhà thơ một tình cảm đậm đà hương vị:

Nào là: Thuyền cỏ hiu hiu gió Bích Đầm.

Hay: Én liệng đầm Xương Huân, Đường Gaffeux lan nở.

Hoă ̣c ánh nắng trên bến Hà Ra gần nhà , xa hơn là chùa Hải Đƣ́c trên đồi Trại Thuỷ ở Phương Sơn với tiếng chuông ngân , trước mă ̣t là đàn én dê ̣t trong buổi chiều xuân … Tất cả được thi nhân mở lòng đón nhâ ̣n với niềm vui ra ̣ng rỡ:

Ngừng bút trước ra sân, Non xa xích lại gần.

Bến Hà Ra nắng đọng, Chùa Hải Đức chuông ngân.

Cỏ biếc chuồng xây mộng, Mây hường én dê ̣t xuân.

Hoàng hôn lòng mở rộng, Mày nguyê ̣t nét thanh tân.

(Bài thơ ra sân, tập Mây cổ tháp - 1972)

Ở bài “Vọng phu thạch” (I, II), tuy là tả cảnh thiên nhiên nhƣng trên cả là

tình yêu quê hương đất nước , mô ̣t tình yêu quê hương đất nước thâ ̣t son sắt thủy chung chẳng khác nào tình nghĩa đá vàng của vợ chờ chồng đến mòn mỏi , cạn kiệt dòng lệ. Hình ảnh đá vọng phu là một hình ảnh quen thuộc ở Việt Nam , đă ̣c biê ̣t là

ở dãi đất miền Trung , nó đã đi vào truyện kể dân gian thật cảm đô ̣ng. Nếu nhƣ ở

Lạng Sơn có nàng Tô Thị thì khắp vùng duyên hải Nam Trung bộ , hình ảnh này ẩn hiê ̣n trong làn sương, thấp thoáng trong màu xanh ba ̣t ngàn của núi rừng:

Vọng phu thạch (Bài chị) Chồng đi biê ̣t tích tƣ̣ bao giờ, Đất đổi trời thay vẫn cứ chờ.

Lụy nhớ mƣa ngàn luôn nƣợp nƣợp, Tóc thề mây núi bạc phơ phơ.

Non chồng nghĩa nặng cao vời vợi, Nước vướng tình sầu chảy lửng lờ.

Dâu bể đã bao đời kiếp trải, Lòng son một tấm mãi trơ trơ.

Vọng phu thạch (Bài em) Người đã không về tin cũng không, Đầu non dắt trẻ đứng trông chồng.

Nước mây quạnh vắng tròng khô lê ̣, Mƣa nắng phôi pha má lợt hồng.

Lời thê ̣ vƣ̃ng ghi lòng sắt đá,

Khối tình riêng nặng gánh non sông.

Nỗi niềm ai biết, không ai biết.

Gương nguyê ̣t nghìn thu rạng biển đông.

Bài “Ngậm đắng” trong tập “Đọng bóng chiều” viết về Am Chú a (huyê ̣n Diên Khánh, Khánh Hòa), nơi Thánh Mẫu Thiên Y A Na thác sinh, để qua đó nhà thơ bộc lô ̣ nỗi niềm cảm khái của mình trước cảnh. Bài thơ được viết theo thể thất tuyệt, dựa vào sự tích xưa về Thánh Mẫu đầu thai làm con của ông bà trồng dưa , sau đó cưỡi hạc lên Tiên, mà câu đầu của bài thơ nghe n hƣ mang hơi thơ của Thôi Hiê ̣u trong bài “Hoàng Hạc lâu”:

Người tiên cỡi hạc đi không lại, Non Dƣa vắng vẻ cảnh am Tiên.

Theo thời hoa cỏ đua màu thắm, Ngậm đắng riêng đôi khóm mã tiền.

(Ngậm đắng)

Cũng là viết về Thánh Mẫu , nhƣng đây cảnh tháp Bà Thiên Y A Na ở Nha Trang, lặng lẽ trên đồi Cù Huân , cạnh dòng sông Cái , bên cầu Hà Ra , trong đêm trăng rƣ̣c sáng , trăng ro ̣i khắp bến sông , còn bầu trời thì mây trôi trên bóng tháp , lòng nhà thơ như cảm nhận đươ ̣c ý vi ̣ thần tiên qua hình ảnh trầm hương:

Dòng mây trôi cổ tháp, Trăng ngập bến Hà Ra.

Phảng phất cơn trầm thoảng, Trời Thiên Y A Na.

(Bóng trầm hương, tập Mộng Ngân Sơn)

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 95 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(167 trang)