Những cách tân về ngôn ngữ - hình ảnh thơ

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 122 - 132)

NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN

3.2. QUÁCH TẤN VỚI NHỮNG CÁCH TÂN VỀ NGÔN NGỮ THƠ

3.2.2. Những cách tân về ngôn ngữ - hình ảnh thơ

Nếu tiếng thơ thường hướng tới sự giao thoa , tương thông giữa con người với thiên nhiên , nhà thơ thường đặt cái “tâm” giữa thi ên nhiên , vạn vật , tạo nên cảm giác hòa điệu giữa đời sống tâm linh với ngoại cảnh , thì những từ “sơn, thủy, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong” sẽ đƣợc xuất hiện với tần số rất cao . Nói nhƣ Nguyễn

Thị Bích Hải trong Thi pháp t hơ Đường là “thơ thể hiện con người vũ tru ̣” [20].

Chính vì thế , nhƣ̃ng tác phẩm thơ của Quách Tấn “nhà thơ Mới mang phong cách Đường thi” cũng không nằm ngoài mạch chảy này .

Trong nhƣ̃ng tâ ̣p thơ của Quách Tấn , lấy Mùa cổ điể n làm ví dụ minh họa , để

“mổ xẻ”, thống kê nhƣ̃ng khung bâ ̣c tƣ̀ ngƣ̃ vƣ̀a nêu, ta nhâ ̣n thấy:

- “Gió” (phong) : xuất hiện trong “gió trải tƣ̀ mây” , “gió vàng” , “gió rải khắp nơi nơi”, “gió mƣa” (2 lần), “dì gió”, “gió hôn hoa”, “ngọn gió”, “hồn gió”,

“gió qua mành” , “gió văn chương” , “gió bấc”, “mưa gió”, “chi ̣ gió”, “ngọn gió

hương”, “bay theo gió” , “giórú”, “gió”, “cành gió” , “gió về‟ , “gió tự mô về” ,

“gió hồi hộp cây”, “gió thu”, “ngọn gió vèo”, “gió sương”. Tất cả 25 lần trên tổng số 36 bài thơ trong tập Mùa cổ điển, chiếm tỷ lê ̣ 69,4%.

- “Mây” (vân): “Nhàn vân”, “tờ mây”, “mây trắng”, “lƣng mây”, “mây ấp nguyê ̣t”, “mây rộng” , “mây xa” , “mây chiều” , “nước mây” (2 lần), “mây qua chái”, “mây thu”, rồng mây”, “bèo mây”, “non mây”, “mây nước”, “từng mây”,

“mây ủ ê trời”, “mây phới”, “mây núi”. Tất cả 20 lần chiếm tỷ lê ̣ 55,5%.

- Sương: xuất hiện trong “rừng sương”, (2 lần), “sương thấp thoáng” , “theo sương”, “sương mai”, “sương rơi”, “sương buông”, “màn sương”, “pha sương”,

“nắng sương”, “trong sương”, “cành sương”, “cỏ sương”, “phân sương”, “ngàn sương”, “vườn sương” , “đồi sương”, “sương bạc” , “gió sương” . Tất cả 19 lần, chiếm tỷ lê ̣ 53%.

- “Trăng” (nguyê ̣t) : xuất hiện trong “nguyê ̣t mơ màng” , “thân gầy với nguyê ̣t”, “mây ấp nguyê ̣t” , “một trăng cao” , “tóc trăng” , “nàng trăng” , “trăng hôn lá”, „gương nguyê ̣t”, “trăng dầm gối” , “nường trăng”, “bến nguyê ̣t”, “bóng trăng run” , “trăng lại tròn trăng” , “chở nguyê ̣t” , “neo nguyê ̣t” . Tất cả 15 lần, chiếm tỷ lê ̣ 42%.

- “Thủy” (nước): xuất hiện trong “Sóng mài nghiên biển” , “sông chau mặt” ,

“Sông Xích Bích” , “nước trôi xuôi” , “nước mây” (2 lần), “biển Đông” , “biển nước”, “gởi nước non ai” , “mây nước” , “gương nước” , “sông đừa” , “nước vướng”, “trời biển”, “sóng trằn trọc biển”. Tất cả 15 lần, chiếm tỷ lê ̣ 42%.

- “Hoa” : xuất hiện trong “thiếu nƣ̃ bƣng hoa” , “gió hôn hoa” , “hồn hoa chợp mộng” , “luống cúc già” , “hoa đẫm hương” , “bóng hoa nô đùa” , “lê ̣ hoa

rơi”, “cánh hải đường” , “cúc vẩn vơ hồn” , “cúc nở nhìn nhau” , hoa tỉ muội” ,

“rèm hoa”, “hoa thơm”. Tất cả 13 lần, chiếm tỷ lê ̣ 36, 1%.

- Thu : xuất hiện trong “trời thu”, “thu sông Xích Bích” , “rƣ̀ng thu”, “giọt mưa thu” , “sông thu” , “mây thu” , “mấy lượt mưa thu” , “thu mờ”, “vườn thu” ,

“hồn thu”, “gió thu”, “phòng thu”. Tất cả 12 lần, chiếm tỷ lê ̣ 33,3%.

- Sơn (núi) : xuất hiện trong “núi bạc đầu” , “Hàn sơn”, “non côi”, “non gối nước”, “đầu non” , “non mây” , “mây núi” , “non chồng” , “vàng lửng lo non” ,

“ngòi non chấm”. Tất cả 10 lần, chiếm 28%.

- Liễu: xuất hiện trong “nương rèm liễu” , “liễu riêng xuân” , “dưới liễu chờ

xuân”, “rừng dương liễu”, “tóc liễu”, “liễu nép tường”, “liễu rối bời”, “liễu nhởn nhơ”, “ngàn liễu khóc”, “vườn túy liễu”. Tất cả 10 lần, chiếm tỷ lê ̣ 28%.

- Nhạn : xuất hiện trong “nhạn đề”, “vội vàng cánh nhạn” , “nhạn lạc trời” ,

“nhạn lạc đàn”, “lòng bạch nhạn”, “đƣa thƣ nhạn”. Tất cả 6 lần, chiếm tỷ lê ̣ 17%.

- Yên (khói) : xuất hiện trong “quây quần mây khói”, “nghê phơi khói”, “khói trần gian” , “khói mây quanh quẩn hồi chuông rụng” . Tất cả 4 lần, chiếm tỷ lê ̣ 11%.

- Đi ̣ch : xuất hiện trong “tiếng đi ̣ch”, “tiếng đi ̣ch xa”, “tiếng đi ̣ch dồn”, “lòng nương tiếng đi ̣ch”. Tất cả 4 lần, chiếm tỷ lê ̣ 11%.

Sở dĩ luâ ̣n văn cho ̣n tâ ̣p thơ Mùa cổ điển để thống kê nhằm làm ví dụ minh họa cho “cách dùng tƣ̀ ngƣ̃ có đổi mới” của Quách Tấn, bởi lẽ vi ̣ trí của tâ ̣p thơ trên thi đàn đã được các nhà phê bình đánh giá rất cao và so với các tâ ̣p thơ khác thì đây cũng là tập thơ tâm đắc và chất chứa nhiều kỷ niệm của Q uách Tấn.

Nếu thơ ngày xưa , các thi nhân thường ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên thì trong thơ Quách Tấn , những từ ch ỉ thiên nhiên như :“phong, vân, sương, nguyê ̣t, thủy, hoa, thu, sơn, liễu, nhạn, yên, địch...” có tần số xuất hiện cao . Đây là nhƣ̃ng tƣ̀ mà

thơ cổ ƣa dùng , và Quách Tấn đã nối tiếp bút pháp , cách dùng từ đó của các tiền nhân.

Nhƣng nét khác biê ̣t giƣ̃a cách dùng tƣ̀ của Quách Tấn nếu so sánh với các cụ ngày xƣa, có lẽ ở chỗ Mùa cổ điển tiếp nối cái cũ và hô ̣i nhâ ̣p cái mới . Về khía ca ̣nh này, tƣ̀ ngƣ̃ trong tâ ̣p Mùa cổ điển có thể chia thành ba loại : loại từ ngữ dùng trong

thơ cũ, loại từ ngữ dùng trong thơ mới hoặc thơ cũ đều đƣợc , và loại từ ngữ dù ng trong thơ mới.

Chẳng ha ̣n, từ “nguyê ̣t” (trăng) có tần số xuất hiện 15 lần được phân thành.

Loại 1: gồm “gương nguyê ̣t nghìn thu” , tần số xuất hiện mô ̣t lần , chiếm tỷ lê ̣ 6,6%. Vì “gương nguyê ̣t” đứ ng bên ca ̣nh từ ngữ cũ “nghìn thu”, nên cụm từ ,

“gương nguyê ̣t nghìn thu”, thuộc loa ̣i từ ngữ dùng trong thơ cũ.

Loại 2: gồm “Nguyê ̣t mơ màng” , “mây ấp nguyê ̣t” , “nàng trăng” , “nường trăng”, “bến nguyê ̣t”, “chở nguyê ̣t”, “neo nguyê ̣t”, tần số xuất hiện 7 lần, chiếm 46,6%. Vì những nhóm từ này mang tính chất trung tính , không biểu hiện rõ tính khác biệt giữa cũ và mới nên các nhóm từ này thuộc loại từ ngữ dùng trong thơ cũ , thơ mới đều được.

Loại 3: gồm “thân gầy với nguyê ̣t”, “một trăng cao”, “tóc trăng”, “trăng hôn lá”, “trăng dầm gối”, “bóng trăng run”, “trăng lại tròn trăng”. Tần số xuất hiện 7 lần, chiếm 46,6%. Vì mang tính chất dấu ấn cá nhân cá tính sáng tạo , biểu hiê ̣n rõ

tính khác biệt giữa cũ và mới nên các cụm này thuộc loại từ ngữ trong thơ mới . Nhƣ̃ng điều vƣ̀a trình bày trên đây càng khẳng đi ̣nh thêm bút lƣ̣c tài hoa của Quách Tấn, mô ̣t thi sĩ thuô ̣c phong trào thơ Mới nhƣng hơi thơ mang đâ ̣m sắc thái Đường thi, đồng thời trong “cái cũ” vẫn nhận thấy “cái mới”, “cái tôi sáng tạo”

của Quách Tấn.

3.2.2.2. Cách dùng từ ghép nghĩa trên cơ sở láy âm (từ ghép - láy)

Đây là sƣ̣ sáng ta ̣o đă ̣c biê ̣t trong cách cho ̣n tƣ̀ , dùng từ của Quách Tấn nhằm đa ̣t được mu ̣c đích câu thơ mang sắc thái biểu cảm cao.

Đi vào ví du ̣ cu ̣ thể : “Khói mây quanh quấn hồi chuông vọng , / Trời biển nôn nao tiếng đi ̣ch dồn.” (Chiều xuân)

Duyên ngô ̣ đằm thắm không xa, “quanh quẩn” gần đây và “quấn quít”, không rời nhau của tƣ̀ ghép nghĩa “quanh quấn”, mang tính hàm súc trong câu thơ trên bắt đầu tƣ̀ mô ̣t buổi chiều xuân.

Buổi chiều xuân trong bài thơ này nằm ở giao điểm nắng chiều di ̣u dần và

bóng hoàng hôn đang ch ờ chực sẵn “Chim mang về tổ bóng hoàng hôn” . Non xa lƣ̉ng lơ mô ̣t màu vàng của nắng chiều xuân vắt ngang trên lƣng trời , và trong không gian mờ xa , nắng chiều dìu di ̣u không sáng hẳn , xa xa khó phân biê ̣t đâu là biển ,

đâu là bờ, thì cồn cát kia đọng một màu xanh biếc của biển , “vàng lƣ̉ng lơ non biếc đọng cồn”. Hương củ a gió trên cành cây làm lao xao hoa tỉ muô ̣i . Sóng của đồi sương lươ ̣n trên cỏ “Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn” . Tất cả những nét đe ̣p đó

đều nằm trong không gian nắng chiều dìu dịu , mờ xa được miêu tả ở mấy câu thơ trên.

Vì vậy, theo lôgic cấu tƣ́ của bài thơ , không gian chiều xuân với đă ̣c điểm mờ

xa trong nắng chiều vàng dìu di ̣u được chuyển tiếp:

Khói mây quanh quấn hồi chuông vọng, Trời biển nôn nao tiếng đi ̣ch dồn.

Ở đây “khói mây” được hiểu là mây ráng của nắng vàng chiều xuân hòa quyê ̣n với khói lam chiều tƣ̀ nhà ai đó đang bay lên tu ̣ la ̣i , trôi bồng bềnh “quanh quẩn”

đâu đây và “quấn quít” làn sóng âm vang của từng hồi chuông chùa vọng lại , không chi ̣u rời xa nhau . Và ở phía chân trời xa , biển nôn nao chờ đón tiếng đi ̣ch nhƣ là chờ đón sƣ̣ tĩnh lă ̣ng của vũ tru ̣ mênh mông bao la.

Qua viê ̣c tìm hiể u về nguyên nhân và ý nghĩa của sƣ̣ xuất hiê ̣n tƣ̀ “quanh quấn” trong câu thơ trên và trong không gian chiều xuân , ta nhận thấy rằng tƣ̀

“quanh quấn” được ghép nghĩa từ “quanh quẩn”“quấn quít” , trên cơ sở phương thức láy phu ̣ âm đầu “qu”. Mà hiệu quả thẩm mỹ là kết hợp khéo léo , hòa hơ ̣p giƣ̃a hình ảnh “khói mây” vớ i “hồi chuông vọng” qua động tƣ̀ “quanh quẩn”

đƣ́ng giƣ̃a ta ̣o hợp, nhân duyên của cuô ̣c sống nhân sinh chân chất bình di ̣. Ở đó, có thể t ìm thấy sự súc tích và giàu hình ảnh của chữ nghĩa . Câu thơ gợi nhiều suy tưởng. Suy tưởng về sự nuối tiếc buổi nắng vàng chiều xuân trước khi màn đêm buông xuống. Suy tưởng về sự lưu luyến của cuô ̣c nhân duyên hòa hợp diê ̣u kỳ giữa buổi chiều vàng phương Đông với sự tĩnh lă ̣ng tâm hồn trong tiếng chuông chùa vọng lại. Suy tưởng về vòng xoáy âm thanh của từng hồi chuông chùa lan xa trong không gian mênh mông và tâm điểm của nó phải chăng là cuô ̣c sống nhân sinh , chân chất, bình dị, hiền hòa?

Mô ̣t ví du ̣ khác . Trong bài “Thu Tràng An”, ở hai câu thực , Quách Tấn viết :

“Chăn gối trễ tràng đêm thất ti ̣ch , / Gió trăng chờn chợ bến hoàng đô” . Tƣ̀ trễ

tràng là một từ láy , có gốc là trễ với hai nét nghĩa : mô ̣t là, bị sa xuống , tụt xuống hơn bình thường ; hai là, châ ̣m, muô ̣n. Do vâ ̣y, trễ tràng cũng mang hai nét nghĩa :

mô ̣t là, trễ xuống, tụt xuống một cách tự nhiên, lỏng lẻo; hai là, tỏ ra chểnh mảng, ít để tâm tới, khiến cho bi ̣ châ ̣m hoă ̣c chê ̣ch choa ̣c . Câu thơ “Chăn gối trễ tràng…” có lẽ cũng mang hai nét nghĩa trên , vƣ̀a bi ̣ tu ̣t (trễ, sa) xuống, lỏng lẻo ; vƣ̀a chểnh mảng. Còn “Gió trăng chờn chợ”? . “Chờn chợ” là tƣ̀ mà nhà thơ sáng ta ̣o, nghĩ ra.

Trong tiếng Viê ̣t có tƣ̀ “chờn” và từ láy “chờn chợn”, chƣ́ không có tƣ̀ “chờn chợ”.

Chờn là một động từ , mang hai nét nghĩa : mô ̣t là, không còn ăn khớp vì bi ̣ mòn , bị trươ ̣t răng; hai là, không dám làm , dám nghĩ tiếp , sau khi gă ̣p phải khó khăn (có ý hơi lo sơ ̣). Và từ chờn chợn là dạng láy của chờ n, mang nghĩa giảm nhe ̣, hơi lo sơ ̣;

hơi bi ̣ mòn . Còn “chờn chợ”thì sao ?, và thế nào là Gió trăng chờn chợ ?. Có lẽ , chờn chợ mang nét nghĩa gần với chờn vờn, chỉ trạng thái lƣợn lờ , quanh quẩn , không chi ̣u rời ra. Chắc là đêm hôm thất ti ̣ch ấy nơi bến Hương giang , có gió nhưng gió rất nhẹ , khẽ; có trăng nhƣng là trăng non đầu tháng nên lờ mờ, không tỏ. Đêm ấy trăng thì lờ mờ , gió thì lƣợn lờ quanh quẩn nơi bến sông :“Gió trăng chờn chợ

bến hoàng đô”.

Từ ngữ trong câu thơ trên gợi nhiều hơn tả, thực và tượng trưng; đó là nét mới, sinh đô ̣ng, đô ̣c đáo của ngôn ngƣ̃ thơ ca thể hiê ̣n phong cách thơ Quách Tấn qua cách dùng từ ghép nghĩa trên cơ sở láy âm (tƣ̀ ghép – láy).

3.2.2.3. Cách dùng từ vừa bộc lộ sắc thái biểu cảm vừa phù hợp với kỹ thuật phối thanh theo quy luật: thấp – cao

Tiêu biểu nhất là trường hợp đô ̣ng từ “cợt” trong câu “Gió vàng cợt sáng sông chau mặt , / Mây trắng vờn cây núi bạc đầu .” (Cảm thu). Đo ̣c bài thơ , người đo ̣c nhâ ̣n thấy sƣ̣ hòa hợp giƣ̃a cảnh và tình.

“Cảm thu” là tiếng thơ th ƣơng cảm cho tấm lòng của ai đó nhƣ mùa thu kia sầu khổ vì tương tư “Tương tư nhuộm trắng mái đầu non xanh” (Thương thu), thiết tưởng đã giải mã hô ̣ câu “Mây trắng vờn cây núi bạc đầu”.

Câu thơ “gió vàng cợt sóng sông chau mặt” cần được hiểu là : Hình ảnh sông thu kia có vẻ như không bằng lòng trước “cử chỉ vuốt ve” , mang tính chất “đùa cợt” của chị gió , làm xáo động một sự bình lặng vốn là tính cố hữu của một tâm hồn tĩnh lă ̣ng. Có thể nói đô ̣ng tƣ̀ “cợt” - “vờn” bổ sung nghĩa cho nhau , că ̣p đô ̣ng tƣ̀ mang sách thái biểu cảm cao . Cả hai động từ này đối xứng nhau , đều chỉ một hành động , mô ̣t thái đô ̣ “lẳng lơ” của “gió vàng”“mây trắng” . Chính hành

đô ̣ng “cợt” - “vờn” đấy đã làm sông phải “chau mặt” còn núi thì “bạc đầu”. Ở

đây, sông, núi, gió, mây mang tính cách của con người , có những tâm tư như con người.

Mă ̣t khác, về kỹ thuâ ̣t phối thanh luâ ̣t thấp – cao (trầm – bổng) âm tiết “cợt”

hiê ̣n ở vi ̣ trí chƣ̃ 3 mang thanh trắc thấp kết hợp với âm tiết “sóng” hiện ở vi ̣ trí chƣ̃

thƣ́ 4 liền kề phía sau mang thanh trắc cao . Sƣ̣ kết hợp này phù hợp với kỹ thuâ ̣t phối thanh luâ ̣t thấp – cao. Chính nhờ sự kết hợp nhƣ trên mà hầu hết những câu thơ của Quách Tấn đều giàu sức biểu cảm và giàu chất nhạc.

3.2.2.4. Cách dùng từ ngữ tinh hoa dân gian một cách chính xác về sắc thái biểu cảm theo cảm xúc mới – hướng nội

Đó là trường hợp đô ̣ng từ “đừa” trong câu “Gió rủ canh đi ngàn liễu khóc / Sông đƣ̀a lạnh tới bóng trăng run” (Bên sông).

Bài thơ ghi lại cảm xúc về nỗi buồn mênh mông , xa vắng của chủ thể trƣ̃ tình , khi tình và cảnh bên sông trong đêm cùng một tâm trạng buồn.

Mở đầu bài thơ , trong mô ̣t đêm nào đó không biết là canh mấy có trăng sáng đủ để nhìn rõ ngo ̣n gió khuya la ̣nh làm xao đô ̣ng bóng liễu đang soi mình dưới nước. Kế đến , trên sông gió khuya khe khẽ “đừa” mặt n ước. Vì gió không dám

“lùa” hoặc “đùa” bở i sơ ̣ làm kinh đô ̣ng bóng trăng đang soi mình dưới sông . Nhƣng tiếc thay đã làm xao đô ̣ng bóng trăng, làm cho “bóng trăng run” .

Để rồi sau đó, kế tiếp, hình tƣợng nghệ thuật mang ý nghĩ a khái quát xuất hiê ̣n xa xa , trong đêm tối tĩnh mi ̣ch , giữa bốn bề sông nước vắng lă ̣ng bên kia sông , không biết tiếng hát tƣ̀ thuyền ai vẳng la ̣i , vang xa vào mênh mông , nhƣ bắc nhi ̣p cầu cho tâm tra ̣ng buồn của người đứng đợi bên bờ sông.

Kết thúc bài thơ bằng hình ảnh liên tưởng tương đồng . Tiếng hát bên sông hay điê ̣u đàn lẻ ba ̣n ? Chiếc thuyền đô ̣c hành hay hành trình tinh thần đi tìm cái “đe ̣p”

của một người chịu cảnh “lẻ điê ̣u”, “trơ trọi”, “hiu quạnh” ... đang thổn thứ c cùng gió khuya lạnh , cùng bóng liễu rũ buồn , cùng bóng trăng run , cùng vạn vật , cùng trời đất...

Không biết bầu tâm sƣ̣ của chủ thể trƣ̃ tình trong bài thơ “Bên sông” nhiều hay ít, chỉ thấy nói là “gởi chút buồn”. Nhƣng dù thế nào cũng không thể không có nỗi

buồn lẻ ba ̣n , không tri kỷ : “Con thuyền bến lách không tri kỷ , / Để lẻ trong sương mấy điê ̣u đàn”.

Bài thơ khép lại bằng nỗi buồn mênh mông xa vắng:

Thuyền ai tiếng hát bên kia vẳng?

Ghé lại cho nhau gởi chút buồn.

Qua phân tích ma ̣ch cảm xúc – hình tƣợng thơ từ phần đầu đến phần kết , nhâ ̣n thấy rằng đô ̣ng tƣ̀ “lùa” ; động tƣ̀ “đùa” hay động tƣ̀ “đƣ̀a” đều là từ ngữ dân gian dùng để chỉ hoạt đô ̣ng đẩy qua đẩy la ̣i , dù những sắc thái biểu cảm của mỗi động từ có khác nhau . Giọng điệu toàn bài thơ chậm , buồn, nhẹ nhàng. Trong đó, ngọn gió khuya bên sông nổi lên nhƣ mô ̣t nguyên cớ đầu tiên gây nên nỗi buồn , nhƣng quan trọng hơn nữa là tâm trạng buồn của người đứng đợi bên sông nên đã để lại nỗi buồn có tính chất vũ tru ̣ “ngàn liễu khóc” , “bóng trăng run” . Thêm nƣ̃a , lẽ nào , ngọn gió khuya bên sông kia lại vô tâm có cử chỉ “thô bạo” với cái “đe ̣p”: “bóng trăng”“bóng trăng soi mình dưới sông” được diễn tả bằng đô ̣ng từ “lùa”

(mạnh) hoặc đô ̣ng tƣ̀ “đùa” là những động từ giả định nằm trong trục đối chiếu , lƣ̣a chọn từ ngữ.

Vâ ̣y chỉ còn đô ̣ng tƣ̀ “đƣ̀a” hiện có trong bài thơ là tinh hoa của tƣ̀ ngƣ̃ dân gian, được sử du ̣ng chính xác về sắc thái biểu cảm.

3.2.2.5. Cách dùng kỹ thuật nhồi chữ , điệp âm tiết và điê ̣p phần vần trong dòng thơ, tạo âm hưởng điệp khúc

Khi bàn về tính chất quan tro ̣ng nhất của yếu tố nha ̣c trong thơ , Quách Tấn đƣa ra hình ảnh so sánh dí dỏm , chí lý: “Thơ không có nhạc có thể ví nhƣ một ống tiêu dùng để thổi lửa, hay một ống thổi lƣ̉a dùng làm ống tiêu .” [trích lại trong một bƣ́c thƣ của thi sĩ Quách Tấn gởi cho thi sĩ Bàng Bá Lân , tháng 8 năm 1963 trong tâ ̣p

“Nhƣ̃ng bƣ́c thƣ thơ” của Quách Tấn].

Vì vậy, hai tác giả của “Viê ̣t Nam thi nhân tiền chiến” đã phát hiê ̣n có nhƣ̃ng câu nhồi chữ rất hay, mang âm lượng điê ̣p khúc :

Sầu mong theo lê ̣, khôn rơi lê ̣, Nhớ gởi vào thơ, nghĩ tội thơ.

(Trơ trọi)

hay: Tỉnh mộng nằm ôn trang mộng cũ,

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 122 - 132)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(167 trang)