Quách Tấn với nhóm “Bàn Thành tứ hữu”

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 35 - 41)

Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA QUÁCH TẤN VÀ

1.1.3. Quách Tấn với nhóm “Bàn Thành tứ hữu”

“Bàn Thành tứ hữu” có nghĩa là bốn người ba ̣n ở thành Đồ Bàn. Đồ Bàn là địa danh, tên kinh đô củ a vương quốc Chămpa ngày xưa , khi bi ̣ quân dân Đa ̣i Viê ̣t đời

Lê Thánh Tông đánh ba ̣i, quốc vương Chămpa phải bỏ kinh đô Trà Kiê ̣u cùng thánh đi ̣a Mỹ Sơn (Quảng Nam) để vào đây lập kinh đô mới . Đi ̣a danh Đồ Bàn thuô ̣c tỉnh Bình Định ngày nay , nằm ở ngoa ̣i ô thành phố Quy Nhơn . Đây là mô ̣t danh xƣng mà các bạn yêu văn chương ở Bình Định , trong đó có Trần Thống ở thôn Kiê ̣n Mỹ

huyê ̣n Bình Khê , tă ̣ng cho bốn nhà thơ tiền chi ến thân yêu nhau nhƣ anh em ruột đang sinh sống và sáng tác ta ̣i Bình Đi ̣nh là : Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan, Quách Tấn. Những người ấy còn dùng bô ̣ Tứ linh: long, lân, quy, phụng để đặt tên cho tƣ́ hƣ̃u: Hàn Mặc Tử là Rồng; Chế Lan Viên là Phụng; Yến Lan là Lân; Quách Tấn là Rùa. Quách Tấn cho rằng “tuy đặt bổn để mua vui , song bốn linh vâ ̣t kia đã

nói lên một cách khái quát chính xác cuộc đời của tứ hữu về mặt vật chất cũng nhƣ về mă ̣t t inh thần” [71]. Cần lưu ý là nhóm Bàn Thành tứ hữu này có khác với Trường thơ loạn với tuyên ngôn sáng tác cụ thể, mà Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử là những người chủ xướng, trong khi đó thì Quách Tấn không tham gia Trường thơ loạn này.

1.1.4. Quách Tấn: nhà thơ thuỷ chung với thơ cách luật

Trước năm 1945, Quách Tấn đã cho xuất bản hai tập thơ: Một tấm lòng (1939) và Mùa cổ điển (1941). Đây là hai tập thơ tiêu biểu cho sự tiếp nối cái cũ và hô ̣i nhâ ̣p cái mới, được Hoài Thanh và Hoài Chân định vị trong Thi nhân Viê ̣t Nam. Một tấm lòng có 74 bài, trong đó có 67 bài Đường luật (10 bài thất ngôn tứ tuyệt, 04 bài ngũ ngôn tứ tuyệt, 53 bài thất ngôn bát cú), còn lại 07 bài các thể thơ khác (01 bài thất ngôn trường thiên, 05 bài lục bát, 01 bài ca theo lối kết hợp ngũ ngôn, tứ ngôn và lục bát). Mùa cổ điển, có 36 bài thì có 34 bài thơ Đường luật (28 bài thất ngôn bát cú; 06 bài thất ngôn tuyệt cú), còn lại là 02 bài lục bát. Nếu Một tấm lòng chƣa đƣợc đánh giá cao thì đến Mùa cổ điển, tập thơ và tác giả đƣợc bạn đọc, nhà phê bình nồng nhiệt tán thưởng và “Làng Thơ Mới tự mình mở cửa đón mời mô ̣t người cũ. Họ không nói chuyện hơn thua nữa . Thực hành mô ̣t ý kiến phát biểu ra từ trước , họ nhã nhặn bỏ luôn cái danh hiê ̣u Thơ Mới; tƣ̀ nay thơ ho ̣ chỉ go ̣i là Thơ” [74,tr.39- 40]. Mùa cổ điển được mê ̣nh danh là hồn thơ Đường trong thơ Viê ̣t và là điểm ga ̣ch nối cách tân giƣ̃a thơ cũ và Thơ Mới, mà Hoài Thanh đã cho rằng “một tập thơ cũ

đã khép lại một thời đại trong thi ca” [74,tr.28 và tr.39].

Chắc hẳn Quách Tấn cũng đã thấm nhuần tư tưởng của Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long: “Tâm thuâ ̣t ảnh hưởng rất xa , tình cảm và tư tưởng của văn chương biến đổi rất sâu . Cái nguồn mà kín đáo thì nước sạch sinh ra ; cái gốc mà vững chắc thì cái ngọn dồi dào. Cái đẹp của văn có khác nhau . Có cái đẹp lồ lộ (tú), có cái đẹp kín đáo (ẩn). Đó là cái ý quan tro ̣ng ở ngoài lời văn . Cái đẹp kín đáo (ẩn) lấy viê ̣c ý sum suê làm công phu ; cái đẹp lồ lộ (tú) lấy viê ̣c trác tuyê ̣t làm khéo . Đấy cũng là cái đẹp của văn chương xưa, là nơi gặp gỡ của tài năng và tư tưởng” [23].

Giƣ̃a lúc các nhà thơ náo nƣ́c trang bi ̣ cho mình thi tƣ́ , vần điê ̣u sao cho phù

hơ ̣p với ngo ̣n triều lãng ma ̣n , ca tu ̣ng tình yêu nồng cháy , đam mê, thì Quách Tấn lại tỏ lòng trung kiên với lối thơ xƣa , nhƣ quyết giƣ̃ cho trọn vẹn chung thủy với hình ảnh huy hoàng của thời quá khứ, những đường nét cổ điển của Đường thi.

Quách Tấn thường nói: “Trong thơ cũng như trong đời, tôi chỉ cười bằng tiếng cười của tôi, chỉ khóc bằng nước mắt của tôi và những gì đã ra nơi miệng, nơi bút tôi đều xuất phát từ đáy lòng. Ở đời tôi luôn luôn giữ chữ Thành và chữ Tín. Làm thơ, đức thành tín lại càng quý trọng bội phần” [71]. Là nhà thơ rất chung thủy với thơ Đường luật, nhưng ý và tứ trong thơ ông vẫn rất mới, nên không lỗi thời với tiến trình phát triển của thơ Việt.

Có một số nhà thơ nhƣ Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đông Hồ… ban đầu sáng tác theo các thể thơ cũ, chủ yếu là Đường luật, nhưng trước phong trào Thơ Mới phát triển, công kích thơ cũ, thì họ đã rời bỏ thể thơ cũ để sáng tác theo thể Thơ Mới.

Hàn Mặc Tử từ năm 1930 với bút hiệu là Minh Duệ Thị, Lệ Thanh, Phong Trần đã nổi danh với các bài thơ Đường như Thức khuya, Chùa hoang, Gái ở chùa,... đã từng đƣợc cụ Phan Bội Châu ngợi khen trên báo. Đến năm 1936 lại nổi danh với tập thơ Gái quê, một tập Thơ Mới nhưng trong đó vẫn có một số bài thơ Đường luật.

Bích Khê đã nổi danh với những bài thơ cũ trên báo Tiếng dân, Phụ nữ tân văn

đến năm 1937 khi quen với Hàn Mặc Tử thì Bích Khê chuyển hướng sáng tác theo thể Thơ Mới để hai năm sau (1939) cho xuất bản tập Tinh huyết, đƣợc Hàn Mặc Tử viết Tựa. Đông Hồ và Mộng Tuyết cũng từ bỏ thể thơ cũ mà sáng tác theo thể Thơ Mới. Cần nói thêm rằng, Hàn Mặc Tử và Bích Khê đều là bạn thân với Quách Tấn.

Cả ba đều nổi danh trong lĩnh vực thơ Đường luật. Nếu về sau Hàn Mặc Tử và Bích Khê sáng tác theo thể Thơ Mới, thì chỉ riêng mỗi mình Quách Tấn kiên trì ở lại với

thơ Đường luật, nhưng ông đã làm phong phú thêm về hình thức lẫn nội dung cho thể thơ cũ với lời thơ trau chuốt, ý thơ giàu sang và đã đƣợc văn học sử Việt Nam dành cho một chỗ ngồi trên Tao đàn. Nhà thơ không lên tiếng trên thi đàn để bênh vực cho thơ cũ và cũng nhƣ không bài xích Thơ Mới, ông chỉ lặng lẽ phát huy cái cao đẹp của thơ Đường luật để làm phong phú và giàu sang hơn cho Thơ Mới.

Những người yêu mến thơ Đường luật vẫn tìm được hứng thú trong thơ Quách Tấn. Những người thích cái mới trong Thơ Mới vẫn tìm được hương vị nồng thắm, mới mẻ trong thơ Đường luật của Quách Tấn. Trong bài Tựa của tập thơ Một tấm lòng, thi sĩ Tản Đà đã đặt thơ Quách Tấn ngang với thơ của Yên Đổ, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan. Nhà thơ Chế Lan Viên đã thừa nhận thơ của Quách Tấn có những câu thơ đẹp nhất trong những câu thơ đẹp nhất Việt Nam. Hoài Thanh cũng đã viết: “Quách Tấn đã tìm đƣợc những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía. Người đã thoát hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ” [74,tr.268]. Thơ của Quách Tấn gồm được cái uyên thâm, trong sáng của thơ Đường, cái giản dị hồn nhiên của ca dao Việt Nam và những rung cảm thiết tha của Thơ Mới. Ở thơ ông là sự hòa hợp trọn vẹn giữa cũ và mới.

Để hiểu rõ hơn về Quách Tấn - người thủy chung với thể thơ cách luật, thiết nghĩ cũng nên điểm qua ảnh hưởng của Đường thi trong thơ của ông.

1.1.5. Ảnh hưởng thơ Đường đối với thơ Quách Tấn

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân viết: “Đêm đã khuya, tôi ngồi mô ̣t mình xem thơ Quách Tấn . Ngoài kia có lẽ trăng sáng lắm . Nhƣng trời về

thu, khí trời lạnh lạnh , cƣ̉ a sổ trên bàn viết đóng kín . Ngọn nến trên bàn tỏa ra một bầu ánh sáng chỉ đủ sáng chỗ tôi ngồi . Chung quanh tối cả. Tối và im. Mô ̣t thƣ́ im lă ̣ng dày đă ̣c. Trong ấy có muôn ngàn thƣ́ tiếng ta không nghe . Lúc này chính là lúc xem thơ xưa. Tôi lắng lòng tôi để đón mô ̣t sứ giả đời Đường , đời Tống. Đời Đường mới có cái âm u ấy” [74,tr.267].

Những lời “tâm sự” của tác giả Thi nhân Việt Nam đã chỉ cho người đo ̣c thấy được cái hồn thơ mang âm hưởng Đường thi của Quách Tấn . Điều này thể hiê ̣n rất rõ ở bài thơ: “Đêm thu nghe quạ kêu”:

Tƣ̀ Ô Y hạng rủ rê sang,

Bóng lẫn đêm thâu bỗng rộn ràng.

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng, Thu sông Xích Bích nguyê ̣t mơ màng.

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc, Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng.

Tiếng dội lƣng mây đồng vọng mãi, Tình hoang mang gợi tứ hoang mang…

Đo ̣c kỹ bài thơ, đă ̣c biê ̣t là ba từ đầu tiên “Ô Y hạng” làm ta liên tưởng đến bài Ô Y hạng của Lưu Vũ Tích đời Đường:

Chu Tước kiều biên dã thảo hoa, Ô Y hạng khẩu ti ̣ch dương tà.

Cựu thời Vương, Tạ đường tiền yến, Phi nhập tầm thường bách tính gia.

(Cỏ hoa dại bên cầu Chu Tước, Ngõ Ô Y lướt thướt nắng tà.

Én lầu Vương, Tạ xưa xa,

Bây giờ bay đậu vào nhà thường dân.) (Đinh Ngọc Vũ di ̣ch)

Mô ̣t câu hỏi được đă ̣t r a ở đây, tại sao tác giả lại nghĩ rằng quạ “Từ Ô Y hạng rủ rê sang”?. Trong khi bài “Ô Y hạng” không hề nói đến qua ̣, mà là “ngõ Áo đen / xóm Áo đen” (Ô: màu đen). Từ màu đen, nhà thơ liên tưởng đến con quạ (quạ có bộ lông đen tuyền), tức dùng điển theo lối liên tưởng – cảm giác. Quách Tấn từng nói:

“tôi dùng điển “Ô Y” trong bài “Đêm thu nghe quạ kêu” không phải vì vô ý hoă ̣c dốt điển , mà chính vì có sở do ” [71]. Cái sở do kia phải chăng do bài thơ “Ô Y hạng” ám ảnh và chi phối suy tƣ của ông?

Bốn câu thơ thươ ̣ng giải:

Tƣ̀ Ô Y hạng rủ rê sang

Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng Thu sông Xích Bích nguyê ̣t mơ màng”

Lời thơ hay, cảnh thu đẹp, ý thơ mang phong vị Đường thi. Ngoài bài thơ của Lưu Vũ Tích vừa nêu, ý thơ của Quách Tấn còn khiến người đọc liên tưởng đến bài

Phong Kiều dạ bạc “ củ a Trương Kế đời Đường:

Nguyê ̣t lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngƣ hỏa đối sầu miên.

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự,

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

(Trăng tà chiếc quạ kêu sương, Lử a chài cây bến, sầu vương giấc hồ.

Thuyền ai đậu bến Cô Tô,

Nƣ̉ a đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.) ( Ngô Tất Tố di ̣ch)

Từ mô ̣t câu thơ mở đầu trong bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế “nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên” đã đươ ̣c Quách Tấn khéo léo ph át triển thành bốn câu đầu trong bài thơ của ông.

Vớ i hai tƣ̀ “ô đề”, Quách Tấn viết thành hai câu:

“Tƣ̀ Ô Y hạng rủ rê sang,

Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng.”

Ba từ “sương mãn thiên” đã được nhà thơ phát triển thành câu thứ ba:

“Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng,”

Hai từ “nguyê ̣t lạc” đã được Quách Tấn phát triển thành câu thứ tư:

“Thu sông Xích Bích nguyê ̣t mơ màng.”

Rồi đến hai câu luâ ̣n:

“Bồn chồn thương kẻ nương song bạc, Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng?”

Chính Hoài Thanh nhận xét “ta có thể lơ đãng không thấy rõ sương trên bến Phong Kiều, trăng trên dòng Xích Bích . Không thấy cả cái giếng sầu ru ̣ng . Nhƣng sắc vàng kia! Cái sắc vàng trong giây phút chiếu sáng cả trời thơ !” [74,tr.268].

Hai câu luận của bài thơ la ̣i gợi cho ta nghĩ đến mô ̣t bài thơ khác c ó liên quan đến tiếng quạ kêu. Đó là bài Ô dạ đề của vị thi Tiên Lý Bạch đời Đường:

“Hoà ng vân thành biên ô dục thê,

Quy phi “á, á”chi thƣợng đề.

Cơ trung chƣ́c cẩm Tần Xuyên nƣ̃,

Bích sa nhƣ yên cách song ngƣ̃.

Đình hoa trướng nhiên tư vãn nhân, Độc túc cô phòng lệ nhƣ vũ.”

(Mây và ng tiếng quạ bên thành, Nó bay tìm ngủ trên cành nó kêu.

Tần Xuyên cô gá i buồng thêu,

Song sa khó i toả nhƣ khơi chuyê ̣n ngoài.

Dƣ̀ ng thoi buồn bã nhớ ai,

Phòng không gối chiếc, giọt dài tuôn mƣa.) (Tản Đà dịch)

Như vâ ̣y, ý của hai câu thơ trên của Quách Tấn giống như ý tưởng ba câu cuối trong bài thơ của Lý Ba ̣ch . Dù rằng về cách biểu đạt thì Lý Bạch sử dụng phương thức kể, còn Quách Tấn lạ i sử du ̣ng phương thức cảm, song ý thơ vẫn tương tự

nhau. Cái ý tưởng này còn được Quách Tấn sử dụng một lần nữa sát hơn , qua hai câu kết trong bài Đêm tình:

“Phò ng không thương kẻ ngồi nương triê ̣n, Tình gửi mây xa lệ ngập ngừng.”

Có thể nói ý tưởng trong bài thơ Đêm thu nghe quạ kêu của Quách Tấn đã bắt nguồn lần lươ ̣t từ ba bài thơ nổi tiếng đời Đường . Từ đó thấy rằng lời nhâ ̣n xét của Hoài Thanh về hồn thơ Quách Tấn nhƣ đã nêu ở trên là hoàn toàn chính xác.

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 35 - 41)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(167 trang)