CẢM HỨNG VỀ THIÊN NHIÊN

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 81 - 95)

NHÌN TỪ NỘI DUNG CẢM HỨNG

2.2. CẢM HỨNG VỀ THIÊN NHIÊN

Thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thơ ca , là người bạn tri âm , tri kỷ với thi nhân. Vì thế, mô ̣t trong nhƣ̃ng cảm hƣ́ng chủ đa ̣o hàng đầu của thơ Quách Tấn là : Tình yêu thiên nhiên. Thiên nhiên trong thơ Quách Tấn nắm trong nguồn mạch thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX viết về thiên nhiên như thế nào?

Trong cuộc đấu tranh giữa hai phái Mới và Cũ, nhiều người phái Mới đã cho rằng thơ Đường luật trên báo chí nửa đầu thế kỷ XX là sáo rỗng cũ mòn, đã hết thời. Nhận xét trên chỉ đúng với một số ít bài thơ mà thôi. Thật ra, riêng về đề tài và

cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Quốc ngữ hồi này không chỉ sống động mà còn giàu hình ảnh và cảm xúc. Điều này có đƣợc là do chất lƣợng miêu tả mới.

Ví dụ: Phạm Xuân Hoè đã tưởng tượng phong phú khi đứng bên bờ hồ lúc trời mưa:

“Chòm sao sợ sấm ngồi nhay nháy,/ Đoàn chớp do mây chạy nhố nhăng.” (Đứng bờ hồ Cửu Long). Vân Đài tả đảo Cát Bà với núi giăng, với buồm căng lúc nắng sớm: “Một núi rủ theo bao núi khác,/ Đỡ trời nghiêng chắn bể bao la./ Buồm căng nắng sớm ngang tàng lƣợn,/Thuyền chở trăng chiều sóng sánh qua.” (Đảo Cát Bà).

Hàn Mặc Tử thì miêu tả thiên nhiên kết hợp với tình cảm chủ quan, khám phá thiên nhiên bằng tâm hồn, bằng tưởng tượng bay bổng và cảm xúc mạnh mẽ: “Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối,/ Gió thu lọt cửa cọ mài chăn.” (Thức khuya); “Hôm nay có một nửa trăng thôi,/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi…/ Ta nhớ mình xa thương đứt ruột,/ Gió làm nên tội buổi chia phôi.” (Một nửa trăng). Quách Tấn thì quan sát thiên nhiên với những biến thái tinh vi và miêu tả hoàn toàn bằng chủ quan: “Tình ta lóng lánh giọt sương mai,/ Ngọc mấy hàng ngưng đọng bóng trời./ Dì gió đa tình ơi, chớ đến,/ làm cho lá sợ hạt sương rơi.” (Giọt sương mai); và: “Trăng ghẹo non sông nằm thồn thức,/ Gió ru trời đất ngủ mơ màng.” (Canh khuya tỉnh giấc). Từ đó, có thể thấy, thơ Đường luật Quốc ngữ hồi này đã có sự chuyển biến về chất lượng trong cách viết, trong cách diễn đạt; về tƣ duy cũng nhƣ về cảm xúc. Điều này, không chỉ thấy ở thơ của các nhà thơ vừa trích dẫn ở trên, mà còn thấy ở các nhà thơ khác nhƣ: Đông Hồ, Lê Bạch Nhƣ, Mộng Lan, Ái Hoa, Mộng Sơn, Đỗ Huy Nhiệm, Trần Hữu Giương… Chẳng hạn, Đông Hồ trong bài Xuân nhật thi bút:

“Khói lồng bờ liễu mày xanh biếc,/ Sương đượm cành mai dáng thướt tha. (…) Nõn nà má thắm đào say gió,/ Tha thiết mày xanh liễu nhuốm sương.” Còn đây là thơ của Mộng Sơn tả gió: “Ngàn mây tóc xoả bay theo gió,/ Dặm liễu rùng mình lướt dưới mưa./ Quán khách buồn trông giời đất lạnh,/ Bên tai thác đổ tự bao giờ?”

(Gió). Đỗ Huy Nhiệm cũng có thơ tả gió: “Cơn gió đìu hiu lướt mặt hồ,/ Thổi rơi xuống nước chiếc hoa khô./ Giật mình làn nước cau mày giận,/ Tan cả vầng trăng toả lững lờ.” (Đìu hiu). Nhƣ vậy, cùng một đề tài về “gió”, mỗi nhà thơ có cách tƣ duy và cảm xúc khác nhau.

Có khi nhà thơ không chỉ tả cảnh đang vận động mà cảnh còn đƣợc xây dựng bằng tưởng tượng, liên tưởng có khi nghịch lý như trong thơ của Đông Hồ: “Mặt

nước hòn non nổi,/ Đáy hồ mảnh nguyệt trôi./ Chiếc thuyền thong thả dạo,/ Tiếng hát động chân trời.” (Bơi thuyền chơi Đông hồ - Đông Hồ), nhờ thế mà người đọc có cảm giác thiên nhiên gần với cuộc sống con người, và do vậy, thiên nhiên sống động hơn, tình cảm hơn.

Với Quách Tấn, tình yêu thiên nhiên trong thơ ông, có thể nói , đƣợc hình thành từ quan niệm “thiên nhân tương dữ”, “thiên nhân tương cảm”, xem thiên nhiên không chỉ là khách thể , mà trái lại còn gắn bó , hòa hợp với con người . Mă ̣t khác, nhƣ̃ng thành tƣ̣u của khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t , của triết học và nhất là những tinh hoa của tôn giáo, đă ̣c biê ̣t là nhà Phâ ̣t đã chi phối cách nhìn , sƣ̣ cảm nhâ ̣n và tƣ duy của Quách Tấn về thiên nhiên . Từ đó, người đo ̣c có thể hiểu thêm về Quách Tấn và

thơ của ông viết về thiên nhiên . Quách Tấn là con người mến mộ đạo Phật . Ông nhìn thiên nhiên bằng cảm quan Phật giáo . Theo nhà thơ, “con ngườ i và thiên nhiên tác động tương hỗ với nhau về các mặt thể xác , trí tuệ và tâm linh”, bằng một thái đô ̣ “đồng rung cảm, đồng đau khổ và đồng sinh diê ̣t” [71]. Chính vì thế mà , thiên nhiên trong thơ Quách Tấn là hình ảnh thiên nhiên hiện thực , mang dấu ấn cảm xúc cá nhân nhà thơ, có khi đƣợc nhìn qua cảm quan Thiền đạo của nhà Phật . Đồng thời, thiên nhiên trong thơ ông không tĩnh tại mà luôn có sự vận động. Đọc những bài thơ viết về thiên nhiên qua các tập thơ trước năm 1945: Một tấm lòng (1939), Mùa cổ điển (1941) và từ năm 1945 về sau: Đọng bóng chiều (1965), Mộng Ngân Sơn (1966), Giọt trăng (1973)… sẽ thấy rõ điều này

2.2.1. Hình ảnh thiên nhiên trong hiện thƣ̣c cuô ̣c sống

Với tƣ cách là nhà thơ , Quách Tấn luôn muốn hòa điệu cùng với thiên nhiên . Bởi con người sống giữa thiên nhiên , thiên nhiên là cái nôi nuôi dưỡng con người;

đồng thời , thiên nhiên còn là đối tượng , là khách thể để con người ngắm nhìn , thưởng thức, giãi bày hay gởi gắm tâm tư .

Đây là ước vo ̣ng của nhà thơ trong cái ồn ã giữa đời thường , trong lòng phố

thị: Cám ơn ông hàng xóm, Ngƣng mở máy thu thanh.

Võng đƣa thềm mận chín, Nghe sẻ gọi bình minh.

(Tiếng vui)

Một tình cảnh rất đáng thương ! Thi sĩ phải c hịu đựng tiếng loa phát thanh suốt ngày dài , suốt năm tháng ! Ông chỉ mong ước có được chút khoảnh khắc yên tĩnh để lắng lòng nghe tiếng chim hót và ngắm ánh bình minh .

Đôi dòng thơ trên đủ cho thấy nhƣ̃ng gì mà Quách Tấn kha o khát, nhƣ̃ng gì là

chất sống quan tro ̣ng của thi sĩ: hoa trái, chim chóc, ánh bình minh, trăng sao và bao nhiêu yếu tố khác của thiên nhiên , mô ̣t thiên nhiên hiê ̣n hƣ̃u đã tƣ̀ muôn triê ̣u năm , trước khi loài người có mă ̣t trên trái đất này. Từ đó, dáng vẻ của thiên nhiên không ngừng ánh lên tỏa sắc lung linh và bao vẻ đe ̣p đă ̣c thù của nó đã được ngòi bút Quách Tấn tái hiện lại thật sinh động.

Đó là vẻ thanh bình , nhẹ nhàng và nên thơ nhƣ một bức tr anh tả chân với nhƣ̃ng hình ảnh quen thuô ̣c bình di ̣ ở thôn quê , thông qua hình ảnh cây măng tre với vòi cong cong , cao vút nơi bu ̣i tre , mọc bên dòng khe nước trong vắt ; và trên cành măng ấy, có con chim chèo bẻo đang đậu lắc lư , dường như nó đang cất tiếng hót líu lo dưới nền trời rạng đông rực hồng ấm áp . Theo cách diễn đạt của thơ cổ điển

“ý tại ngôn ngoại”, cho dù nhà thơ không nhắc đến âm thanh nhƣng câu thơ vẫn vang vo ̣ng tiếng chim:

Lên dòng khe nước trong, Cây măng vòi cong cong.

Lắc lƣ chim chè o bẻo, Trên nền trờ i rạng đông.

(Rạng đông)

Đây là cảnh cánh đồng quê vàng ửng hương thơm của lúa theo làn gió nồm nam; dướ i ánh nắng hồng, có tiếng chim cu cườm đang gù gù dòn dã . Cảnh được vẽ

lại thật uyển chuyển, gió phơi phới đưa hương, rỡ ràng và vui tươi:

Sóng gợn đồng lúa thơm, Hương theo ngọn gió nồm.

Qua hàng tre nắng nhuộm, Dòn dã tiếng cu cườm.

(Đơn giản)

Đó còn là cảnh gió thổi bất chợt , trăng soi lô ̣ng lẫy làm con ngƣ ời choáng ngơ ̣p cuốn hút cả thần hồn :“Thình lình dì gió mở tung cửa ,/ Đƣa chi ̣ Hằng Nga lộng lẫy vào.” (Thình lình)

Hoă ̣c cảnh vâ ̣t lãng ma ̣n , thơ mô ̣ng với hoa , gió, trăng, dáng liễu rủ nhƣ tóc xỏa, chúng nhƣ đang tình tự q uấn quyê ̣n bên nhau qua cách dùng các đô ̣ng tƣ̀

“chộp”, “dừng” thật đă ̣c sắc và liên tưởng thú vi ̣ :“Hồn hoa chộp mộng thơm hồn gió,/ Tóc liễu dừng thơ đón tóc trăng.” (Đêm tình)

Thiên nhiên với các loài hoa khoe sắc thắm tươi trư ớc gió, dưới sương được nhà thơ ghi lại thật kiều diễm , thâ ̣t vương giả làm cho lòng người chuếnh choáng đắm say. Nàng gió đã làm những cánh hoa thƣợc dƣợc đong đƣa nhƣ đang say múa trong mưa ; những gio ̣t sương trong đêm xuân như làm cho những đóa hải đườ ng chơ ̣t tỉnh giấc mô ̣ng đe ̣p :“Thược dược gió bay màu túy vũ ,/ Hải đường sương tỉnh giấc xuân tiêu .” (Xuân quạnh). Có lẽ khi viết hai câu thơ trên , Quách Tấn đã chịu ảnh hưởng thơ Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều , ở câu 137-138 của khúc ngâm: “Khoa thược dược mơ mòng thụy vũ , Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu” . Có điều ở đây , Quách Tấn mƣợn chữ nghĩa chứ không mƣợn ý tưởng của người xưa. Câu thơ của cu ̣ Nguy ễn Gia Thiều ghi lại tâm trạng của cung nữ, lúc này nàng đang hồi tưởng lại ngày tháng được nhà vua sủng ái , thông qua những hình ảnh ẩn du ̣ và những điển cố . Người cung nữ tưởng tượng tâm tra ̣ng của nàng trong cái đêm hôm ấy chẳng khác nào nhƣ cành hoa thƣợc dƣợc đang khoe vẻ đe ̣p mơ màng dưới cơn mưa lành ngày xuân êm di ̣u ; và cũng chẳng khác gì đóa hải đường mơn mởn đang say ngủ lúc đêm xuân . Bên ca ̣nh hình ảnh thiên nhiên ẩn du ̣ trên, câu thơ cò n dùng nhƣ̃ng điển cố : “thụy vũ” là cơn mƣa , chỉ điềm lành ; đây chính là ân sủng của nhà vua . “Xuân tiêu” là đêm xuân , lấy từ ý của Đường thi

“Xuân tiêu nhất khắc tri ̣ thiên kim” (Một khắc đêm xuân xƣ́ng nghìn vàng). Câu thơ

“Đóa hải đường thức ngủ xuân tiêu” đã dùng điển Dương Quý phi say rượu nằm ngủ, vua Đường Minh Hoàng go ̣i mãi không dâ ̣y , vua bèn nói “Hải đường thụy vi ̣ túc da?” (Hoa hải đường ngủ chưa đủ sao ?), ý muốn nói nhà vua sủng yêu nàng lắm và ví nàng đe ̣p như hoa hải đường . Còn câu thơ của Quách Tấn chủ yếu là tả vẻ đe ̣p tình tƣ́ của thiên nhiên trong đêm xuân.

Đôi khi nhà thơ dùng thủ pháp “lấy mây vẽ trăng” của thơ xƣa để tái hiện cảnh vâ ̣t. Điều này thể hiê ̣n trong bài thơ tả con sâu cƣ̉u . Trong bài thơ, tác giả không chỉ tả con sâu già nép mình trong lá mà qua đó , nhà thơ nhƣ muốn tái hiện cả một bầu trời ánh ngời sắc xanh , rỡ ràng, lô ̣ng lẫy như ha ̣t ngo ̣c kim cương :“Châu thân trùm phí thúy ,/ Đôi mắt ngời kim cương ./ Mộng ấp trời xanh thẳm ,/ Trên cành cử lý

hương (Con sâu cửu). Còn đây là cảnh vườn dừa của mô ̣t vùng quê ven biển đươ ̣c nhà thơ vẽ lại qua một điểm nhìn liên tưởng độc đáo . Nhìn tàu dừ a đung đưa theo làn gió biển, nhà thơ liên tưởng đến đuôi chim phụng đang tung bay . Sự liên tưởng này làm cho hình ảnh thiên nhiên vừa diễm lệ , vừa huyền thoa ̣i:“Vườn dừa mé biển tung đuôi phụng.” (Qua Phú Yên tƣ́c cảnh)

Cũng nhƣ các bậc thi nhân ngày xƣa , Quách Tấn đã xem thiên nhiên là bầu bạn, tri kỷ tri âm . Ông xem bầy én biển Nha Trang là tương tri ; mây nước là ba ̣n hữu; mảnh trăng là cố tri . Thiên nhiên ấy nhƣ đang trò chuyê ̣n , cùng trao đổi tâm tình với nhà thơ : “Tuy không người đối bóng ,/ Bầy én bạn tương tri . (Vàng ngập bến) hay: “Đêm đêm nằm đợi canh gà giục ,/ Mảnh nguyệt rừng xa bạn cố tri .”

(Lánh cư). Thật chẳng khác nào như cu ̣ Ức Trai năm xưa từ bỏ chốn quan trường để trở về Côn Sơn ngồi ngâm th ơ nhàn dưới rừng trúc , dưới bóng cây tùng , múc nước khe pha trà , gối đầu lên đá mà ngủ và xem thiên nhiên là láng giềng , bầu ba ̣n, anh em: “Núi láng giềng , chim bầu bạn ; Mây khách khƣ́a , nguyê ̣t anh tam”; hay “Cò

nằm, hạc lẩn nên bầu bạn; Ấp ủ cùng ta làm cái con”.

Trong một tập thơ khác dù không viết theo thể Đường luật, mà viết theo lối đồng dao, nhƣng cảm hứng này cũng thể hiện rõ. Có khi nhà thơ cùng thiên nhiên bay nhảy với trẻ thơ, để reo lên n iềm vui mê say , trong sáng :“Ô vui thay!/ Ô vui thay!/ Hoa xoan lay/ Đàn bướm bay/Trong nắng hừng/ Trong gió hương/ Tiếng ve gọi/ Lời trẻ nói/Ngang qua đường...” (Trong nắng hè – tập Vui với trẻ em).

Dưới cái nhìn của thi nhân, thiên nhiên như có tâm tra ̣ng của con người , mang nỗi đau con người , nhất là buồn nhớ trong buổi chia ly . Hình ảnh giậu trúc ngoài ngõ bao lần đổi thay, phải chăng vì vương vấn nỗi buồn ly biê ̣t?:

Ngõ ngoài trúc đổi bao lần biếc, Còn vướng hoàng hôn lúc biệt ly.

(Ngõ trúc)

Mùa đông, lá cây lìa cành ; bầu trời dường như trĩu nă ̣ng , trời đất như gần với nhau hơn. Đây là mô ̣t quy luâ ̣t tuần hoàn của thiên nhiên . Nhƣng nhìn sƣ̣ đổi thay của thiên nhiên lúc đông về , nhà thơ nhƣ hiểu và cảm thông nỗi niềm của thiên nhiên, rồi thổi vào chúng mô ̣t tình cảm của con người . Rõ ràng c ái nhìn về thiên nhiên của Quách Tấn thâ ̣t đâ ̣m tính nhân văn:

Lá thương nhánh nặng bay hầu hết, Trờ i sợ non côi xích xuống gần.

(Trời đông) hoă ̣c: Lẻ vàng hoa mật trắng,

Khăng khít niềm thương thân.

(Bóng chiều xƣa)

Nhƣ̃ng hòn đá vô tri vô giác mà ta ̣o hóa khéo cho chúng xếp chồng lên nhau ở

bãi biển Nha Trang, dưới cái nhìn của thi nhân cũng mang nặng tình người, mô ̣t tình nghĩa gia đình thâm sâu, ở đó, chúng biết nương tựa nhau, đỡ đần nhau:

Trờ i mây biển nước cảnh mênh mông, Chân nú i dô ra đá mấy chồng.

Khăng khít thớt em nương thớt chi ̣, Vƣ̃ng vàng hòn cháu đỡ hòn ông.

(Chơi Hòn Chồng cảm đề)

Theo Quách Tấn, thiên nhiên đã bồi đắp cho con người niềm ru ng cảm và tình thương yêu sâu lắng thì con người cũng phải đáp la ̣i bằng tình cảm , bằng sự tôn trọng nhau. Đây là mô ̣t ƣ́ng xƣ̉ đe ̣p , thắm tình đâ ̣m nghĩa. Bằng chƣ́ng là nhà thơ đã

cất bước rón rén , nhẹ nhàng lúc đi dạo tron g đêm khuya , vì sợ các chú chim thức giấc: “Bước hoa dìu gió nhe ̣,/E động giấc hoàng ly.” (Giếng hương)

Nhà thơ cho rằng, cái đẹp của thiên nhiên phải hài hòa , phải là cái đẹp nguyên sinh. Vì thế, ông không muốn hái hoa vì thương; nhìn thấy hoa rụng lại càng thương thêm, chẳng khác nào nhƣ Nguyễn Trãi ngày xƣa sợ làm mất đi vẻ đe ̣p của thiên nhiên, cụ thể là sợ làm tan vỡ vẻ đẹp ánh trăng trong ao nên chẳng muốn buông dây câu cá; sợ chim không nơi làm tổ nên ngại phát cây rừng : “Trì tham nguyê ̣t hiê ̣n , chẳng buông cá; Rƣ̀ng tiếc chim về, ngại phát cây”. Còn Quách Tấn thì:

Thương hoa không nở hái,

Hoa rụng lòng thêm thương.

(Tình hoa)

Đó là nhƣ̃ng nét đồng cảm , đồng rung đô ̣ng , cùng chia sẻ vui buồn của thi sĩ

đối với thiên nhiên. Mô ̣t tấm lòng đầy nhân ái, đâ ̣m chất nhân văn.

2.2.2. Tái hiện mô ̣t số hình ảnh thiên nhiên: hoa cúc, chim én, ánh trăng...

- Trướ c hết là hình ảnh hoa cúc. Không phải ngẫu nhiên mà trong thơ Quách Tấn, hoa cúc xuất hiê ̣n với tần số cao . Quách Tấn miêu tả nhiều hoa cúc bởi nhà thơ rất yêu hoa cúc. Sự yêu thích đó như in sâu trong tâm tưởng nhà thơ , thành nỗi “ám ảnh” trong thơ ông , từ đó cái sắc vàng di ̣u tươi tắn kia như lan tỏa khắp trong thơ ông, những cánh hoa tưởng chừng mong manh kia la ̣i bao phủ được toàn bộ hồn thơ Quách Tấn. Bài thơ sau viết theo lối thơ bốn chữ nhƣ đồng dao:

Vàng ƣơm lác đác Cành sương xao xác Chồi cúc đượm hương Nét cúc tuy buồn Lòng cúc vẫn đƣợm Nắng xuân không tưởng Ngại gì lạnh thu

Song Nam bạn bầu Có ông Bành Trạch …

(Các loài hoa – tâ ̣p Vui vớ i trẻ em)

Ở đây, hoa cúc là biểu tƣợng cho cốt cách thanh cao , phẩm tiết cƣ́ng cỏi , ngời sáng, trong sa ̣ch của bâ ̣c đa ̣i ẩn . Hình ảnh này bắt nguồn từ điển tích nhà hiền triết Bành Trạch , tƣ́c Đào Tiềm [Đào Uyên Minh ], làm quan ở huyện Bành Trạch , vì không thể uốn gối khom lƣng với quan trên mà ông đã cáo quan về ở ẩn , sớm tối vui cùng với cúc nơi vườn Bùi (Bùi viên). Người dùng hoa cúc thay cho sự thanh đa ̣m không bâ ̣n bi ̣u đến sự đời. Hoa cúc nở vào mùa thu, trong tiết trùng dương (tiết trùng cửu, tức ngày mùng 9 tháng 9). Nói về mùa thu là nhắc đến hoa cúc . Người ta nói “Quách Tấn là nhà thơ Mới nhưng mang nă ̣ng âm hưởng thơ Đường” hay “mô ̣t nhà thơ cổ điển sống trong thời đại cách tân” . Phải chăng ở bài thơ “Các loài hoa”

với đoa ̣n thơ vừa trích đã phần nào thể hiê ̣n được lời nhâ ̣n xét này : thể thơ cách tân,

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 81 - 95)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(167 trang)