Nhu cầu hiện đại hoá thơ Việt trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 55 - 79)

Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA QUÁCH TẤN VÀ

1.3. THƠ ĐƯỜNG LUẬT NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ NHU CẦU KẾ THỪA TINH HOA THƠ TRUYỀN THỐNG

1.3.1. Nhu cầu hiện đại hoá thơ Việt trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

Vấn đề hiện đại hoá thơ Việt hồi nửa đầu thế kỷ XX đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập trong nhiều công trình và tiểu luận. Đặc biệt, vấn đề này cũng đã đƣợc nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn lý giải rất thuyết phục trong tiểu luận “Thơ ba mươi năm đầu thế kỷ” ở công trình Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa, cụ thể: một là hiện đại hóa thơ do xuất hiện kiểu tác giả mới, tiếp nhận Tây học, chịu ảnh hưởng thơ Tây; hai là quy luật phát triển của văn học bao giờ cũng là sự tiếp tục, nối dài những dư âm của nền văn học cũ, trong đó có thể thơ Đường luật [81,tr.571-648].

Ở đây, luận văn xin đƣợc nêu lại những gì đã lĩnh hội từ những tƣ liệu đã đọc.

Cuối thế kỷ XIX , văn ho ̣c chƣ̃ Quốc ngƣ̃ đã hình thành ở Nam bô ̣ . Đến thâ ̣p niên đầu thế kỷ XX , nhiều tác phẩm văn xuôi Quốc ngƣ̃ : truyê ̣n ngắn , tiểu thuyết được xuất bản, dù buổi đầu còn vụng về bút pháp , non nớt về kết cấu , chất lượng nghê ̣ thuâ ̣t còn hạn chế nếu so với các tác phẩm ở giai đoa ̣n sau , tuy vậy cũng đã có

vài tác phẩm gây đƣợc tiếng vang nhƣ tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Thiên Trung ; truyê ̣n ngắn Sống chết mặc bay (1918) của Phạm Duy Tốn . Để sang nhƣ̃ng năm 20 và 30 của thế kỷ XX , nền Quốc văn mới đã có nhƣ̃ng thành tƣ̣u đáng kể. Nhiều tác phẩm văn ho ̣c có giá tri ̣ đƣợc xuất bản . Nhiều cây bút sáng tạo dồi dào và sung sức xuất hiện , đã được công chúng đô ̣c giả lớp mới thừa nhâ ̣n nhƣ nhƣ̃ng tài năng thƣ̣c sƣ̣. Về văn xuôi, trong Nam xuất hiê ̣n rất nhiều cây bút viết tiểu thuyết , đoản thiên tiểu thuyết , truyê ̣n ngắn , mà người đạt nhiều thành tựu nổi bâ ̣t, đã được số đông người đo ̣c hâm mô ̣ , không ai khác hơn là nhà văn Hồ Biểu Chánh với hàng chục tác phẩm bề thế, đươ ̣c xuất bản từ khoảng năm 1913 đến năm 1930 và về sau ; ở ngoài Bắc , dù muộn hơn , nhƣng tiểu thuyết Kim Anh lê ̣ sƣ̉ của Trọng Khiêm (1924) và Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách (1926) đã cắm cái mốc đỉnh cao của văn học chặng đường đầu tiên này.

Về thơ, ở chặng đường đầu này , xuất sắc hơn cả là những thi phẩm lãng ma ̣n , phóng túng, dạt dào cảm xúc của Tản Đà . Lần đầu tiên, cái tôi cá nhân của nhà thơ đươ ̣c bô ̣c lô ̣ mô ̣t cách khá chân thành và th oải mái. Bên ca ̣nh, cũng cần phải nhắc đến những bài thơ sử dụng rộng rãi các điệu thức thơ ca dân gian để thể hiện tình cảm yêu nước kín đáo mà không kém phần thiết tha của Á Nam Trần Tuấn Khải . Có thể nói, Tản Đà và Trần Tuấn Khải chính là chiếc cầu nối giƣ̃a hai thời đa ̣i thơ ca : tƣ̀

thơ ca trung đa ̣i sang thơ ca hiê ̣n đa ̣i.

Đến giai đoa ̣n 1932-1945, quá trình hiện đại hóa văn học lúc này đã đạt trình đô ̣ hoàn thiê ̣n . Văn ho ̣c giai đoa ̣n này phát triển ma ̣nh mẽ , nhiều tác phẩm ƣu tú

xuất hiê ̣n với nhiều đề tài phong phú và đa da ̣ng về thể loa ̣i . Văn học giai đoa ̣n này có hai bộ phận với ba dòng văn học mang ba hệ ý thức khác nhau : văn học lãng mạn và văn học hiện th ực phê phán thuộc bộ phận văn học hợp pháp mang ý thức hệ tƣ sản, tiểu tƣ sản ; còn văn học cách mạng thuộc bộ phận văn học bất hợp pháp mang ý thức hệ vô sản . Riêng dòng văn ho ̣c lãng ma ̣n , các tác phẩm của nhóm Tƣ̣

Lƣ̣c văn đoàn và Thơ Mới đã góp phần đƣa tiếng Viê ̣t văn ho ̣c viết bằng chƣ̃ Quốc ngƣ̃ lên đỉnh cao , đa ̣t đến trình đô ̣ nhuần nhu ̣y , trong sáng và tinh tế , đủ khả năng diễn đa ̣t những điều sâu kín nhất trong tâm hồn con người với những cung bâ ̣c , sắc thái tình cảm khác nhau . Chính thành tựu của Tự Lực văn đoàn và Thơ Mới đã góp phần hoàn thiện quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam . Đặc biệt là phong trào Thơ Mới, đã làm cho vườn hoa văn ho ̣c dân tô ̣c vốn đã phong phú , đa da ̣ng tr ước đó, nay càng thêm nhiều vẻ với nhiều hương thơm , sắc thắm. Nói như nhà phê bình Hoài Thanh, phong trào Thơ Mới thâ ̣t sƣ̣ đã làm nên “mô ̣t cuô ̣c cách mệnh trong thơ ca” [74,tr.19]. Cuộc cách ma ̣ng này không chỉ diễn ra ở phương d iê ̣n nghê ̣ thuâ ̣t như phá bỏ những lối diễn đạt ƣớc lệ , nhƣ̃ng công thƣ́c gò bó , nhƣ̃ng quy pha ̣m khuôn khổ…, thay vào đó là cách diễn đa ̣t mới ; mà còn diễn ra ở cả phương diện nội dung như thể hiê ̣n sự cảm nhâ ̣n mới mẻ về tâm hồn con người và thế giới hiê ̣n thực khách quan mô ̣t cách tinh tế , tƣ̣ nhiên và chân thành hơn . Vấn đề vừa nêu thuộc phạm trù tƣ duy nghệ thuật.

Phong trào Thơ Mới đã ghi nhâ ̣n nhiều tên tuổi lớn của nền văn ho ̣c hiê ̣n đa ̣i như Thế Lữ, Lưu Tro ̣ng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diê ̣u, Huy Câ ̣n, Nguyễn Bính, Chế

Lan Viên, Quách Tấn , Bích Khê v .v..; trong đó , xuất hiê ̣n nhiều nhóm thơ nhƣ nhóm Xuân thu nhã tâ ̣p, nhóm Huy Xuân, nhóm Bàn Thành tứ hữu v.v.. Nhờ phong trào Thơ mới mà diện mạo văn học Việt Nam giai đoạn này thật sự khởi sắc , cái tôi cá nhân trữ tình được khẳng định rõ nét , tạo bước nhảy vọt trong quá trình hiện đại hóa văn học nhƣ lời khẳng định của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại: “ở nước ta, mô ̣t năm có thể kể như ba mươi năm của người” [51].

Cuộc giao lưu tiếp xúc với phương Tây như “…mô ̣t cơn gió ma ̣nh bỗng từ xa thổi đến. Cả nền tảng xưa kia bị một phen điên đảo , lung lay . Sự gă ̣p g ỡ phương Tây là mô ̣t cuô ̣c biến thiên lớn nhất trong li ̣ch sử Viê ̣t Nam từ mấy mươi thế kỷ ” [74,tr.15]. Nếu trước đây những trí thức thời xưa vốn chỉ biết giao lưu văn hoá trong khu vực: văn hoá Hán mà chủ yếu là tư tưởng Nho giáo thì giờ đây khi tiếp xúc với văn hoá Phương Tây , họ đã bắt đầu đọc và trích dẫn những tân thư của Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu) hay Lư Thoa (J.J.Rousseau). Họ từng bước chấp nhận chữ

quốc ngữ , một thứ chữ ghi âm do người phương Tây tạo ra . Lúc này, những tư tưởng phương Tây được quảng bá trên Đông Dương tạp chíNam Phong tạp chí.

Một thế hệ thi sĩ mới đã làm một cuộc cách tân để tìm lối thoát cho thơ. Cuộc đổi mới văn tự đã đƣa chữ quốc ngữ lên ngôi. Báo chí tiếng Việt chữ Quốc ngữ nở rộ khắp ba miền, bên cạnh các hình thức sinh hoạt văn hoá, văn nghệ mới nhƣ kịch, điện ảnh… cũng phát triển.

Riêng về thơ, trong vài thập niên đầu thế kỷ XX , trên các báo xuất hiện những bài thơ Đường luật với đề tài và nội dung tả cảnh , vịnh sử, thù tạc đầy khuôn sáo, nhạt nhẽo. Vì thế mà năm 1917, trên Nam Phong tạp chí (số 5), Phạm Quỳnh đã lên tiếng phàn nàn về đặc điểm thiếu giọng thiên nhiên của lối thơ Đường luật, đề nghị các nhà thơ nên tiếp nhận một ít sắc thái của thơ Pháp để đổi mới cho thơ Việt, làm cho thơ Việt điều hoà đƣợc cái hay giữa phần nhân công và phần thiên thú. Tiếp đó, Phan Khôi trên Đông Pháp thời báo (1928) và Trịnh Đình Rƣ trên Phụ nữ tân văn (1929) cũng hùng hồn tỏ bày ý kiến về vấn đề này , mà ở mục Lịch sử vấn đề, luận văn có nêu (xem 2.2). Thơ cũ đã bị bài bác. Lúc này, nhu cầu đổi mới thi ca trở nên bức bối. Ngày 10-03-1932, tờ Phụ nữ tân văn (số 122), có đăng bài Một lối Thơ Mới trình chánh giữa làng thơ của Phan Khôi, tác giả đã dõng dạc cất lời kêu gọi:

Duy tân đi! Cải lương đi! và đưa ngay bài thơ Tình già của mình ra làm ví dụ sinh động. Tình già khó có thể đƣợc xem là một bài thơ xuất sắc . Tuy vậy , phải công nhận rằng bài thơ có nhiều điểm „ gây sự‟ với loại thơ mà người ta vẫn quen làm, quen đọc trước đó. Đó là số câu kéo dài theo nhu cầu kể việc và thổ lộ tình cảm; số chữ trong các câu không đều nhau, không cần niêm luật, đặc biệt, một câu chuyện tình cảm có vẻ „phất phơ‟ đƣợc thuật lại khá chi tiết, không một chút ngƣợng ngùng,… Từ đó, cái ngày bài Tình già ra mắt làng thơ đƣợc xem là ngày khai sinh của phong trào Thơ Mới. Một số nhà Thơ Mới chỉ trích thơ cũ , họ chê thơ Đường luật gò bó , khuôn sáo, hình ảnh cảm xúc thi tứ đều vay mượn , như ý kiến của Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêm, Vũ Đình Liên, Trương Tửu,… Trước tình thế ấy, phái thơ cũ cũng phản kháng lại kịch liệt và gay gắt. Họ chê những nhà Thơ Mới là mù quáng, dốt nát , vì không biết làm thơ Đường luật nên chê bai và không biết trân trọng các thể thơ truyền thống . Cuô ̣c chiến giữa hai phái không cân đối . Lực lượng của phái Mới đông đảo, mạnh mẽ, hăng hái và đă ̣c biê ̣t là trẻ hơn phái Cũ, nên ho ̣ có

sƣ́c đô ̣t phá hơn . Bên ca ̣nh đó , các nhà Thơ mới có đƣợc một sự hậu thuẫn rất lợi hại là tờ Phong hóa vớ i đô ̣i ngũ là những người rất có năng l ực và dày dạn kinh

nghiê ̣m cùng kiến thức Tây học . Điều mà ho ̣ vƣ̃ng tâm khẳng đi ̣nh trên thi đàn là đã

viết đươ ̣c những bài thơ thâ ̣t hay của Thế Lữ, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư v.v..

Các nhà Thơ Mới đã đi tìm hình thể cho thơ, thể hiê ̣n cảm xúc chân thực, đề ra một chuẩn mực mới cho cái Đe ̣p . Người được đánh giá cao với những bước đô ̣t phá

táo bạo và tài hoa bấy giờ là Xuân Diệu . Nếu Thế Lữ được xem là người khai phá

của phong trào Thơ Mới với sự e dè thì Xuân Diê ̣u là người nối tiếp ma ̣ch khai phá

ấy một cách tinh tế và khám phá cái huyền nhiệm của cuộc sống , của vũ trụ . Cảm xúc trực tiếp của nhân vật trữ tình là một trong những nguyên tắc kết cấu của thơ trữ tình thuộc phong trào Thơ Mới, có thể nói Thơ Mới về căn bản là thơ lãng ma ̣n . Ở

Thơ Mới, các nhà thơ đã khẳng định mình và tuyên bố quyền sống của mình , ý thức về mình đã dẫn tới ý niê ̣m về kẻ khác . Cảm xúc và tâm trạng man g đâ ̣m tính chủ

quan, nhưng nó có mô ̣t giá tri ̣ hiển nhiên cần đươ ̣c tôn tro ̣ng , đươ ̣c miêu tả như mô ̣t khách thể tồn tại độc lập , thể hiê ̣n cái tôi cá nhân : Tôi là một, là riêng là thứ nhất của Xuân Diệu trong bài Hy-mã-lạp-sơn, hay Tôi là thi sĩ của thương yêu của Nguyễn Bính trong bài “Một trời quan tái” . Chế Lan Viên trong lờ i Tƣ̣a tâ ̣p Điêu tàn đã viết: “Thi sĩ không phải là người , nó là Người Mơ , Người Say, Người Điên.

Nó là Tiên , là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát hiện tại . Nó xáo trộn dĩ vãng . Nó ôm trùm Tương Lai . Người ta không hiểu được nó vì nó nói nhiều cái vô nghĩa , tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý . Nhưng nó thường không nói . Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái cười của nó cũng tột cùng” . Cách thức tạo dựng một thế giới đầy màu sắc siêu thƣ̣c ấy chính là sƣ̣ xác đi ̣nh mới mẻ và đô ̣c đáo về bản chất siêu nhiên của thi sĩ . Nếu Thơ Mới ban đầu là lãng mạn thì về sau lại nghiêng về phía tươ ̣ng trưng, siêu thực. Cái tôi thi nhân đứng ở vị trí trung tâm , nó làm tăng tính tự giác và hợp quy luật của một trào lưu thơ , nó hóa thân vào những tư cách mới vừa có bề rộng lẫn bề sâu , tuy Thơ Mới vẫn chƣa ôm trùm đƣợc hết mọi khía cạnh của cuô ̣c sống cũng như của nghê ̣ thuâ ̣t , nhưng nó đã đánh dấu mô ̣t bước chuyển lớn của thơ trữ tình Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại với một quan niê ̣m và tư duy nghê ̣ thuâ ̣t mớ i, mô ̣t hê ̣ thống phương thức mới khi tái hiê ̣n hiện thực cuô ̣c sống.

Trong quá trình giao lưu văn hoá , sự du nhâ ̣p của thơ ca Pháp vào thơ ca Viê ̣t là điều không thể tránh khỏi. Thơ ca Pháp nhƣ mô ̣t luồng gió mới thổi vào hồn thơ

Viê ̣t. Thơ Mới đã thoát khỏi sƣ̣ ràng buô ̣c có tính quy pha ̣m của thơ cách luật , đổi mới về mă ̣t thi pháp và tư duy thơ , tư duy bằng liên tưởng , bằng ấn tượng , bằng cảm giác, bằng âm thanh , nhịp điệu, biến cái trừu tượng thành cu ̣ thể ,... là do ảnh hưởng của tư duy thơ hiê ̣n đa ̣i , nhất là trong thơ Pháp. Người đọc không lấy làm lạ là trong Thơ Mới lại chịu ảnh hưởng đậm đặc thơ ca Pháp, nhất là thơ tượng trưng.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “Theo nghĩa rộng tƣợng trƣng là hình tƣợng đƣợc hiểu ở bình diện ký hiệu, là ký hiệu chứa đựng tính đa nghĩa của hình tƣợng. Mọi tƣợng trƣng đều là hình tƣợng, nhƣng phạm trù tƣợng trƣng nhắm chỉ cái phần mà hình tƣợng vƣợt khỏi chính nó, chỉ là sự hiện diện của một nghĩa nào đó vừa hoà hợp với hình tƣợng, vừa không đồng nhất hoàn toàn vào hình tƣợng.

(…) Theo nghĩa hẹp tượng trưng là một dạng chuyển nghĩa (tương tự như phúng dụ). Khi kết hợp hai bình diện: nội dung “vật thể” và nghĩa bóng của nó sẽ tạo thành một đối sánh tƣợng trƣng. Mỗi yếu tố của hệ thống nghệ thuật (ẩn dụ, so sánh, tả phong cảnh, các chi tiết, nhân vật v.v..) đều có thể trở thành tƣợng trƣng, nhƣng chúng có thành tƣợng trƣng hay không, là do các dấu hiệu: 1) Độ cô đúc của sự khái quát nghệ thuật. 2) Dụng ý của tác giả muốn vạch ra ý nghĩa tƣợng trƣng của những điều mình miêu tả. 3) Văn cảnh tác phẩm, hệ thống sáng tác của nhà văn cho thấy một ý nghĩa tƣợng trƣng độc lập với dụng ý miêu tả cụ thể của tác giả. 4) Văn cảnh văn học của thời đại.” [22, tr.331-332]

Những nhà thơ tƣợng trƣng của Pháp nhƣ: Baudelaire (1821-1867), Rimbaud (1854-1891), Verlaine (1844-1896), Mallarmé (1842-1898), Valery (1871-1945)…

và những nhà thơ lãng ma ̣n nhƣ : Lamartine (1790-1869), Alfred de Vigny (1797- 1865), Victor Hugo (1862-1885) và nhóm Thi Sơn: Theophile Gautier, Leconte de Lisle, Sully Prudhomme… đều có ảnh hưởng sâu đậm đến Thơ Mới ở ta.

Huy Câ ̣n , Xuân Diê ̣u , Hàn Mặc Tử, Đoàn Phú Tƣ́ , Bích Khê,… đã chịu ảnh hưởng thơ tượng trưng của Baudelaire , Verlaine,… nhưng người chi ̣u ản h hưởng Baudelaire sâu sắc phải kể đến Bích Khê và Hàn Mặc Tƣ̉ với những bài thơ mang tính tƣợng trƣng và siêu thực . Các bài thơ của Verlaine nhƣ : Tiếng hát mùa thu , Mưa rơi dìu di ̣u trên thành phố,… đã ảnh hưởng trong thơ Huy Câ ̣n , Lưu Trọng Lư.

Các bài : Núi xa, Gửi hương cho gió của Xuân Diệu lại phảng phất tâm trạng của Baudelaire trong bài Chim hải âu. Các bài : Mai sau, Trò chuyện của Huy Cận lại

gần gũi với nhƣ̃ng bài : Nhƣ̃ng hải đăng, Cầu phúc của Baudelaire. Bài Con tàu say của Rimbaud đã gợi tứ cho tác phẩm Lời con đường quê của Tế Hanh.

Thơ ca Pháp đã ảnh hưởng rõ rê ̣t và sâu sắc đến Thơ Mới trong cách gieo vần, lối ngắt nhi ̣p , lối bắt cầu , cách làm cho ngôn ngữ giàu n hạc điệu, lối diễn tả bằng cảm giác tinh tế . Có khá nhiều bài thơ Pháp có tác dụng gợi ý cho những bài thơ Viê ̣t như: Cái bình vỡ của Sully Prudhonune và Vết thương lòng của Lan Sơn; U uất của Baudelaire và Đám ma đi của Lan Sơn; Nhƣ̃ng con voi của Leconte de Lisle và Chiến tượng của Chế Lan Viên , Con voi già của Huy Thông ; Mặt trăng bạc của Verlaine và Mây lưng chừng hàng của Xuân Diệu ,… Những ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn và tƣợng trƣng của Pháp đ ến Thơ Mới cũng rất phƣ́c ta ̣p . Có khi là sự gặp gỡ của mô ̣t tâm tra ̣ng , mô ̣t ý nghĩ , nhƣng cũng có khi là sƣ̣ giống nhau của mô ̣t môtip hay mô ̣t hình ảnh ,… Nha ̣c điê ̣u của thơ tượng trưng Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến nha ̣c điê ̣u thơ của Lưu Tro ̣ng Lư , Bích Khê, Nguyễn Xuân Sanh . Thơ của Lưu Tro ̣ng Lư có cái êm dịu , mơ màng, trong sáng của Verlaine . Về nha ̣c điê ̣u thì

Bích Khê gần với Baudelaire hơn.

Nếu ban đầu Thơ Mới chịu ảnh hưởng sâu đậm thơ Pháp thì về sau Thơ Mới có sự kết hợp một cách nhịp nhàng giữa thơ Đông và Tây , đó là sự tương hợp âm thanh, màu sắc con người và vũ trụ của Đường thi vớ i thơ Pháp trên cơ sở ngôn ngữ và truyền thống văn hoá Việt. Thơ Mới đã cải tạo lại thơ trữ tì nh tiếng Viê ̣t tƣ̀ câu thơ điê ̣u ngâm sang câu thơ điê ̣u nói. Ngôn ngƣ̃ Thơ Mới gắn với lời nói và dòng ngữ điê ̣u, cảm xúc của con người . Thành tựu nhất của Thơ Mới là giải phóng câu thơ, tạo dáng lại cho câu thơ . Thơ Mới có thể giãi bày mọi bí mật của cõi lòng riêng tư, từ nỗi buồn , sự cô đơn , những khao khát , sự chán chường , ghen tuông,… Nếu các nhà thơ cổ chỉ biết vịnh cảnh , vịnh vật, tỏ chí mà không nói đến tình cảm riêng tƣ của mình, thì các nhà Thơ Mới thể hiê ̣n nhƣ̃ng đề tài mới , lấy cái tôi cá nhân làm trung tâm. Thơ Mới với thi pháp mới và phát hiện ra cái tôi, bộc lô ̣ cái tôi hết sƣ́ c đa da ̣ng, hấp dẫn và phƣ́c ta ̣p , mô ̣t cái tôi cá nhân (l‟individu) vớ i tƣ cá ch là đối tươ ̣ng nhâ ̣n thức và phản ánh của thi ca trong quá trình phát triển của văn ho ̣c . Các nhà Thơ Mới đã ga ̣t bỏ mo ̣i ràng buô ̣c ƣớc lê ̣ , luân lý,… của mô ̣t thời kỳ để trở về

với con người mình, tìm thấy chính mình , họ nói bằng những rung cảm trực tiếp và mãnh liệt. Trong viê ̣c trở về với cái tôi của mình, Thơ Mớ i đã gă ̣p gỡ, hòa đồng vào

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 55 - 79)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(167 trang)