NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN
3.1. QUAN NIỆM CỦA QUÁCH TẤN VỀ VIỆC LÀM THƠ
Quách Tấn là con người đa tài, thành công ở nhiều thể loại khác nhau. Bên cạnh sáng tác thơ, Quách Tấn còn dịch thơ văn chữ Hán, tiếng Pháp và viết biên khảo về văn hoá, địa chí, mà những công trình này đều đƣợc các nhà nghiên cứu và người đọc đánh giá cao.
Riêng về thơ, Quách Tấn thường suy tư, trăn trở và thường phát biểu quan niệm của mình về việc làm thơ.
3.1.1. Quan niệm của nhà thơ về viê ̣c dùng điển, luyê ̣n chƣ̃
Quách Tấn là nhà thơ hiện đại, thời Thơ Mới, nhƣng ông sáng tác theo thể thơ cũ, thường là thơ cách luật. Chính vì thế mà người đọc bắt gặp trong thơ ông một số điển cố, điển tích chẳng khác nào nhƣ thơ thời trung đại. Vì sao vậy? Thơ cách luật thường hàm súc, cô đọng, ít lời nhiều ý, ý tại ngôn ngoại, muốn vậy phải dùng điển.
Việc này, Quách Tấn đã tâm sự trong tập hồi ký Bóng ngày qua (Đời văn chương) là nhiều nhất . Nhà thơ nhiều lần cho rằng , người làm thơ dùng điển để trang điểm cho câu thơ về mă ̣t hình thức và mượn nghĩa của điển để diễn ý của mình . Ngườ i dùng điển t hường thiên về lý trí . Trong hồi ký Bóng ngày qua (Đời văn chương), Quách Tấn nói: “Tôi dùng điển để gợi ý, nhất là để mượn nguồn cảm hứng, nghĩa là mươ ̣n những trường hợp riêng biê ̣t của mỗi điển tích để truyền cho đô ̣c giả những cảm giác ấy , cái thi vị ấy phải nhờ không khí điển tích gây trở lại mới mong thỏa mãn đƣợc ít nhiều” [71].
Theo Quách Tấn , khi sáng tác , người làm thơ dùng điển là chuyê ̣n cực chẳng đã. Nhà thơ nƣợn điển để giãi b ày cảm hứng , không phải vì bí ý , tƣ́ mà là để diễn đa ̣t mô ̣t ý tưởng nào đó cho ý nhi ̣, kín đáo, những ý không thể nói thẳng thừng. Nhà thơ chỉ cần dùng mô ̣t điển cố , điển tích có thể diễn đa ̣t mô ̣t ý tưởng , mà ý tưởng đó
nếu viết ra có thể rất dông dài . Ông viết: “Dùng điển là sƣ̣ cƣ̣c chẳng đã . Có nhiều điều không thể nói thẳng , không tiê ̣n nói trắng , nên phải dùng điển cho được uyển chuyển, cho đươ ̣c kín nhe ̣m , được thanh tao . Có nhiều ý phải nói hàng trang giấy mới đủ, phải dùng điển làm “đại biểu” cho đƣợc gọn gàng” [71,tr.260].
Quách Tấn nghĩ rằng, có điển cố, điển tích mà không dùng thì thâ ̣t lãng phí. Là nhà thơ, nếu có vốn hiểu biết sâu rô ̣ng , nhiều lúc không muốn dùng điển nhƣng tƣ̣
nó chợt đến , có khi dùng một cách không cố ý , để khi đọc lại mới vỗ vế mà cười . Lúc này thì thú vị biết bao ! Nhà thơ phải khổ công luyện chữ , để khi cần, hƣ́ng thơ chơ ̣t đến thì có ngay từ ngữ mà dùng , nhƣ móc tƣ̀ túi ra , chƣ́ không phải tốn công tìm tòi. Người làm thơ chẳng khác người thợ mài ngo ̣c giũa ngà , tức phải du ̣ng công rèn chữ chuốt câu sao cho ý nhị , thanh thoát, đƣ̀ng để la ̣i mô ̣t tỳ vết nào: “biết nhiều điển tích nhiều khi mình không đi ̣nh dùng , tƣ̣ nhiên chúng cũng đến đúng lúc. Lắm khi chỉ có một ý mà điển đến cả mớ, điển này tranh với điển kia để phu ̣c vu ̣ cho thơ;
làm người làm thơ phải mất công dàn x ếp cho ổn thỏa . Có khi chúng lén vào trong thơ lúc nào mình không hay biết; khi ngâm la ̣i mới vỗ vế mà cười” [71,tr.260-261].
Ông nói tiếp về ki nh nghiê ̣m luyê ̣n chƣ̃ làm thơ : “Khách làm thơ phải luyê ̣n chữ trước khi làm thơ chớ không phải trong khi làm thơ . Họ luyện chữ trong lúc rảnh rang. Những chữ ho ̣c thu thâ ̣p được trong sách vở , trên mỗi người... luôn luôn đươ ̣c đem chùi rửa , nung nấu... có khi bị biến chế thành nghĩa riêng tiếp tháp với nhƣ̃ng chữ không thông dụng thành những “con la” đủ sức xứng vóc chở những ý tưởng riêng biê ̣t của ho ̣. Họ rèn luyện , trau chuốt rồi để đó . Đến khi ho ̣ làm thơ thì
đem ra dùng như móc tiền trong túi , chớ đâu cần “cha ̣y ngược cha ̣y xuôi ” có lắm khi “bần ƣ nhất tƣ̣” , có lắm khi “nghĩ một chữ nát một khúc ruột” thật nhƣng “đó
đâu phải để trang sƣ́c cho câu thơ , mà chính để diễn tả cho đúng với ý nghĩa mình muốn diễn tả.
Huống nƣ̃a thợ làm đồ ngà phải thi ết phải tha, thợ mài ngo ̣c phải trác phải ma . Kẻ làm thơ hóa lại kém công phu hơn thợ ngà, thơ ̣ ngo ̣c sao ?
Nếu còn để cho người ta thấy rõ sự go ̣t giũa là do công phu chưa đúng mức , bút pháp chƣa tinh luyện, chƣ́ đâu phải lỗi tại sự dụng công.
Rèn chữ chuốt câu mà còn để thấy dấu rìu búa , dùng điển mà còn để thấy dấu cắt vá thì thơ chƣa có thể go ̣i là trác luyê ̣n, là đẹp đƣợc” [71,tr.262].
Tiếp đến, Quách Tấn còn cho người đọc thấy được s ự dung công thật công phu của ông khi làm thơ : “Từ khi tôi biết được “chân diê ̣n mu ̣c” của thơ , tôi làm thơ rất công phu. Không phải công phu ở chỗ “thôi xao tƣ̀ điê ̣u” mà còn “công phu trong viê ̣c uẫn nhưỡng tâm tư” [71,tr.263].
Nhà thơ còn cho người đọc thấy rõ kinh nghiệm làm thơ là phải tìm ý , có ý rồi cần nghiền ngẫm để có cảm xúc , khi cảm xúc , ý nghĩ hòa nhập thì cần nuôi dưỡng để tạo tứ thơ . Có tứ thơ , đó chính là lúc bƣ̀ng vỡ . Ông viết: “Khi lòng rung động trước cảnh, khi trí nghĩ được ý mới , không bao giờ làm thơ ngay . Tôi để cho mối cảm xúc, cho ý nghĩ thâm nhâ ̣p vào tâm hồn . Tôi nuôi dưỡng ấp ủ như con gà mái ấp trứng. Chờ khi thơ cảm thơ tứ thai nghén trong t âm tưởng đã thành hình , không còn có thể nằm mãi trong vỏ trứng đƣợc nữa , thì chỉ một cái khảy nhỏ của con gà mẹ, là có ngay một con gà con ra đời” [71,tr.264].
Quách Tấn từng viết trong Lời Tƣ̣a tâ ̣p Mộng Ngân sơn (1966): “Làm thơ cũng nhƣ sanh con, niềm đau khổ, nỗi mƣ̀ng vui, riêng nhƣ̃ng kẻ đã tƣ̀ng làm cha me ̣ mới biết thấu. Đối với đứa con đầu lòng , người sanh con la ̣i còn đeo thêm chút tình đă ̣c biê ̣t, vì nghĩ thương cảnh khởi đầu nan” [67].
Trên đây là trình bày mô ̣t vài quan niê ̣m của Quách Tấn trong viê ̣c làm thơ , trong cách dùng chƣ̃ đă ̣t câu , trong viê ̣c sƣ̉ du ̣ng điển cố , điển tích mà nhà thơ có ghi trong hồi ký Bóng ngày qua. Rõ ràng là ông làm thơ thật khổ công , thôi xao , chẳng khác nào người thợ kim hoàn cha ̣m khắc mài giũa ngà ngo ̣c để ta ̣o nên tác phẩm tuyê ̣t mỹ.
3.1.2. Quan niệm của nhà thơ về viê ̣c cho ̣n thể thơ để sáng tác
Quách Tấn chuyên sáng tác thể thơ Đường luật . Đây là thể thơ mà ông am hiểu luâ ̣t thơ và đã tâ ̣p tành làm thơ khi còn ngồi trên ghế nhà trường , qua sách giáo khoa Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm . Thơ Đường luâ ̣t la ̣i có bát cú và tứ
tuyê ̣t, trong đó chia ra thất ngôn và ngũ ngôn. Ở ba tập thơ đầu Một tấm lòng, Mùa cổ điển, Đọng bóng chiều, phần lớ n Quách Tấn cho ̣n thể thất ngôn bát cú và thất
ngôn tƣ́ tuyê ̣t để sáng tác . Điều này có lý do riêng của tác giả , thể hiê ̣n quan niê ̣m của ông về viê ̣c cho ̣n thể thơ.
Lời Tựa tập Mộng Ngân Sơn, Quách Tấn có dẫn lại lời của nhà lý luận văn chương cổ ở Trung Quốc, ông viết: “Trong tâ ̣p sách nổi tiếng Tùy Viên thi thoại , Viên Mai có da ̣y về phép làm thơ “Trước nên tâ ̣p làm thơ ngũ ngôn . Vì trên với đươ ̣c Cổ phong , dưới tiếp được Câ ̣n thể” . Nhưng riêng Quách Tấn , ông la ̣i nghĩ
khác. Nhà thơ nhận thấy rằng : “Thơ Thất ngôn âm trường , thơ Ngũ ngôn âm đoản . Mô ̣t bên là tơ trúc, mô ̣t bên là săng đá . Tơ trúc dễ rung cảm người nghe, săng đá dễ
làm cho người nghe sanh chán ghét . Cho nên, từ lúc biết làm thơ , tôi tránh thể Ngũ
ngôn. Có lẽ ở Việt Nam ta cũng ít người hâm mộ . Trong làng thơ Quốc âm từ trước đến nay, không thấy đươ ̣c nhiều thơ Ngũ ngôn truyền tu ̣ng” [67]
Nhƣng về sau, bắt đầu tƣ̀ Tết năm Ất Dâ ̣u (1945), nhân di ̣p em trai nhà thơ về
thăm nhà, hai anh em xướng ho ̣a thơ văn , có làm thử thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt mà nhà thơ ngâm nga cảm thấy thích thú . Đến năm 1947, khi em trai tản cƣ về Ngân Sơn, mô ̣t xã miền núi Phú Yên , là vùng quê kháng chiến , nhớ em, tác giả làm một bài ngũ ngôn. Tác giả “Tƣ̀ ấy ma ̣nh da ̣n làm thơ Ngũ ngôn , và chuyên về thơ Tuyệt cú” [Lời Tựa tâ ̣p Mộng Ngân Sơn, 1966]. Qua lời Tựa, ngườ i đo ̣c sẽ hiểu vì sao cả
tâ ̣p thơ Mộng Ngân sơn có 135 bài, và tất cả đều là thơ ngũ ngôn tứ tuyệt.
Điều đó cho thấy , nếu ban đầu Quách Tấn cho ̣n thể thơ thất ngôn (bát cú hoă ̣c tƣ́ tuyê ̣t) để sáng tác, thì từ năm 1947 về sau, bên ca ̣nh thể thất ngôn, ông còn dùng thể ngũ ngôn tứ tuyệt để sáng tác. Thi thoảng, người đo ̣c còn bắt gă ̣p thể lục bát hay lục bát biến thể, dù các thể này, ông rất ít khi sƣ̉ du ̣ng.
Tóm lại, Quách Tấn là mô ̣t “bà me ̣ khó tính” khi “mang nă ̣ng đẻ đau ra đƣ́a con tinh thần” và ông đã “chăm chút chăm sóc đƣ́a con ấy tƣ̀ng ly tƣ̀ng tý mô ̣t”
[71]. Nhờ thế mà nhƣ̃ng vần thơ của Quách Tấn mang dấu ấn riêng , phong cách riêng của ông“giữa cái bộn bề cuộc sống hiện đại vẫn còn thấy không khí cổ điển”
và trong không khí cổ điển thơ của ông vẫn mang đă ̣c trƣng bút pháp hiê ̣n đa ̣i , không thể nào nhầm lẫn với bất kỳ mô ̣t nhà thơ nào khác trước đó hoă ̣c cùng t hời.
3.1.3. Những thể thơ đƣợc Quách Tấn sử dụng trong các tập thơ
Thể thơ mà Quách Tấn thường sử du ̣ng nhiều hơn cả là thơ Đường luâ ̣t: thất ngôn bát cú; thất ngôn tƣ́ tuyê ̣t , ngũ ngôn tứ tuyệt mà ở trên luận văn có giới thiệu
qua. Bên cạnh thơ cách luâ ̣t vƣ̀a nêu , Quách Tấn còn làm thơ lục bát , lục bát biến thể và có khi dùng lối ca vè dân gian : thơ mỗi câu có ba, bốn, năm tiếng, mà tập thơ viết cho thiếu nhi Vui với trẻ em là tiêu biểu cho thể này . Chỉ tính riêng trong 5 tâ ̣p thơ xuất bản tƣ̀ 1939 đến 1973, qua thống kê, có thể thấy các thể thơ mà Quách tiên sinh thường sử du ̣ng như sau:
- Một tấm lòng (1939) có 74 bài, trong đó có 67 bài Đường luật (10 bài thất ngôn tứ tuyệt, 04 bài ngũ ngôn tứ tuyệt, 53 bài thất ngôn bát cú); còn lại 07 bài (01 bài thất ngôn trường thiên, 05 bài lục bát, 01 bài ca viết theo lối kết hợp tứ ngôn, ngũ ngôn và lục bát).
- Mùa cổ điển (1941) có 36 bài, trong đó có 34 bài Đường luật (28 bài thất ngôn bát cú; 06 bài thất ngôn tứ tuyệt); còn lại 02 bài lục bát. Ở tập Mùa cổ điển (bản mới , 1960) thì có 59 bài, trong đó tuyển tƣ̀ tâ ̣p thơ xuất bản năm 1941 là 29 bài, còn lại 30 bài mới. Đây là những bài thơ được viết sau năm 1941, chủ yếu là trong nhƣ̃ng năm kháng chiến chống Pháp . Tâ ̣p thơ sau cũng chỉ có vài bài lục bát, còn lại là thơ cách luật.
- Đọng bóng chiều (1965) gồm 108 bài thất ngôn tuyệt cú.
- Mộng Ngân sơn (1966) gồm 135 bài ngũ ngôn tuyệt cú.
- Giọt trăng (1973) in 60 bài ngũ ngôn tuyệt cú, chọn từ bản thảo 100 bài.
Ngoài ra, nhƣ̃ng tâ ̣p thơ chƣa xuất bản mà gia đình nhà thơ cho biết nhƣ Tiếng vàng khô viết theo thể thất ngôn bát cú ; Mây cổ thá p theo thể ngũ ngôn bát cú ; Cánh chim thu theo thể ngũ ngôn và thất ngôn bát cú v.v..
Con số thống kê như trên đủ để khẳng đi ̣nh Quách Tấn là nhà thơ có sở trường về thơ cách luâ ̣t và thơ của ông có nhiều câu thơ , nhiều bài thơ hay, “có những câu thơ đe ̣p nhất trong nhƣ̃ng câu thơ đe ̣p nhất của văn ho ̣c Viê ̣t Nam ” nhƣ nhà thơ Chế
Lan Viên khen tă ̣ng. Nhƣ̃ng câu thơ, nhƣ̃ng bài thơ nhƣ: Đêm thu nghe quạ kêu , Đà
Lạt đêm sương , Mộng Ngân Sơn , Mộng thấy Hàn Mặc Tử , Qua Phú Yên tức cảnh , Bên sông, Trơ trọi, Chiều xuân, Đêm tình, Tình xƣa, Về thăm nhà cảm tác v.v.. là nhƣ̃ng ví du ̣. Điều đó còn dùng để giải thích ta ̣i sao nhà thơ tiền bối Tản Đà la ̣i đă ̣t ông bên ca ̣nh các nhà thơ cổ điển như Hồ Xuân Hương , Bà Huyện Thanh Quan , Yên Đổ và nhà phê bình Hoài Thanh mă ̣c nhiên công nhâ ̣n và xếp cho ông mô ̣t vi ̣
trí xứng đáng ở bàn nhất , bàn nhì trong phong trào thơ Mới , và trích thơ của ông đến 09 bài trong tuyển tập Thi nhân Viê ̣t Nam [74, 267-274].