Những ý kiến về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 20 - 25)

Ở trên là những thành tựu nghiên cứu về thơ Quách Tấn từ trước đến nay. Còn ý kiến về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX, có thể điểm qua như sau:

Thơ Đường luật ở Việt Nam có một lịch sử lâu đời, nó gắn liền với văn hoá Hán khi nền văn hoá này du nhập vào nước ta. Ở đây luận văn chỉ tổng thuật đôi nét về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX, tức trong giai đoạn hiện đại hoá văn học nước nhà. Điều cần lưu ý là, trước thời điểm Thơ Mới xuất hiện thì đã có một vài ý kiến công kích thơ cũ của Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Trịnh Đình Rƣ. Các nhà nghiên cứu thường nhắc đến bài “Bàn về thơ Nôm” của Phạm Quỳnh đăng trên Nam phong tạp chí, số 5-1917 như là một phản ứng đầu tiên với thơ Đường luật, khi ông viết:

“Người ta thường nói thơ là cái tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm cho nghề thơ, thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy cho nó hay hơn, trúng vần trúng điệu hơn, nhƣng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên nhiên đi vậy” [bđd]. Nếu chỉ dựa vào ý này thì rõ ràng Phạm Quỳnh là người đầu tiên công kích thơ cũ, chủ yếu là thơ Đường luật. Năm 1928, trên tờ Đông Pháp thời báo, Phan Khôi phê phán việc dạy thất ngôn luật bằng Quốc ngữ là “tục quá”;

đặc biệt ông lên án lối thất ngôn luật trong khoa cử: “từ ngày đem thất ngôn luật vào trong khoa cử rồi thì thể ấy trở nên bó buộc quá mà mất cả sanh thú”. Ngay cả một vị Cử nhân Hán học là Trịnh Đình Rƣ, năm 1929, trên tờ Phụ nữ tân văn đã đặt câu hỏi “Có nên chuộng thơ Đường luật không?”, ông nêu cái khó của thơ luật khiến cho người làm thơ dễ mắc phải như: thất niêm, khổ độc, trần ngôn, sáo ngữ… Ông kêu gọi tìm một giải pháp mới, nhƣng không phải tìm cách phá luật mà quay về với các thể thơ truyền thống của dân tộc nhƣ Lục bát, Song thất lục bát.

Lúc này, tuy đã có vài ý kiến phản đối (nhƣng không phải là tẩy chay) thơ Đường luật, nhưng trên thi đàn, Tản Đà vẫn cho xuất bản các tập: Khối tình con I (1916), Khối tình con II (1918), Còn chơi (1921); Trần Tuấn Khải với các tập:

Duyên nợ phù sinh I (1921), Duyên nợ phù sinh II (1923), Bút quan hoài (1927).

Trong những tập thơ trên có nhiều bài viết theo thể Đường luật và vẫn được nhiều độc giả hưởng ứng, thưởng thức. Điều đó cho thấy, khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX,

trong quá trình vận động để hiện đại hoá văn học Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại, thì thơ Đường luật vẫn còn được dùng để sáng tác.

Đến thời điểm 1932, năm chính thức mở màn của phong trào Thơ Mới, với cái mốc là bài Tình già của Phan Khôi đăng trên tờ Phụ nữ tân văn ngày 10-3-1932 đã tạo nên làn sóng hưởng ứng của lớp thanh niên tân học và ít nhiều gây hoang mang cho lớp cựu học. Từ đó, trên thi đàn diễn ra hai mặt trận: phái Mới có Phan Khôi, Thế Lữ, Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên…; phái Cũ có Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, Tùng Lâm, Hoàng Duy Từ… Còn ở giữa hai phái (có thể gọi là trung gian), người ta ghi nhận có sự hiện của nhà thơ Tản Đà.

Khái niệm “phái Cũ”, “thơ Cũ” là do phái Mới, Thơ Mới đặt ra, chủ yếu để ám chỉ lối thơ sáng tác theo thể Đường luật đăng trên các báo công khai hồi đó. Sự tấn công của Thơ Mới vào thành trì của thơ cũ không chỉ đơn thuần là sự phá bỏ hình thức thơ cũ, nhất là sự gò bó nghiêm ngặt của thơ cách luật, mà phần nào còn là sự tấn công vào ý thức hệ, những giá trị tinh thần, những tiêu chuẩn thẩm mỹ của văn học trung đại với ý thức hệ phong kiến. Dưới cái nhìn của các nhà Thơ Mới thì các nhà thơ cũ chỉ là “thợ thơ”, và thơ cách luật chỉ là loại thơ “con chó đi vô, con mèo đi ra”, thể Đường luật thì đúng là “cái ngục giam hãm tình tứ” [44]. Tất nhiên, Thơ Mới thắng lợi không hoàn toàn do những lời phát biểu công kích thơ cũ, mà quan trọng hơn và chủ yếu là do những thi phẩm mới mẻ của các thi nhân tài năng nhƣ:

Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… được đông đảo bạn đọc nhiệt liệt và hồ hởi tiếp nhận.

Trong khi đó, trước sự tấn công của phái Mới, những người thuộc phái Cũ như Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, Tùng Lâm… đã có phản ứng lại. Họ dựa vào thành tựu thơ ca gần 1000 năm của dân tộc để chỉ trích Thơ Mới là thứ thơ “luộm thuộm”,

“văn xuôi”; Nguyễn Văn Hanh trong bài “Thi cũ thi mới” đã chê trách các nhà thơ ta bắt chước thơ Tây là sai lầm. Theo ông, phá niêm, phá cách, nhưng có vần thì còn đƣợc, chứ tự do tới mức những câu nhƣ: “Sen, ơi Sen mầy đƣa tao đôi guốc,/ Để

tao ra vườn ngắm cảnh chơi” thì cũng có thể thành thơ được, ngay Thạch Lam là nhà văn kiểu mới cũng phải cho là “lạ” quá. [dẫn lại: 76,tr.10-11]. Sở dĩ, Thơ Mới tấn công thơ Cũ, một phần là do thơ Cũ lúc này chỉ lo chăm chút gò văn gọt chữ, vì thế mà thơ trở nên sáo rỗng, nhạt nhẽo, khô khan. Thử đọc lại những bài thơ Đường

luật đăng trên Nam Phong tạp chí lúc bấy giờ sẽ thấy cái nhạt nhẽo vô vị của nó.

Điều này, chính nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định trong một bài viết về Tản Đà, sau khi nhà thơ này đã tạ thế. Sau đó, trong Thi nhân Việt Nam, khi tổng kết phong trào Thơ Mới, Hoài Thanh và Hoài Chân rất có lý khi nói rằng: “Công kích những bài Thơ Mới lủng củng là một chuyện thừa vậy. Công kích đƣợc những bài có giá trị mới mong tiệt đƣợc mầm Thơ Mới. Nhƣng đã có giá trị thì còn biết biết công kích thế nào!” [74,tr.26]. Và trong tình thế ấy “chỉ có một người hoặc có thể làm nên chuyện. Người ấy là Tản Đà, một nhà thơ có tài” [74,tr.25]. “Nhưng đối với Thơ Mới, Tản Đà lại hết sức dè dặt” [74,tr.25], và lúc này, Tản Đà bị cả hai phái tranh giành, nhƣng ông vẫn có cảm tình đặc biệt với thơ cũ, bằng chứng là trên tờ An Nam tạp chí, ông viết nhiều bài bình luận về thơ Đường luật, ông khen thơ Đường luật của Tham Toàn, Quách Tấn rất hay và công phu. Chính sự bênh vực của Tản Đà cùng một số bài thơ Đường luật khá nhuần nhị của Quách Tấn, Tham Toàn, Bích Khê… đăng trên An Nam tạp chí đã khiến nhiều nhà thơ cũ lấy lại đƣợc tự tin trong sáng tác. Chẳng hạn, tháng 4 năm 1935, hai ông Tường Vân và Phi Vân xuất bản tập thơ cũ ở Vinh: Những bông hoa trái mùa; năm 1936, Hàn Mặc Tử cho xuất bản tập Gái quê ở Quy Nhơn, trong đó có một số bài thơ Đường luật; nhưng phải đợi đến năm 1939, khi Quách Tấn cho xuất bản tập Một tấm lòng với lời Tựa của Tản Đà và lời Bạt của Hàn Mặc Tử thì phần nào đã xua tan không khí ảm đạm của thơ cũ; để đến năm 1941, Quách Tấn cho xuất bản tập thơ Đường luật thứ hai: Mùa cổ điển thì bạn đọc và các nhà Thơ Mới buộc lòng phải công nhận “giọng thơ nhẹ nhàng, êm ái, có sức cuốn hút lạ lùng” này, thậm chí ngay khi đọc bản thảo tập thơ, có người đã thốt lên “chỉ một bài Đêm thu nghe quạ kêu chừng ấy thôi cũng đủ cho ta thấy thi sĩ đã vƣợt lên trên những thi sĩ có tiếng nhƣ: Bà huyện Thanh Quan, Yên Đổ, Chu Mạnh Trinh…” nhƣ ý kiến của Bích Khê [19,tr.59];[71,tr.414], để sau đó, Hoài Thanh và Hoài Chân đã xếp ông một chỗ ngồi xứng đáng trong Thi nhân Việt Nam mà ở mục trên luận văn có nêu.

Từ sau 1945, đối với thơ Đường luật, các nhà nghiên cứu nhìn nhận có chiều hướng thống nhất. Trong các công trình văn học sử như: Thi văn Việt Nam (Hoàng Xuân Hãn, 1951), Lƣợc thảo lịch sử văn học Việt Nam tập 3 (Nhóm Lê Quý Đôn:

Vũ Đình Liên - Trương Chính - Đỗ Đức Hiểu, 1957), Mấy vấn đề văn học sử Việt

Nam (Trương Tửu, 1958), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Ban Văn Sử Địa: Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, 1959), Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập 4 (tủ sách ĐHSP, 1961), Văn học Việt Nam 1930-1945 (Phan Cự Đệ - Bạch Năng Thi, 1966), Lịch sử văn học Việt Nam tập 5, phần 1 (tủ sách ĐHSP, 1976, tb), Văn học Việt Nam 1900-1945 (Phan Cự Đệ - Trần Đình Hƣợu - Nguyễn Trác - Nguyễn Hoành Khung - Lê Chí Dũng - Hà Văn Đức, Nxb GD, tb, 2000)…

trong các bài khái quát đã có những đánh giá chung về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX dù chỉ lướt qua, nhưng cái nhìn đã có tính hệ thống và khách quan hơn, thừa nhận sự tồn tại của thể loại này về số lƣợng, còn giá trị của nó vẫn là ý kiến khá sơ lược và thiên về nội dung hơn là hình thức nghệ thuật, trong đó đáng lưu ý là thơ Đường luật ở bộ phận thơ ca cách mạng được đánh giá cao hơn, còn thơ Đường luật ở bộ phận thơ ca hợp pháp thì dường như ít nhắc đến, nếu có thì thiên về phủ nhận hơn là khẳng định.

Bàn về thể thơ Đường luật, trước năm 1945 có một số công trình sau đây đã đề cập đến, dù mức độ nông sâu có khác nhau: Việt Hán văn khảo (Phan kế Bính, 1918), Quốc văn cụ thể (Bùi Kỷ, 1927), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm, 1943), Đường luật chỉ nam (Phạm Huy Toại, 1951), Thơ ca Việt Nam: hình thức và thể loại (Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức, 1971), Phong trào Thơ Mới (Phan Cự Đệ, 1982)… đã nêu và phân tích sự vận động của thể thơ Đường luật ở Việt Nam, trong đó có nói về những thay đổi về mặt hình thức thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX. Chẳng hạn, Phan Cự Đệ trong Phong trào Thơ Mới đã dành gần 8 trang để phân tích sự giao thoa giữa thơ Cũ và Thơ Mới, trong đó có nêu “Trong những bài thơ Đường luật của Hàn Mặc Tử, Quách Tấn đã có cái xôn xao, cái băn khoăn khó nói của thời đại mới… Có khi ở Quách Tấn, Phạm Văn Hạnh, hình thức thơ Đường chỉ là cái áo khoác ngoài của một tâm hồn mới và hiện đại” [14,tr.232- 233].

Lã Nhâm Thìn trong luận án PTS “Thơ Nôm Đường luật” (1993), trên cơ sở nhìn lại cả một chặng đường dài lịch sử, những thành công và hạn chế của thơ Nôm Đường luật trong lịch sử thơ ca Việt Nam, đã khẳng định: “Bước sang thế kỷ XX, tuy chữ Nôm đã mất hẳn vai trò trong cuộc sống và trong sáng tác văn học, nhƣng thể Đường luật vẫn tìm được chỗ đứng cho mình. Hình thức thơ quy phạm, trang

trọng, chuyển tải một mội dung hài hước “không nghiêm chỉnh” đã tạo thế mạnh cho thơ trào phúng” [78,tr.44].

Lê Đức Niệm trong Diện mạo thơ Đường (1995) đã khẳng định sự hiện diện khá bề thế của thể thơ Đường luật trong tập Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh và nhận xét: “Thơ Đường luật của Bác mang phong vị thơ Đường nhưng đã hiện đại hoá… Thơ chữ Hán của Bác đã mở rộng phạm vi phản ánh nhiều vấn đề to lớn của thời đại” [50].

Lê Sĩ Đại trong Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường (1996) cũng có nhắc đến sức sống của hồn thơ Đường và thể Đường luật trong thơ Việt giai đoạn sau năm 1930.

Ngô Văn Phú trong Thơ Đường ở Việt Nam (1996) đã nêu quá trình du nhập của thơ Đường, trong đó có thể thơ Đường luật và ảnh hưởng của nó đối với thơ Việt Nam. Theo ông, thơ Đường luật đã được các sĩ phu yêu nước dùng làm vũ khí đấu tranh với những tên tuổi lớn nhƣ Phan Đình Phùng, Nguyễn Hữu Huân, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… làm sáng danh cho thơ Đường luật… Sau này, thơ Đường luật còn được Tú Mỡ, Đồ Phồn vận dụng trong thơ trào phúng.

Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại (1999) đã dành một mục viết về đặc trƣng thi pháp của thơ Tự tình, trong đó có nhắc đến thể thơ Đường luật [58,tr.170-181].

Trần Thị Lệ Thanh trong luận án Tiến sĩ Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (2002) đã khảo sát trên 5.000 bài thơ Đường luật để khẳng định: Sự hiện diện của thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (chương 1); Hệ thống đề tài và cảm hứng chủ đạo trong thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: thiên nhiên, yêu nước, lịch sử, nhân thế (chương 2); Những đặc điểm về ngôn ngữ của thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: từ ngữ, ngữ pháp, ngữ âm (chương 3) [76].

Tóm lại, từ những đánh giá và nhận định trên của các nhà nghiên cứu phê bình, có thể nói thơ Quách Tấn là một hiện tƣợng độc đáo của nền văn học Việt Nam trong buổi giao thời của Thơ Mới và thơ Cũ. Quách Tấn đã tuân thủ những luật lệ quy phạm của các thể thơ Đường luật, nhưng ông biết làm mới, làm nổi bật

thể thơ này bằng cách kết hợp những tinh hoa ấy với nội dung hiện thực tươi mới, sinh động, mang hơi hướng của cái tôi cá nhân và phần nào cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng thời đại, mang nặng nỗi niềm riêng tư của cá nhân hòa cùng nỗi đau của dân tộc . Tất cả những ý kiến trên đã giúp cho người viết luâ ̣n văn có đi ̣nh hướng chung để dàn dựng ý tưởng trong quá trình thực hiện đề tài.

Một phần của tài liệu Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn (Trang 20 - 25)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(167 trang)