Cấu tạo cơ quan dinh dưỡng :
TBT, là cây Thông đất, đã có thân, lá và rễ thật. Đã có mạch dẫn là mạch ngăn.
Thân phát triển mạnh, phân nhánh theo lối rẽ đôi, sống địa sinh hay bì sinh. Lá nhỏ, hình vẩy hay hình kim, xếp xoắn ốc.
Sinh sản: Bằng hai cách: Sinh sản vô tính và hữu tính.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Sinh sản vô tính: Trên đỉnh cây Thông đất có túi bào tử chỉ có 1 ô, có vách dầy, được mang bởi những lá đặc biệt gọi là lá bào tử, tụ họp thành bông lá bào tử ở ngọn cành. Các bào tử trong túi bào tử hình thành do quá trình phân chia giảm nhiễm (1n), rơi xuống đất gặp điều kiện thuận lợi phát triển thành phiến mỏng chia thuỳởđỉnh, gọi là nguyên tản (TGT), sống hoại sinh nhờ sự cộng sinh của nấm.
Sinh sản hữu tính: Bằng noãn giao. Mặt trên nguyên tản hình thành túi tinh và túi noãn. Túi tinh phân chia cho tinh trùng có 2 roi. Túi noãn phân chia cho noãn cầu.
Tinh trùng nhờ nước bơi sang túi noãn k ết hợp với noãn cầu cho hợp tử (2n), mởđầu giai đoạn lưỡng bội. Hợp tử phân chia và phát triển thành phôi. Phôi nẩy mầm cho cây Thông đất con (TBT).
Chu trình sống của Thông đất là sự nối tiếp của hai giai đoạn: sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính, trong đó giai đoạn lưỡng bội chiếm suốt cả chu trình sống.
Đa dạng và phân loại:
Có 800 loài, phân bố rộng khắp trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở vùng nhiệt đới ẩm, đặc biệt ở châu Mỹ và các đảo Đông Nam Á. Việt Nam có 56 loài.
Ngành Thông đất được chia làm 2 lớp: Lớp Thông đất (Lycopodiopsida); lớp Quyển bá (Isoetopsida).
2.5.2. LỚP THÔNG ĐẤT (LYCOPODIOPSIDA) Cây nhỏbé, thân lưỡng phân, lá nhỏ. - Bộ Thông đất (Lycopodiales)
Họ Thông đất (Thông đá) - Lycopodiaceae P.Beauv. ex Mirb., 1802
Cây cỏ sống lâu năm (TBT), mọc ở đất hoặc trên các cây to. Thân đứng, nằm hoặc mọc thõng xuống, phân nhánh theo lối rẽ đôi. Lá nhỏ, đơn, một gân, thường xếp theo đường xoắn ốc, mọc so le. Lá bào tử giống hoặc khác các lá thường, xếp thành hình nón ởđầu ngọn cành. Túi bào tử riêng lẻở các lá bào tử, hình thận hoặc hình cầu.
Bào tử nhỏ và giống nhau, hình khối 4 mặt. Bào tử nẩy mầm cho nguyên tản (TGT) hình tim, mang túi tinh và túi noãn. Sau khi hoãn cầu được thụ tinh, hợp tử phát triển ngay trên nguyên tản hình thành cây Thông đất mới.
Gồm 3 chi với khoảng 200 loài. Việt Nam có 2 chi, 9 loài.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
- Chi Lycopodium - Thông đất (4/450) : L.
carinatum Desv.: Cây bì sinh. Thân mọc thõng xuống. Lá hình dùi, nhọn, sát vào thân; Thông đất, Thăng kim thảo (L. clavatum L.): Cây mọc bò, sống dai. Lá rất nhỏ, xếp xít vào nhau, phủ hết thân làm cho thân cây trông giống chân con chó sói có lông xù xì. Bào tử dùng chống dính cho thuốc viên tròn, rắc lên da bị rộp. Còn dùng làm chớp giả trên sân khấu thời xưa. Có ở Sa Pa; Rêu thềm nhà (L.
complanatum L.): Mọc trên mặt đất. Cành hình quạt. Thân chính nằm bò, lá hình dùi xếp thành hai dãy. Có ở Tam Đảo, Sa Pa; Râu rồng (L.
squarrosum Forst.): Cây bì sinh. Thân cong. Lá không cuống, hình dùi, nguyên, không sát vào thân.
Hình 8.9: Thông đất nhỏ (Lycopodiella cernua (L.) Pic.
Serm.)
- Chi Lycopodiella - Thông đất nhỏ (1/1): Thông đất nhỏ (L. cernua (L.) Pic.
Serm.): Cây có dáng đẹp, cao 20 – 30m, trông như cây thông con. Thường mọc ở ven các bụi. Dùng trang trí, bó hoa, làm thuốc chữa ho.
2.5.3. LỚP QUYỂN BÁ (ISOETOPSIDA)
Lá xếp theo mặt phẳng. Có lá kèm. Bào tử khác nhau (dị bào tử); nguyên tản khác nhau: nguyên tản đực bé, ít chia thuỳ; nguyên tản cái lớn, chia thuỳ sâu.
- Bộ Quyển bá (Selaginellales): Chỉ có 2 họ, 3 chi, trong đó 2 chi đã hoá thạch.
Họ Quyển bá - Selaginellaceae Milde, 1865
Cây cỏ, mọc ởđất, sống một năm hay nhiều năm. Thân đứng hoặc nằm, phân nhánh theo lối rẽđôi, các nhánh phần nhiều ở trong một mặt phẳng. Rễ phụ từ gốc các nhánh đâm xuống đất. Lá nhỏ, gồm hai loại: lá ở mặt phẳng dưới mọc đối, trải ra hai bên; lá ở mặt phẳng trên hướng về phía trước. Đầu các cành có bông sinh bào tử hình nón, mang túi bào tử một ô. Có hai loại túi bào tử: túi bào tử nhỏ - đựng bào tử nhỏ và túi bào tử lớn - đựng bào tử lớn.
Chỉ có 1 chi với các loài mang tên Quyển bá, 2 loài thường được dùng làm thuốc.
- Chi Selaginella - Quyển bá (37/700) : Thường mọc ở chỗ ẩm và ít ánh sáng:
Quyển bá bạc, Quyển bá quấn (S. involvens (Sw.) Spring) : Thân mọc đứng. Lá ở gốc thân chính cách xa nhau, lá bên khía răng và có ánh bạc ở mặt dưới. Thường gặp ở khe đá, lòng suối; S. repanda Spring.: Thân đứng. Lá ở gốc thân có hai dạng rất khác nhau, lá bên trải ra, hình trái xoan; Quyển bá trường sinh, Cây chân vịt (S. tamariscina Spring.): Thân mọc thành cụm, khi khô cuộn cong lên như chân con vịt, mọc ở những
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
nơi khô. Dùng làm thuốc cầm máu, chữa bệnh đại tiện ra máu. Ngoài ra còn các loài Quyển bá bạc (S. argentea (Hook. Et Grév.) Spring); Quyển bá yếu (S. delicatula (Desv.) Alston); Quyển bá xanh lục (S. doederleinii Hieron); Quyển bá Nhật (S.
nipponica Franch. et Sav.), vv. đều làm thuốc.
Hình 8.10: Quyển bá quấn (Selaginella involvens Spring); Quyển bá trường sinh (Selaginella tamariscina Spring.)