2.7. NGÀNH DƯƠNG XỈ (PTEROPHYTA)
2.7.4. L ỚP DƯƠNG XỈ (POLYPODIOPSIDA)
Là lớp lớn nhất của ngành Dương xỉ, hầu hết đang sống, gồm trên 270 chi, khoảng 10.000 loài. Túi bào tử có vách mỏng (chỉ có một lớp tế bào), có vòng cơ gi ới để mở túi. Gồm 3 phân lớp: Dương xỉ (Polypodiidae); Rau bợnước (Marsileidae); Bèo ong (Salviniidae).
2.7.4.1. Phân lớp Dương xỉ (Polypodiidae)
Cây địa sinh hay bì sinh, phần lớn là cây cỏ, có thân rễ. Lá non cuộn xoắn ốc.
Phiến lá nguyên hoặc khía sâu. Mặt dưới lá mang các túi bào tử họp thành ổ túi. Các ổ túi có thểđược phủ bởi áo túi đơn hoặc kép. Túi bào tử có hoặc không có vòng cơ giới.
- Bộ Bòng bong (Schizacales)
Họ Bòng bong - Lygodiaceae Presl., 1845
Thân rễ mọc bò hay thẳng đứng. Lá dài cong queo. Túi bào tử không cuống, đặt trên những đoạn hữu thụ rất giảm, tạo thành những bông dọc theo mép các lá chét hữu thụ. Vòng cơ giới đầy đủ, nằm ngang ởđỉnh túi bào tử. Áo túi giả hoặc không có áo túi.
Chỉ có 1 chi, với khoảng 40 loài, mọc hoang. Có một số loài dùng làm thuốc trong dân gian.
- Chi Lygodium - (10/40): Bòng bong lá to, Bòng bong lá xẻ (L. conforme C.
Chr.): Cây leo, dài gần 10m. Lá chia chân vịt. Cây phổ biến ở các đồi hoang, làm thuốc ; Bòng bong (L. flexuosum (L.) Sw.): Cây leo, khá thông thường trong các bụi
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
rậm, trên các cây nhỏ, làm thuốc; Hải kim sa, Bòng bong Nhật (L. japonicum (L.) Sw.):
Lá nhỏhơn lá bòng bong (rộng 3- 8cm) khía răng. Thường gặp trong các bụi rậm. Dùng làm thuốc lợi tiểu; Bòng bong leo (L. scandens (L.) Sw.): Lá chét nhỏ, dài 2 –3cm.
Cuống lá không có cánh.
Hình 8.15: Bòng bong (Lygodium flexuosum Sw.); Bòng bong lá to (L. conforme C. Chr.) - BộDương xỉ (Polypodiaceae)
HọDương xỉ - PolypodiaceaeBercht. et J.Presl., 1820
Hình dạng phiến lá thay đổi nhiều. Túi bào tử lứa tuổi khác nhau ở cùng một ổ túi. Vòng thẳng đứng, không đầy đủ, xếp theo đường kinh tuyến, đi qua chân của túi bào tử và mở bởi kẽ nứt ngang. Ổ túi có hình dạng khác nhau, hình tròn hoặc là hình thận, có khi nối liền với nhau thành một vạch dài (quần túi), hoặc phủ tất cả mặt dưới phiến lá. Có áo túi hoặc không có.
Là họ lớn, gồm 61 chi, phân bố rộng từ vùng nhiệt đới tới ôn đới. VN có 29 chi, mọc hoang. Có một số loài làm thuốc với tên Cốt toái bổ, Thạch vĩ.
- Chi Aglaomorpha: A. coronans Cop.: Cây bì sinh lớn. Thân rễ ngắn. Lá sát gốc, cuống ngắn, phiến nguyên hay chia thuỳ lớn, tròn, không đều. Ổ túi nhỏ, đều đặn ở khe các gân phụ. Gặp nhiều ởnúi đá. Rất giống bổ cốt toái, khác nhau một chỗ là chỉ có một thứ lá (xem chi Drynaria).
- Chi Drynaria - Cốt toái bổ (7/20): Tắc kè đá, Ráng bay (D. fortunei (Kuntze ex Metz.) J. Sm.): Mọc trên các tảng đá và cây to, đặc trưng bởi hai thứ lá: lá hình tim ở gốc, mọc đứng và lõm như cái thìa, bao gi ờ cũng bất thụ, không có diệp lục, có gân rõ rệt. Các lá kia là những lá bình thư ờng, có cuống, xẻ lông chim, bao giờ cũng xanh và mang ổ túi không có áo túi. Thân rễnhư con tắc kè bám trên đá, dùng làm thuốc mạnh gân cốt. Ngoài ra còn các loài Ráng đuôi phư ợng lá sồi (D. quercifolia (L.) J. Sm.), Tắc kè đá, Cốt toái bổ (Drynaria bonii Christ); Gừng đá, Ráng đuôi phượng (D. propinqua (Wall. ex Mett) J.Sm.), cũng được dùng làm thuốc tương tự.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Hình 8.16: Tắc kè đá (Drynaria fortunei J.Sm.); Ráng bay (Drynaria quercifolia (L.) J. Sm.);
Cốt toái bổ (Drynaria bonii Christ)
- Chi Platycerium - Ổ rồng (2/6): Ổ rồng tràng (P. coronarium (Koenig) Desv.): Cây bì sinh. Có hai loại lá: lá bất thụ rộng, ôm láy thân cây; lá hữu thụ thành những dải thõng xuống khắp mọi phía. Cây được trồng làm cảnh. Cả cây bó gẫy xương.
- Chi Pyrrhosia - Thạch vĩ (17/100) : Lưỡi mèo tai chuột (P. lanceolata (L.) Farw.) : Thân rễ dài, mọc bò. Lá cách xa nhau. Có hai loại lá. Lá bất thụ hình bầu dục trông như tai chuột. Lá hữu thụ dài, mang nhiều ổ túi ở mặt dưới, như lưỡi mèo. Cây bì sinh rất phổ biến trên các cành cây to. Cả cây dùng chữa trẻem suy dinh dưỡng ; Thạch vi, Phi đao kiếm, Kim tinh thảo (P. lingua (Thunb.) Farw.): Cây bì sinh có thân rễ dài, mang lá đơn, hình trái xoan có cuống. Dùng làm thuốc chữa bệnh đường tiết niệu.
- Bộ Cu li (Dicksoniales)
Họ Cẩu tích (Cu li) - Dicksoniaceae (C.Presl.) Bower, 1908 Thân rễ khoẻ, nhiều lông. Lá kép 2 – 3 lần
lông chim. Ổ túi ở mép lá. Áo túi có hai môi úp vào nhau, ổ túi ẩn sâu ở trong. Túi bào tử có vòng cơ giới đầy đủ, hơi nghiêng và mởtheo đường bên.
Gồm 7 chi, phân bố ở vùng nhiệt đới và ôn đới. VN có 1 chi, 1 loài, mọc hoang, thường dùng làm thuốc, kể cả trong CND.
- Chi Cibotium - Cẩu tích, Kim mao (1/12):
Cẩu tích, Lông cu li (C. barometz (L.) J.Sm.): Cây hóa gỗ, thân rễ thường ngắn, nhưng có khi cao tới 2,5m. Lá có thể dài tới 2m. Thân rễ phủ lông vàng, trông giống như con Cu li, được làm thuốc cầm
máu. Cây mọc ở ven rừng phục hồi sau nương rẫy, Hình 8.17: Cẩu tích (Cibotium barometz Link)
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
bờ suối. Thân rễ dùng làm thuốc, gọi là Cẩu tích.
- Bộ Cỏ Luồng (Pteridales)
Họ Seo gà (Cỏ luồng) - Pteridaceae Spreng. ex Jameson, 1821
Cây mọc ở gần đất, có nhiều lông vảy. Lá giống nhau hay có hai loại, bất thụ và hữu thụ. Lá kép lông chim, chia thuỳ đều đặn, ít khi xẻ ngón. Gân nối với nhau thành hình vành khuyên. Ổ túi ở mép lá hay ở giữa vành khuyên, có áo do mép lá gập lại, liền nhau thành một đường liên tục. Vòng cơ giới không đầy đủ, đi qua chân.
Gồm 23 chi, phân bố rộng rãi trên thế giới. Việt Nam có 12 chi với khoảng 50 loài, mọc hoang. Có 1 loài thường làm thuốc là Seo gà.
- Chi Pteris - Cỏ seo gà (28/250) : Cỏ luồng, Cỏ seo gà (P. ensiformis Burm.) : Thân rễ mọc bò. Lá mọc sát nhau. Gặp nhiều ở rừng thứ sinh trung du. Toàn cây làm thuốc lợi tiểu, trị lị, sốt; Seo gà, Phượng vĩ thảo, Ráng seo gà chẻ nhiều (P. multifida Poir.): Thân rễ ngắn. Lá ba lần lông chim. Cuống lá chung kết liễu bởi một đoạn lẻ. Mọc hoang ở khe đá ở rừng núi.
Dùng làm thuốc chữa ngứa lở. Cẳng gà, Ráng seo gà nửa lông chim (P. semipinnata L.): Thân rễ bò, có vảy màu đen. Cuống lá dài, nhẵn bóng, có cạnh. Cả cây dùng sát trùng.
Hình 8.18: Seo gà (Pteris multifida Poir.)
Họ Tổ chim (Tổđiểu) - Aspleniaceae Mett. Ex A.B.Frank, 1877
Cây địa sinh hay bì sinh. Lá xếp thành hoa thị trên thân rễ. Phiến lá nguyên hay kép lông chim, thuỳ hình tam giác, khía răng không đ ều, gân tự do. Ổ túi cong hay dài, song song với các gân phụ. Túi bào tử có vòng cơ giới không đầy đủ qua chân, mở theo khe ngang.
Gồm 9 chi, trên 700 loài, phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và ôn đới. VN có 1 chi, mọc hoang, dùng làm thuốc trong dân gian.
- Chi Asplenium - (49/650) : Tổ chim (A. nidus Lin.): Mọc trên các cành cây to trông như tổ chim. Rất phổ biến trong rừng ẩm. Lá chữa bệnh về tóc và da đầu, bong gân, sai khớp. Ngoài ra còn các loài Thiết giác thân lông (A. crinicaule Hance); Thiết giác lá gươm (A. ensiforme Wall.) cũng được dùng làm thuốc.
2.7.4.2. Phân lớp Rau bợnước (Marsileidae)
Chỉ có 1 bộ Rau bợnước (Marsileales) và 1 họ.
Họ Rau bợ nước - Marsileaceae Mirb., 1802
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Cây cỏ, thường ởnơi có nước. Thân rễ mọc bò ngang có nhiều lông tơ ngập trong bùn. Lá có cuống dài theo độ sâu của nước, chia thành 4 lá chét xếp chéo nhau. Bào tử quả có cấu tạo phức tạp, nhiều ô, hình cầu.
Gồm 3 chi, phân bố chủ yếu ở châu Phi, Australia và tân lục địa. VN có 1 chi, mọc hoang. Có 1 loài thường dùng làm thuốc là Rau bợnước.
- Chi Marsilea - Rau bợnước (3/65): Rau bợ nước, Cỏ chữđiền (M. quadrifolia L.): Cỏ dại thường mọc ở những nơi ẩm. Mỗi lá có 4 lá chét xép chéo chữ thập. Cả cây dùng làm thuốc chữa bạch đới, khí hư, thông tiểu tiện.
Hình 8.19: Rau bợ nước (Marsilea quadrifolia L.)
2.7.4.3. Phân lớp Bèo ong (Salviniidae)
Họ Bèo hoa dâu - AzollaceaeWettst., 1903
Cây nổi ở mặt nước. Lá xếp thành hai dãy, mọc so le, có hai thuỳ, một thuỳ, mỏng, hữu thụ. Ổ túi xếp từng đôi trên đế hình cầu, bao bọc hoàn toàn bởi áo túi.
Có 1 chi, phân bố rộng trên thế giới. Có 1 loài dùng làm thuốc trong CND là Bèo hoa dâu.
- Chi Azolla - Bèo hoa dâu (3/6): Bèo hoa dâu (A. caroliniana Willd.): Cây nhỏ, tạo thành một tấm thảm màu xanh trên mặt nước. Dùng làm phân bón, làm thuốc.