2.9. NGÀNH NGỌC LAN (HẠT KÍN) - MAGNOLIOPHYTA
2.9.3.2. Phân lớp loa kèn (Liliidae)
Cây cỏ, nhiều đại diện có thân hành, một số ít thân gỗ thứ sinh (tre, nứa). Hoa có cấu tạo thích nghi với lối thụ phấn nhờ sâu bọ hay nhờ gió. Hoa mẫu 3. Bao hoa không phân hoá
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
thành đài và tràng, dạng cánh tràng, dạng lá đài, xếp vòng. Số lượng nhị ít và cố định. Bộ nhuỵ có lá noãn dính nhau. Hạt phấn thường có 2 nhân và 1 rãnh.
- Bộ Loa kèn (Liliales)
Họ Loa kèn (Loa kèn trắng) - Liliaceae Juss., 1789 Tên tiếng Anh : Lily family
Cây cỏ có thân hành sống nhiều năm. Lá nguyên, thường hình dải hay hình ngọn giáo, có khi dạng tim, gân song song. Hoa có kích thước thay đổi, đơn độc hay thành cụm chùm ở ngọn. Hoa đều, lưỡng tính, ít khi không đều. Bao hoa 6 bộ phận xếp 2 vòng, rời hay dính nhau thành ống. Nhị 6, xếp 2 vòng, chỉ nhịđính trên gốc thuỳ hay ống bao hoa, rời hay dính nhau, bao phấn đính lưng hay đính gốc, mở dọc. Bộ nhuỵ 3 lá noãn dính nhau thành bầu trên. Quả nang chẻ ô. Hạt dẹt hay hình cầu.
Công thức hoa: P3+3 A3+3 G(3)
Đa dạng và sử dụng:11/?. Phân bố chủ yếu ởôn đới Bắc. Việt Nam có 2 chi, chủ yếu trồng làm cảnh (Loa kèn), làm thuốc.
Có 3 loài thường dùng làm thuốc là Bách hợp, Xuyên bối mẫu và Tri mẫu, 2 loài sau nhập từ Trung Quốc, được dùng trong CND.
- Chi Lilium - Loa kèn (4/6, trong đó có 2 loài nhập): Loa kèn trắng (L. longiflorum Thunb.): Cây trồng làm cảnh cho hoa đẹp, thơm. Thân hành (củ) làm thuốc trị ho; Loa kèn vằn (L. lancifolium Thunb.); Bách hợp (L. brownii F.E. Brow. ex Mill): Cây cỏ cao đến 1m, sống lâu nhờ thân hành vẩy. Lá hình mác. Hoa màu trắng, hình loa kèn. Cây mọc hoang trên núi đá.
Thân hành dùng làm thuốc chữa ho.
Hình 8.170: Bách hợp (Lilium brownii F.E. Brow. ex Mill); Xuyên bối mẫu (Fritillaria cirrhosa D. Don); Tri mẫu (A. asphodeloides Bunge)
- Chi Fritillaria (?): Xuyên bối mẫu (F. cirrhosa D. Don): Nhập từ Trung Quốc.
- Chi Anemarrhena (?): Tri mẫu (A. aspheloides Bunge): Nhập từ Trung Quốc.
HọLa dơn - Iridaceae Tên tiếng Anh: Iris Family
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Cây thân cỏ, sống nhiều năm, có thân rễ, củ hay thân hành, lá có mép chồng lên nhau.
Mạch thông chỉ có trong rễ. Cụm hoa xim hình đinh ốc. Hoa lưỡng tính, đều hay không đều.
Bao hoa hai vòng, hình cánh hoa, dính thành ống ở gốc. Nhị 3, bao phấn, hướng ngoài. Màng hạt phấn thường có một rãnh. Bộ nhuỵ 3 lá noãn dính nhau tạo thành bầu dưới. Qủa nang.
Công thức hoa: () ↑ K3 C3 A3G(3)
Đa dạng và sử dụng: 88/1500. Phân bố rộng trên thế giới. Việt Nam có 7 chi với khoảng 7 loài, mọc hoang và trồng làm cảnh (Rẻ quạt).
Có 2 loài thường làm thuốc, kể cả trong CND, là Rẻ quạt và Sâm đại hành.
- Chi Belamcanda - Rẻ quạt (1/2): Rẻ quạt, Xạ can (B. chinensis (L.) DC.): Cây cỏ, có thân rễ. Lá hình dải hẹp, xếp thành hai dãy, gân lá song song. Hoa màu vàng da cam đi ểm thêm những đốm tía. Cây mọc hoang và được trồng làm cảnh. Thân rễ gọi là Xạ can, làm thuốc chữa ho có đờm, trị rắn cắn. Cây thuốc Nam thiết yếu.
- Chi Eleutherine - Sâm đại hành (1/2): Sâm đại hành, Tỏi lào, Tỏi đỏ (E. bulbosa (Mill.) Urb.): Cây thân cỏ, cao 30cm. Thân hành có lớp vẩy đỏ nâu. Cây mọc hoang và được trồng lấy thân hành (gọi là “củ”) dùng làm thuốc cầm máu, sát khuẩn và làm thuốc bổ. Không nhầm với Sâm cau.
- Chi Gladiolus (1/180): La dơn (G. communis L.): Trồng làm cảnh.
- Chi Iris - Đuôi diều (1/300) : Đuôi diều, Huệ Nhật (I. japonica Thunb.) : Thân rễ lớn. Lá mảnh dài.
Cụm hoa ở ngọn hoa màu xanh tím. Mọc trên núi cao vùng Sa Pa.
Hình 8.171: Xạ can (Belamcanda chinensis (L.) DC.); Sâm đại hành (Eleutherine bulbosa (Mill.) Urb.)
- Bộ Náng (Amaryllidales)
Họ Lô hội - Asphodelaceae
Cây có thân ít phân nhánh, dạng cây gỗ có thân dầy, hoặc cây cỏ. Hoa giống hoa họ Hành. Bộ nhuỵ 3 lá noãn dính nhau tạo thành bầu trên. Quả nang mở ô, rất ít khi là quả mọng.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Đa dạng và sử dụng: 7/565. Phân bố ở châu Phi, Madagasca và các nước Ả Rập. Việt Nam có 1 chi, được trồng làm cảnh và làm thuốc.
- Chi Aloe - Lô hội (2/363): Lô hội (Aloe vera L. var. chinensis (Haw.) Berg.): Cây mọng nước, sống dai. Lá mọc thành hình hoa thị, mọng nước, có gai ở mép, mặt lá đốm trắng. Hoa màu đỏ vàng. Cây có nguồn gốc Bắc Phi, được trồng lấy nhựa làm mỹ phẩm, thuốc nhuận tràng, tẩy, trị giun, điều kinh. Lá chữa đau đầu, chóng mặt. Cây độc nếu dùng liều cao.
Hình 8.172: Lô hội (Aloe vera L.)
Họ Thùa (Dứa Mỹ) - Agavaceae Endl., 1841
Cây cỏ, thích ứng với lối sống khô hạn: lá dầy nạc trên thân ngắn, có gai. Cụm hoa cờ, đôi khi rất lớn. Hoa lưỡng tính, mẫu 3. Bao hoa có 6 bộ phận, rời hay dính nhau thành ống ngắn hay dài. Nhị 6, bao phấn đính gốc hay đính lưng. Bộ nhuỵ 3 lá noãn tạo thành bầu dưới hay bầu trên 3 ô, đính noãn trung trụ, mỗi ô nhiều noãn. Quả nang chẻ ô. hạt dẹt, đen.
Công thức hoa: P3+3 A3+3 G(3) hoặc G(3)
Đa dạng và sử dụng: 12/?. Phân bố Bắc bán cầu và từẤn Độđến Australia. Việt Nam có 4 chi với khoảng 11 loài, chủ yếu là các loài nhập, trồng làm cảnh, hàng rào. Một số loài được dùng làm thuốc trong dân gian.
- Chi Agave (8/300): Dứa mỹ (A. americana L.): Được nhập trồng làm cảnh, hàng rào và lấy sợi. Lá có vị chua, cũng đư ợc dùng làm thuốc. Ngoài ra còn có Dứa Mỹ trổ (A.
americana L. var. marginata Baill.): Mép lá có viền vàng chạy dọc, là nguyên liệu chiết hercogenin để bán tổng hợp cortison. Lá làm thuốc chữa sốt và lợi tiểu.
- Chi Polianthes (1/13): Hoa huệ (P. tuberosa L.): Cây có nguồn gốc Mexico, được nhập trồng làm cảnh, gồm 2 giống: Huệ đơn, cây thấp, hoa trắng và Huệ kép, cây cao, hoa dài.
Củ làm thuốc trị sốt rét.
- Chi Yucca - Ngọc giá (1/40): Ngọc giá (Y. filamentosa L.): Được nhập từ Bắc Mỹ, trồng làm cảnh. Hoa và quả ăn được.
Họ Hành - Alliaceae J. Agardh, 1858
Cây cỏcó thân hành áo hay hành đặc (dạng củ) Lá đơn, nguyên, hình dải hay hình ống;
gân song song hay hình cung. Cụm hoa dạng tán trên ngọn cán không có lá, có khi dạng bông hay chùm. Hoa thường lưỡng tính, đều, ít khi không đều. Bao hoa 6 thuỳ, rời hay dính nhau ở gốc, xếp 2 vòng, các thuỳ vòng trong thường nhỏ hơn. Nhị 6, xếp 2 vòng. Bộ nhuỵ 3 lá noãn tạo thành bầu trên, 3 ô, mỗi ô 1-2 hay nhiều noãn; vòi đơn, dạng sợi. Quả nang chẻ ô, 3 góc, bị ép ở trên. Hạt có vỏ dầy, nhẵn.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Công thức hoa: P3+3 A3+3 G(3)
Đa dạng và sử dụng: 32/750. Phân bố khắp thế giới. Việt Nam có 2 chi với khoảng 9 loài, chủ yếu trồng làm gia vị, rau ăn với các tên Hành, Tỏi, Hẹ, Kiệu. Có 2 loài làm thuốc phổ biến là Hành, Tỏi, kể cả trong CND.
- Chi Allium - Hành (8/700): Hành ta (A. ascalonicum L.): Lá hình trụ, rỗng dạng ống, mùi thơm, được trồng từ lâu đời; Hành tây (A. cepa L.): Xuất xứ từ vùng Tây Á; Kiệu (A.
chinense G.Don): Nguồn gốc Trung Quốc; Hành hương (A. fistulosum L.): Xuất xứ vùng đông Á; Hẹ (A. tuberosum Rottl. ex Spreng): Loài của vùng Đông Á ôn đới; Tỏi tây (A. porrum L.):
Có nguồn gốc Địa Trung Hải; Tỏi (A. sativum L.): Xuất xứvùng Trung Á, được trồng từ thời thượng cổ làm gia vị và làm thuốc chữa các bệnh tim mạch, phòng ngừa ung thư.
Họ Náng - Amaryllidaceae Juss., 1789 Tên tiếng Anh: Amaryllis family
Cây cỏ có thân hành áo. Lá đơn, tập hợp thành hoa thịở gốc hay ởđầu, hình dải, như da. Cụm hoa dạng tán; cán hoa có 2 lá bắc rời hay dính nhau. Hoa đều, ít khi không đều, lưỡng tính. Bao hoa dính thành ống bao quanh bầu hay về phía gốc đế hoa. Nhị 6, xếp 2 vòng, chỉ nhị thẳng hay cong, bao phấn mở dọc. Bộ nhuỵ gồm 3 lá noãn dính nhau tạo thành bầu dưới, 3 ô, mỗi ô có 1-nhiều noãn. Vòi nhuỵ dạng sợi, núm nhuỵ 3-5 thuỳ hay dạng đầu. Quả nang chẻ ô, ít khi mọng.
Công thức hoa: P3+3 A3+3G(3)
Đa dạng và sử dụng: 65/?. Phân bố khắp thế giới. Việt Nam có 12 chi với khoảng 22 loài, chủ yếu là loài nhập trồng làm cảnh vì có hoa đẹp, thơm. Cần chú ý vì một sốloài độc, dù có hoa đẹp, thơm.
Có 2 loài được thường dùng làm thuốc là Náng và Trinh nữ hoàng cung. Các loài khác dùng trong dân gian. Có loài độc như Thoát bào lan, Thuỷ tiên.
- Chi Amaryllis - Loa kèn đỏ (1/1): Loa kèn đỏ (A. belladonna L.): Hoa to, dạng phều, màu hồng dịu hay đỏ, mùi thơm. Cây nguồn gốc Nam Phi, nhập làm cảnh. Quả độc.
- Chi Crinum - Náng (6/130): Náng hoa trắng (C. asiaticum L.): Lá hình dải rộng, dài đến 1m, nhẵn bóng. Hoa lớn, màu trắng, có mùi thơm về chiều. Nhị thò ra ngoài. Quả hình cầu, có 1 ô và 1 hạt. Cây trồng làm cảnh và lấy lá làm thuốc chữa bong gân; Trinh nữ hoàng cung (C.
Latifolium L.): Có đặc điểm rất giống cây Náng nhưng lá mỏng hơn, mép lá hơi uốn lượn. Cây được trồng lấy lá làm thuốc hỗ trợ chữa ung thư.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
- Chi Eucharis - Ngọc trâm (1/20) : Ngọc trâm (E. grandiflora Planch.
et Linden.) : Cây có nguồn gốc Braxin, nhập trồng làm cảnh vì hoa đẹp, lớn, thơm.
- Chi Haemanthus - Huyết hoa (1/21) : Huyết hoa, Hoa quốc khánh (H.
multiflorus (Tratt.) Martyn):
Hoa màu đỏ chói. Cây có nguồn gốc Nam Phi, nhập trồng làm cảnh. Thân hành độc.
Hình 8.173: Náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.); Trinh nữ hoàng cung (Crinum latifolium)
- Chi Hymenocallis - Bạch trinh (2/40): Bạch trinh biển (H. litttoralis (Jacq.) Salisb.):
Bao hoa có vòng dạng màng ở gốc. Cây nhập từ châu Mỹ trồng làm cảnh. Thân hành đắp trị vết thương, lá trịđòn ngã đau.
- Chi Lycoris - Tỏi trời (2/11) : Tỏi trời, Thoát bào lan (L. aurea (L’Hér.) Herb.) : Hoa màu vàng kim, dạng phễu. Cây mọc hoang ở Hà Giang. Hoa độc.
- Chi Narcissus - Thuỷ tiên (1/30) : Thuỷ tiên (N. tazetta L. var. chinensis Roem.) : Hoa trắng, thơm. Cây nhập từ Trung quốc làm cảnh. Thân hành chữa mụn nhọt lở ngứa, gây nôn ; hoa làm thuốc hoạt huyết.
- Chi Zephyranthes - Tóc tiên (4/71) : Tóc tiên hồng (Z. grandiflora Lindl.) : Hoa màu hồng ; Tóc tiên đỏ (Z. rosea (Spreng.) Lindl.) : Đều nhập từ Trung Mỹ, trồng làm cảnh, thân rễ làm thuốc.
Hình 8.174: Thoát bào lan (Lycoris aurea (L’Hér.) Herb.); Thuỷ tiên (Narcissus tazetta L. var.
chinensis Roem.); Hoa hiên (Hemerocallis fulva L.)
Họ Hoa hiên - Hemerocallidaceae R.Br., 1810
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Chỉ có 1 chi Hemerocallis - Hoa hiên (2/15): Hoa hiên (H. fulva L.): Cây cỏlâu năm. Thân rễ rất ngắn, rễ phình thành củ nhỏ. Lá hình mũi mác, mọc từ thân rễ, dài và hẹp, xếp hai dãy trên một mặt phẳng. Hoa to, màu vàng đỏ. Bao hoa hình phễu, phía trên xẻ 6 mảnh hình cánh hoa có sọc ngang. Nhị 6. Bộ nhuỵ 3 lá noãn, bầu 3 ô. Quả hình 3 cạnh, chứa nhiều hạt đen bóng. Cây mọc hoang và được trồng làm cảnh. Hoa và lá làm thuốc chữa chảy máu cam, rễ chữa đái ra máu.
- Bộ Thiên môn (Asparagales)
Họ Thiên môn - Asparagaceae Juss., 1789
Cây cỏ hay bụi sống nhiều năm, ít khi là dây leo. Lá ở gốc hay mọc theo thân, gân hình cung hay song song. Hoa đơn độc hay thành cụm bông hay tán. Hoa lưỡng tính, ít khi đơn tính, mẫu 3, ít khi mẫu 2 hay 1. Bao hoa dính nhau ít nhiều. Nhị 6, ít khi 3, 4, 8, 12, bao phấn đính gốc hay đính lưng. Bộ nhuỵ 3 lá noãn, ít khi 4 hoặc 2, tạo thành bầu trên hay dưới. Noãn 2 trong mỗi ô, ít khi 1 hay một số. Quả mọng, hoặc trung gian giữa quả mọng và quả nang, chứa 1-2 hạt.
Công thức hoa: P(3+3) A3+3G(3) hoặc G(3)
Đa dạng và sử dụng: 2/130. Phân bố vùng Trung và Tây Á. Việt Nam có 1 chi Asparagus. Có 1 loài thường dùng làm thuốc, kể cả trong CND, là Thiên môn đông.
- Chi Asparagus - Thiên môn (7/100): Thiên môn đông (A. cochinchinensis (Lour.) Merr.): Cây leo. Cành biến đổi thành lá, phẳng, hình lư ỡi liềm. Lá thật biến thành vẩy.
Cây mọc hoang và được trồng lấy rễ củ làm thuốc chữa ho;
Măng tây (A. officinalis L.) : nguồn gốc châu Âu, được nhập trồng lấy chồi non ăn (Măng tây), dùng tốt cho người thiếu ngủ, yếu gan, sỏi thận; Măng bàn tay (A. plumosus Bak.):
Cành dạng lá nhỏ, hình kim dài, tụ họp thành từng túm trên mặt phẳng như bàn tay, nguồn gốc châu Phi, nhập trồng làm
cảnh. Hình 8.175: Thiên môn đông
(Asparagus cochinchinensis (Lour.) Merr.)
Họ Hoàng tinh (Tóc tiên, Mạch môn) - Convallariaceae Horan, 1834
Cây cỏ nhiều năm có thân rễ ngắn, dầy, mọc trườn. Lá mọc từ thân rễ hay trên thân, so le hay vòng. Hoa mọc đơn độc hay thành bông, chùm hay cờ. Bao hoa 6 bộ phận, rời hay dính nhau ở dưới. Nhị 6, chỉ nhị rời hay dính. Bộ nhuỵ 3 lá noãn tạo thành bầu trên hay giữa, 3 ô, 1 vòi nhuỵ. Quả khô hay quả mọng.
Công thức hoa: P3+3 A3+3G(3) hoặc G(3)
Đa dạng và sử dụng: 25/230. Phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu. Việt Nam có 12 chi, 34 loài, chủ yếu mọc hoang. Nhiều loài được trồng làm cảnh.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Một số loài thường được dùng làm thuốc, kể cả trong CND, là Mạch môn và nhóm cây mang tên Hoàng tinh. Các loài khác dùng trong dân gian.
- Chi Ophiopogon - Mạch môn (?/50): Mạch môn đông (O. japonicus (L.f.) Ker.-Gawl.): Cây cỏ. Lá hình dải hẹp. Trồng làm cảnh và lấy củ làm thuốc chữa ho; Các loài mang tên Cao cẳng: Cao cẳng lá nhỏ (O. chingii Wang et Tang); Cao cẳng lá mác (O.
dracaenoides (Baker) Hook. F.); Cao cẳng lá vừa (O.
intermedius D. Don); Cao cẳng lá to (O. latifolius Rodr.); Cao cẳng (O. reptans Hook. F.); Cao cẳng Bắc bộ (O. tonkinensis Rodr.) đều được dùng làm thuốc
trong phạm vi dân gian. Hình 8.176: Mạch môn đông
(Ophiopogon japonicus (L.f.) Ker.- Gawl.)
- Chi Disporum - Vạn thọ trúc (4/30): Tóc tiên rừng hoa cựa (D. calcaratum D.Don);
Tóc tiên rừng (D. cantoniense (Lour.) Merr.) đều dùng làm thuốc như Hoàng tinh.
- Chi Disporopsis - Vạn thọ trúc giả (2/5): Ngọc trúc hoàng tinh (D. aspera (Hua) Engl. Ex Krause); Hoàng tinh hoa trắng (D. longifolia Craib.) đều được dùng như Hoàng tinh.
Loài sau được ghi trong SĐVN.
Hình 8.177: Hoàng tinh vòng (Polygonatum kingianum Coll. Et Hemsl.); Tóc tiên rừng (D.
cantoniense (Lour.) Merr.); Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia Craib.)
- Chi Polygonatum - Hoàng tinh (3/55): Hoàng tinh vòng (P. kingianum Coll. Et Hemsl.): Cây cỏ sống lâu năm. Thân rễ mọc ngang, có sẹo có vết thân còn sót lại. Lá không cuống, mọc vòng 3-4 lá. Hoa mọc rủ xuống, màu tím đỏ. Cây mọc hoang ở núi ẩm ở Sa Pa. Thân rễ dùng làm thuốc gọi là Hoàng tinh. Loài được ghi trong SĐVN; Ngọc trúc (P. odoratum (mill.) Druce): Lá mọc so le, hầu như không cuống. Hoa từng đôi mọc trên cùng một cuống. Bao hoa dính nhau thành ống màu trắng. Quả mọng, tròn, màu đen lam. Cây m ọc hoang. Thân rễ dùng làm thuốc như Hoàng tinh.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Họ Huyết giác - Dracaenaceae Salisb., 1866
Cây thân gỗ, có cấu tạo cấp hai. Lá tập trung ở gốc hay mọc trên thân. Cụm hoa chùm hay cờ, đôi khi là đầu. Hoa lưỡng tính. Phiến bao hoa dính nhau ít nhiều thành ống ngắn. Nhị 6, đính trên gốc phiến bao hoa, bao phấn đính lưng, hướng trong. Bộ nhuỵ 3 lá noãn tạo thành bầu 3 ô. Quả mọng hay nang chẻ ô.
Công thức hoa: P(3+3) A3+3 G(3)
Đa dạng và sử dụng: 6/?. Phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Việt Nam có 2 chi, mọc hoang hay nhập trồng làm cảnh.
Có 1 loài thường được dùng làm thuốc, kể cả trong CND, là Huyết giác. Các loài khác dùng trong dân gian.
- Chi Dracaena - Bồng bồng (12/40) : Huyết giác (D. cambodiana Pierre ex Gagnep.) : Lõi thân làm thuốc chữa phong thấp; Huyết giác Nam bộ, Giáng ông (D. cochinchinensis (Lour.) S.C.Chen): Làm thuốc như Huyết giác; Bồng bồng (D. angustifolia Roxb.): Cây gỗ thứ cấp, thân có sẹo do vết lá rụng để lại. Lá mọc thành túm ở đỉnh, không cuống; Thiết mộc lan (D.
fragrans (L.) Ker.-Gawl.): Có nguồn gốc Tây Phi, nhập trồng làm cảnh.
Hình 8.178: Huyết giác (Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep.) - Chi Sansevieria - Hổ vĩ (4/12) : Ngà voi (S. cylindrica Bojer) : Lá hình trụ, mọc trực tiếp từ thân rễ. Cây nguồn gốc Nam Phi, nhập trồng làm cảnh. Lá làm thuốc chữa sưng tấy, đau xương; Hổ vĩ (S. trifasciata Prain): Lá vằn như đuôi hổ. Cây có nguồn gốc Tây Phi, nhập trồng làm cảnh; Hổ vĩ mép vàng (S. trifasciata Prain var. laurentii N.E.Br.) : Mép lá có sọc vàng chạy dọc. Lá làm thuốc chữa ho, viêm họng.
- Bộ Khúc khắc (Smilacales)
Họ Khúc khắc (Kim cang) - Smilacaceae Vent., 1799 Tên tiếng Anh: Smilax, Sarsaparilla family
Cây bụi leo nhờ tua cuốn. Có thân rễ. Thân thường có gai. Lá đơn, mọc so le; cuống lá có rãnh, có 2 tua cuốn do lá kèm biến đổi thành, không phân nhánh, đôi khi biến thành gai;
phiến lá có 3-7 gân hình cung xuất phát từ gốc lá. Hoa nhỏ, phần lớn đơn tính khác gốc, xếp thành cụm dạng tán thưa. Hoa mẫu 3, gồm 3 đài, 3 tràng. Nhị6, đính vào gốc cánh hoa. Bầu trên, 3 ô. Noãn 1-2, treo. Quả mọng (hình 8.179).
Công thức hoa: ♂ K3C3 A3+3 G0, ♀ K3C3 A0 G(3)
Đa dạng và sử dụng: 12/350. Phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ít khi ở ôn đới. Việt Nam có 2 chi, trên 30 loài, chủ yếu mọc hoang.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Hình 8.179: Họ Khúc khắc (Smilacaceae)
1. Thân rễ, 2. Tua quấn có nguồn gốc từ lá kèm, 3. Cụm hoa, 4-5. Hoa, 6. Quả
Nhiều loài thường được dùng làm thuốc, kể cả trong CND, với tên Khúc khắc. Các loài khác dùng làm thuốc trong dân gian.
- Chi Smilax - Kim cang (30/200): Các loài mang tên Khúc khắc và Kim cang, thân rễ được dùng lẫn lộn làm thuốc: Kim cang Trung Quốc, Tỳ giải (S. china L.);
Kim cang Campuchia (S. cambodiana Gagnep.); Kim cang lá to (S. bracteata Presl.); Kim cang thân bốn cánh (S. gagnepainii T. Koyama); Kim cang quả to (S.
megacarpa A.DC.); Kim cang lá xuyên (S. perfoliata Lour.); Khúc khắc (S. glabra Roxb.): Cành nhỏ, nhẵn, không có gai. Tua quấn dài hay tiêu giảm. Lá hình elip, dài 5-13cm, hơi sáng bóng, có 3 gân chính. Cụm hoa tán đơn mang 20-30 hoa. Hoa đơn tính. Quả mọng hình cầu, gần như có 3 góc. Cây phân bố rộng ở các trảng cây bụi.
Thân rễ làm thuốc khoẻ gân cốt, đau khớp xương, tẩy độc.
Hình 8.180: Khúc khắc (Smilax glabra Roxb.)
- Chi Heterosmilax - Khúc khắc (5/15) : Thân nhẵn, lá có đốt ở gốc phiến, cuống lá có cánh hẹp: Khúc khắc (H. gaudichaudiana (Kunth) Maxim) : Thân rễ làm thuốc chữa đau lưng, tẩy độc (mụn nhọt, ngộđộc thuỷ ngân, vv.)
- Bộ Củ nâu (Dioscoreales)
Họ Bách bộ - Stemonaceae Engl., 1887
Dây leo thân quấn. Rễ phình thành những chùm củ nạc trắng dài. Lá mọc đối hay so le, thuôn dài, hình tim ở gốc. Cụm hoa ở kẽlá. Hoa thường đơn tính cùng gốc, mẫu 4. Bao hoa có 1 mảnh bằng nhau, 2 ở ngoài, 2 ở trong. Nhị 4, xếp đối diện với bao hoa, bao phấn có phần phụ kéo dài, Bộ nhị có bầu trên, một ô nhiều noãn. Quả nang, dẹt, mở theo hai mảnh. Hạt có nội nhũ.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net