2.9. NGÀNH NGỌC LAN (HẠT KÍN) - MAGNOLIOPHYTA
2.9.2. LỚP NGỌC LAN (MAGNOLIOPSIDA)
2.9.2.1. Phân lớp Ngọc lan (Magnoliidae)
Gồm các thực vật hạt kín nguyên thuỷ nhất. Những đại diện của các taxon đầu tiên là cây gỗ; hoa đơn độc, có đế hoa lồi, thành phần hoa nhiều, xếp xoắn ốc ; lá noãn nhiều và rời nhau; hạt phấn thường có một rãnh. Hạt có 2 lá mầm, nẩy mầm trên mặt đất. Hệ thống dẫn ở thân là những vòng liên tục hay tạo thành từng bó xếp vòng, có tầng phát sinh thứ cấp nằm xen giữa gỗ và li be (bó mạch hở), do đó cây có thể phát triển theo chiều ngang. Trong thân và lá thường có tế bào tiết.
- Bộ Ngọc lan (Magnoliales)
Họ Ngọc lan (Mộc lan, Dạ hợp) - Magnoliaceae Juss., 1789 Tên tiếng Anh : Magnolia family
Nhận biết tại thực địa: Cây gỗ hay bụi; lá đơn, mọc so le; lá kèm sớm rụng để lại vết sẹo dạng nhẫn xung quanh đốt thân; hoa đơn độc, lớn, thường thơm; quả tụ.
Cây gỗ hay cây bụi, thường xanh. Lá đơn, nguyên, mọc so le. Có lá kèm to bao lấy chồi, rụng sớm để lại sẹo dạng nhẫn xung quanh thân. Hoa mọc đơn độc, lưỡng tính. Bao hoa từ 6-18 phiến giống nhau, xếp xoắn trên đế hoa lồi, có khi xếp vòng theo mẫu 3 hay 6. Nhị nhiều, rời, xếp xoắn. Lá noãn nhiều, rời, xếp xoắn ốc trên đế hoa lồi. Bầu trên, đính noãn bên. Quả tụ, có nhiều đại, thường có dạng nón thông, đôi khi là quả hạch khô và có cánh (Liriodendron). Phôi nhỏ nằm trong nội nhũ lớn (hình 8.33).
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Công thức hoa : PR6-18R AR∞R GR∞
Hình 8.33: Họ Ngọc lan (Magnoliaceae)
1-2. Hoa đơn độc trên ngọn cành ; 3. Hoa nguyên vẹn ; 4. Hoa bộc lộ bộ phận sinh sản ; 5. Bộ nhị, nhuỵ xếp trên đế hoa kéo dài ; 6. Một nhị hoa cho thấy chỉ nhị ngắn, trung đới kéo dài thành mào, 7. Bộ nhuỵ với các lá noãn rời thành từng bầu riêng biệt, 8. Một bầu cắt dọc, 9.
Công thức hoa ; 10. Quả gồm nhiều đại
Đa dạng và sử dụng : 13/210. Phân bốởôn đới Bắc bán cầu. VN có 10 chi, khoảng 50 loài, chủ yếu mọc hoang, phân bố chủ yếu ởcác vùng núi đai á nhiệt đới, độ cao từ 800 m trở lên. Một số loài được trồng làm cảnh (Ngọc lan trắng, Ngọc lan vàng, Dạ hợp) ; nhiều loài có tầm quan trọng về kinh tếnhư lấy gỗ (Vàng tâm, Mỡ, Giổi), làm cây cảnh, trồng ởđền, chùa do hoa thơm (Ngọc lan, Dạ hợp, vv.), làm gia vị (Giổi). Hoa của nhiều loài có mùi thơm, dùng chế nước hoa cao cấp, ướp chè.
Có 2 loài thường làm thuốc ở là Giổi, Hậu phác Bắc trong đó Hậu phác Bắc được dùng trong CND. Các loài khác dùng trong dân gian.
- Chi Magnolia - Ngọc lan, Mộc lan (10/80):
Dạ hợp (M. coco (Lour) DC.) : Hoa thơm, trồng làm cảnh ; Sen đất (M. grandiflora L.): cây nhập, trồng làm cảnh; Hậu phác (M. officinalis Rehd. et Wils.): Cây mọc ở Trung Quốc, được nhập làm thuốc chữa các bệnh đường tiêu hoá như đau bụng, đầy bụng, ăn uống không tiêu, vv.
- Chi Manglietia - Giổi (9/25): Cây mỡ (M.
conifera Dandy) : Cho gỗ. Vàng tâm (M. fordiana Oliv): Cho gỗ tốt, đóng đồ gỗ cao cấp; Vàng tâm, Giổi Ford (M. fordiana (Helmsl.) Olive): Cho gỗ tốt. Quả, vỏ thân và vỏ rễ làm thuốc trị táo bón, ho khan.
Hình 8.34: Hậu phác Bắc
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
(Magnolia officinalis Rehd. et Wils.) - Chi Michelia - Ngọc lan (18/45):
Ngọc lan vàng, Hoàng lan (M. champaca L.): Mọc hoang và trồng ở nhiều nơi. Hoa màu vàng.
Rễ, vỏ thân, lá, hoa đều dùng làm thuốc; Giổi lông (M. balansae Dandy): Cho gỗ tốt; Tử tiêu (M. figo Spreng): Hoa trắng rất thơm dùng ướp trà, làm thuốc kích thích, chữa cảm sốt; Giổi tanh, Giổi xanh (M. mediocris Dandy): Mọc hoang và được quản lý trong các vườn rừng vùng núi. Hạt có mùi thơm, làm gia vị. Vỏ và hạt làm thuốc chữa sốt, đau bụng ; Ngọc lan trắng (Michelia alba DC.): Cây gỗ to lớn, có nguồn gốc từẤn Độ, trồng ởcông viên, đền chùa.
Hoa màu trắng, thơm, dùng chế nước hoa thượng hạng, trị viêm phế quản, ho gà, đau đầu.
Hình 8.35: Ngọc lan trắng (Michelia alba DC.)
- Chi Tsoongiodendron - Giổi lụa (1/1): Giổi thơm (T. odorum Chun) : Hoa to, thơm, dùng uớp chè. Gỗ có lõi vàng, dùng trong kiến thiết và đóng đồ mộc. Cây được ghi trong SĐVN.
- Bộ Na (Annonales)
Họ Na (Mãng cầu) - Annonaceae Juss., 1789 Tên tiếng Anh : Custard Apple Family
Nhận biết tại thực địa: Cây gỗ, bụi, dây leo gỗ; lá xếp hai dãy; không có lá kèm; bao hoa mẫu 3; nhị, nhuỵ nhiều; quả tụ hay dính nhau thành khối nạc; hạt có nội nhũ cuốn.
Cây gỗ hay cây bụi, hoặc dây leo gỗ. Lá đơn, nguyên, mọc so le, xếp thành 2 dãy.
Không có lá kèm. Hoa đơn độc hoặc thành cụm hoa. Hoa thường lưỡng tính. Bao hoa thường có 3 vòng, gồm 3 lá đài, 3 cánh hoa trên 1 vòng hoặc 6 cánh hoa xếp thành 2 vòng. Nhị nhiều, xếp xoắn ốc. Lá noãn nhiều, thường rời, xếp xoắn ốc trên đế hoa lồi. Quả tụ, gồm nhiều lá noãn rời nhau có cuống quả riêng, ít khi dính với nhau thành một khối nạc (Annona). Hạt có nội nhũ cuốn (hình 8.36).
Công thức hoa: K3 C3 hoặc 3+3 A∞ G∞
Đa dạng và sử dụng: 130/2.300. Là họđặc trưng của các vùng nhiệt đới. VN có 29 chi với khoảng 175 loài, chủ yếu mọc hoang. Một sốloài được trồng làm cảnh do hoa thơm (Móng rồng, Hoa dẻ), ăn quả (Na, Mãng cầu xiêm).
Có 2 loài thường dùng làm thuốc là Na, Dền. Các loài khác dùng trong dân gian.
- Chi Artabotrys - Móng rồng (15/100): Móng rồng, Dây công chúa (A. hexapetalus (L.f.) Bhand): Cuống hoa, cành uốn cong như móng con rồng. Hoa thơm, chiết lấy tinh dầu làm
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
hương liệu. Rễ chữa ỉa chảy, sốt rét; Móng rồng Hồng Kông (A. hongkongensis Hance); Thần xạ thơm (A. intermedius Hassk.) đều có hoa thơm và dùng làm thuốc.
Hình 8.36: Họ Na (Annonaceae)
1. Hoa nguyên vẹn cho thấy 3 đài và 6 tràng, 2. Hoa cắt dọc, 3. Nhị có chỉ nhị ngắn, trung đới kéo dài thành mào, 4. Một lá noãn rời gồm bầu, vòi nhuỵ và núm nhuỵ, 5. Công thức hoa, 6-9:
Các dạng quả khác nhau - Chi Annona - Na (4/120): Nê (A. reticulata L.) : Nguồn gốc châu Mỹ, được trồng lấy quả ăn nhưng chát, hạt chữa ỉa chảy và lị; Mãng cầu xiêm (A.
muricata L.): Nguồn gốc châu Mỹ, trồng lấy quả ăn;
Bình bát (A. glabra L.): nguồn gốc Bắc Mỹ; Na (A.
squamosa L.): Cây gỗ nhỏ. Cành mọc ngang. Thịt quả trắng, mềm, ngọt và thơm, sát vỏ có sạn do các tế bào đá tạo ra. Cây có nguồn gốc Châu Mỹ, được trồng ăn quả, hạt làm thuốc trừ chấy. Lá chữa sốt rét, rễ chữa ỉa chảy.
Hình 8.37: Na (Annona squamosa L.) - Chi Cananga - Hoàng lan (2/2): Ngọc lan tây, Hoàng lan (C. odorata Hool.f. et Thoms.): Cây gỗ, cành cong queo, hơi buông thõng xuống. Hoa vàng lục, trồng ở công viên, đền, chùa. Vỏ thân trị sốt rét.
- Chi Desmos - Hoa dẻ (5/30): Hoa dẻ (D. chinensis Lour) : Cây bụi leo. Lá hình ngọn giáo. Hoa thơm, trồng làm cảnh.
- Chi Fissistigma - Lãnh công (24/50): Quả vú dê (F. polyanthoides (DC.) Merr.) : Cây bụi leo. Quả tròn, có lông, đường kính (đk.) 2-3cm, thơm, ăn được. Thân làm thuốc bổ; Bổ béo
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
trắng (F. thorelii (Pierre ex Finet et Gagnep.): Lá có lông dầy ở mặt dưới. Quả có u, phủ lông hoe. Rễ làm thuốc bổ như Bổ béo đen.
- Chi Goniothalamus - Giác đế (19/110): Bổ béo đen (G. Vietnamensis Ban) : Cây cao đến 3m, không phân cành. Thân non phủ lông màu gỉ sắt dầy. Lá hình trứng ngược. Cây mọc hoang. Rễđược dùng phổ biến trong dân gian làm thuốc bổ.
- Chi Xylopia - Dền (3/100-150): Dền (X. vielana Pierre): Cây gỗ. Vỏ làm thuốc bổ, chữa đau nhức, tê thấp; Dền trắng (X. pierrei Hance).
- Bộ Long não (Laurales)
Họ Long não (Re, Quế) - Lauraceae Juss., 1789 Tên tiếng Anh : Laurel Family
Nhận biết tại thực địa: Cây gỗ hay bụi, thường thơm; lá mọc so le, thường có 3 gân chính ở gốc; bao hoa nhỏ; nhị vài vòng mẫu 3; bao phấn mở lỗ có nắp; quả một hạt.
Cây gỗ lớn hay cây bụi, hiếm khi là dây leo (Tơ xanh). Lá mọc so le, nguyên, gân hình lông chim; thường có 3 gân chính ở gốc (rất rõ ở các loài trong chi Cinnamomum như Quế).
Không có lá kèm. Hoa tập hợp thành cụm dạng cờ, xim hay tán giả ở đầu cành hay kẽ lá. Hoa thường lưỡng tính, mẫu 3. Bao hoa thường có 6 mảnh xếp thành hai vòng. Nhị 9-12, xếp thành 3-4 vòng, đôi khi có thêm một vòng nhị lép. Bao phấn mở bằng 2-4 lỗ có nắp. Bộ nhuỵ chỉ có 1 lá noãn; bầu trên, 1 ô. Qủa mọng hay quả hạch hình cầu thuôn, có khi có đài tồn tại bao quanh quảnhư một cái chén, chứa 1 hạt (hình 8.38).
Công thức hoa: K3+3 C0 A3+3+3+3 G1
Giải phẫu: Trong thân, lá có tế bào tiết chất thơm.
Đa dạng và sử dụng: 50/2.000-2.500. Phân bốở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. VN có khoảng 21 chi với 245 loài, chủ yếu mọc hoang; một số loài được trồng (Long não, Quế, Bơ).
Nhiều loài được dùng lấy gỗ (De, kháo), hương liệu (Quế), gia vị (Vù hương), cung cấp tinh dầu (Màng tang, Quế, Vù hương), cho quảăn (Bơ), vv.
Có 10 loài thường dùng làm thuốc với các tên là: Bời lời nhớt, Hậu phác nam, Long não, Màng tang, Ô dược, Quế, Tơ xanh, Vù hương; trong đó Long não, Ô dược, Quế được dùng trong CND. Còn nhiều loài dùng trong dân gian.
- Chi Cassytha - Tơ xanh (2/20): Dây tơ xanh (C. filiformis L.) : Sống ký sinh trên các cây khác ởđồi. Thân giống như dây tơ hồng nhưng có màu lục, trộn với vôi để chữa ghẻ, còn dùng làm thuốc trị bệnh vềđường hô hấp; Dây tơ xanh lông (C. capillaris Meisn).
- Chi Cinnamomum - Quế, De (42/250): Long não (C. camphora (L) Presl.): Cây gỗ, thân có nhiều lỗ vỏ. Lá mọc so le, có mùi thơm, 3 gân từ gốc, có 2 tuyến nhỏ ở gần gốc phiến lá, có mùi long não. Cây được trồng lấy bóng mát. Gỗ, lá cất lấy tinh dầu gọi là Long não, dùng chữa ho, trợ tim; Quế thanh (C. cassia Presl.) : Vỏ thân chứa nhiều tinh dầu, đặc biệt là andehyd cinnamic có tính chất kích thích chức phận tiêu hoá, bộ máy hô hấp, dùng làm thuốc hồi sinh; Quế xây lan (C. zeylanicum Bl.); Vù hương (C. balansae Lee.; C. parthenoxylon Meisn) có ở Cúc Phương, Tam Đảo, cho tinh dầu gọi là Xá xị. Hai loài này hiện đã bị khai thác cạn kiệt ở Việt Nam.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Hình 8.38: Họ Long não (Lauraceae)
1. Cành mang hoa; 2-3. Hoa đực nhìn từ trên xuống và nhìn ngiêng; 4.Hoa cái và nhị lép; 5.
Công thức hoa, 6-7. Nhị mở bằng 4 lỗ có nắp, có tuyến (5) hay không (6); 8-10. Quả có đài tồn tại ở gốc, 11. Hạt.
- Chi Lindera - Ô dược (22/80) : Ô dược (L. aggregata (Sims.) Kosterm.): Cây gỗ nhỏ hay bụi, cao đến 5m. Cành non có lông trắng, sau nhẵn. Lá hình bầu dục, trứng hay gần tròn, mặt dưới có lông mịn màu tro, có 3 gân gốc. Hoa đơn tính khác gốc, nhị sinh sản 9, bầu 2 ô.
Quả hình bầu dục, khi chín màu đen. Quả, lá, rễ có mùi thơm. Rễ làm thuốc chữa đau chướng bụng, ho suyễn, đái rắt.
Hình 8.39: Long não (Cinnamomum camphora (L.) Presl.); Quế (Cinnamomum cassia Presl.); Ô dược (Lindera aggregata (Sims.) Kosterm.)
- Chi Litsea - Bời lời (45/400): Bời lời nhớt (L. glutinosa C.B.Rob): Vỏ và gỗ chứa nhựa dính, lá mùi hắc, vỏ rễ dùng làm thuốc; Màng tang (Litsea cubeba Pers.): Lá và quả có thể cất dầu thơm dùng trong công nghiệp và y học.
- Chi Machilus - Kháo (20/150): Các loài cây gỗ mang tên Kháo, cho gỗ tốt.
- Chi Persea - Bơ (1/150): Cây quả bơ (P. americana Mill): Được nhập nội trồng lấy quả ăn.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
- Chi Phoebe - Re trắng, Sụ (14/70): Các loài mang tên Re, Sụ, cho gỗ tốt.
- Bộ Hồi (Illiciales)
Họ Hồi - Illiciaceae A.C. Smith, 1947
Cây gỗ nhỡ thường xanh, có mùi thơm. Lá đơn, nguyên, mọc so le. Không có lá kèm. Hoa đơn độc. Bao hoa nhiều mảnh xếp xoắn ốc. Bộ nhuỵ gồm 5-21 lá noãn rời, xếp vòng như ngôi sao. Qu ả tụ gồm nhiều đại.
Giải phẫu : Có tế bào tiết tinh dầu.
Đa dạng và sử dụng:
Chỉ có một chi Illicium với khoảng 40 loài.
Phân bốở Bắc Mỹ và châu Á, nhất là ở Trung Quốc và Đông Nam Á. VN có khoảng 15 loài mang tên Hồi, trong đó có 1 loài làm thuốc phổ biến, các loài còn lại chủ yếu độc.
Hồi (I. verum Hook.f.): Cây đặc sản trồng ở vùng núi Đông Bắc như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn. Quả có 8 đại gọi là Bát giác hồi hương, dùng làm thuốc; để cất tinh dầu dùng chế biến
rượu mùi, kẹo và làm gia vị. Hình 8.40: Hồi (Illicium verum Hook.f.)
Các loài Hồi núi (I. griffithii Hook.f. et Thw.): Quả có 11-13 đại; Hồi đá vôi (I.
difengpi B.N.Chang), vv. có chất độc, cần phân biệt.
Họ Ngũ vị (Xưn xe) - Schisandraceae Blume, 1830
Dây leo gỗ hay bụi trườn. Lá đơn, mọc so le, thường có điểm tuyến trong suốt. Hoa nhỏ, đơn tính, mọc đơn độc ở kẽ lá. Chỉ nhị ngắn, thường tụ với nhau thành khối nạc hình cầu.
Bộ nhuỵ gồm 12-300 lá noãn rời, xếp xoắn; lá noãn chưa hoàn toàn đóng kín. Qủa xếp rời trên đế hoa kéo dài (Schisandra) hoặc mọc cụm lại thành dạng cầu nạc như quả Na (Kadsura). Họ này được tách ra khỏi họ Ngọc lan (Magnoliaceae) do là cây dây leo.
Đa dạng và sử dụng: 2/50. Phân bố ở châu Á. VN có 2 chi với khoảng 8 loài, mọc hoang.
Có 2 loài thường dùng làm thuốc, kể cả trong CND là Ngũ vị Bắc, Ngũ vị Nam. Một số loài dùng trong dân gian.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
- Chi Kadsura - Cơm nắm (6/22) : Ngũ vị nam (K. longipedunculata Finet et Gagn.) : Hạt làm thuốc như Ngũ v ị ; Cơm nắm (K. coccinea (Lem.) A.C.Smith) : Quảnhư quả Na. Thân làm thuốc bổ, kích thích tiêu hoá.
- Chi Schisandra - Ngũ vị (5/25) : Ngũ vị Bắc (S. chinensis (Turcz.) Baill.): Trục hoa kéo dài làm cho quả phân tán trên một cụm dạng chùm. Quả tròn, đ ỏ thẫm khi chín, chứa 2 hạt nhẵn. Quả ăn được, làm thuốc chữa hen suyễn, ho lâu, ra mồ hôi trộm, di tinh.
- Bộ Hồ tiêu (Piperales)
Hình 8.41: Ngũ vị bắc (Schisandra chinensis (Turcz.) Baill.)
Họ Hồ tiêu - Piperaceae Agardh, 1824 Tên tiếng Anh : Pepper Family
Nhận biết tại thực địa: Cây cỏhay leo, thường có mùi đặc biệt; lá đơn, mọc so le; hoa nhỏ, trần, đơn tính hay lưỡng tính trên cụm bông nạc đối diện với lá.
Cây cỏ hay cây leo nhờ rễ bám. Lá đơn, mọc so le; gân lá thường hình cung. Cụm hoa là bông nạc (đôi khi có dạng đuôi sóc), thường đối diện với lá. Hoa trần, đơn tính hay lưỡng tính. Hoa đực có 6 nhị. Hoa cái 2-4 lá noãn, có khi tiêu giảm còn 1. Quả hạch nhỏ, hạt có nội nhũ bột (hình 8.42).
Công thức hoa: ♂ K0 C0 A1-10 G0 ; ♀ K0 C0 A0 G(2-4)
Giải phẫu: Họ này có một đặc điểm khác thường đối với cây hai lá mầm là có các bó mạch xếp rải rác trong thân. Có ống tiết, tế bào tiết tinh dầu nên các bộ phận thường có mùi đặc biệt.
Đa dạng và sử dụng: 10/2.000. Phân bố ở vùng nhiệt đới, đặc biệt ở Đông Nam Châu Á và vùng nhiệt đới Châu Mỹ. VN có 5 chi, với gần 50 loài, chủ yếu mọc hoang. Một số loài được trồng làm gia vị (Hồ tiêu, Lá lốt).
Có 4 loài thường dùng làm thuốc là Lá lốt, Hồ tiêu, Tất bạt, Trầu không. Các loài khác dùng trong dân gian, đặc biệt các loài trong chi Piper.
- Chi Peperomia - Càng cua (8/1.000): Càng cua (P. pellucida Kunth): Làm thuốc chữa đau bụng ; Càng cua bông mỏng (Peperomia leptostachya Hook et Arn).
- Chi Piper - Tiêu (40/1.000): Hồ tiêu (P. nigrum L.): Hạt dùng làm gia vị, làm thuốc kích thích tiêu hoá, chữa đau bụng thổ tả; Trầu không (P. betle L.): Cây leo bằng rễbám. Lá ăn trầu, thân làm thuốc chữa ăn uống không tiêu, lá rửa vết thương; Lá lốt (P. lolot DC.): Cây cỏ.
Lá mọc so le, hình tim, có mùi thơm, dùng làm gia vị. Rễ làm thuốc chữa đau răng, chữa bệnh tê thấp.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
Hình 8.42: Họ Hồ tiêu (Piperaceae)
1. Cành mang hoa, 2-3. Cụm hoa, 4. Hoa đực, 5-6. Hoa lưỡng tính, 7. Bầu cắt dọc, 8.
Cụm quả, 9. Quả cắt dọc
Hình 8.43: Hồ tiêu (Piper nigrum L.); Lá lốt (Piper lolot DC.)
Họ Lá giấp - Saururaceae E.Mey, 1827
Cây cỏ. Lá mọc so le. Thân và lá có dầu thơm hay hôi. Cụm hoa bông. Hoa lưỡng tính, không có bao hoa (trần): Nhị 3-6. Bộ nhuỵ 3 lá noãn, bầu 1 ô đính noãn bên. Noãn thẳng.
Đa dạng và sử dụng: 4/6. Phân bốở châu Á và Bắc Mỹ. VN có 4 chi, 4 loài, trong đó có 2 loài thường được dùng làm thuốc là Hàm ếch và Giấp cá, trong đó Giấp cá được dùng trong CND.
- Chi Houttuynia - Giấp cá (1/1): Giấp cá (H. cordata Thunb.): Lá hình tim, nhẵn vò có mùi tanh như cá. Cây mọc hoang ởnơi ẩm như ven suối và được trồng. Lá ăn sống làm gia vị, trị bệnh trĩ, mụn nhọt.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net
- Chi Saururus - Hàm ếch (1/1): Hàm ếch, Tam bạch thảo (S. sinensis Baill.): Thường có 1-3 lá màu trắng ở ngọn kèm theo cụm hoa. Mọc hoang ở ven suối các ruộng trũng. Dùng làm thuốc chữa bệnh thủy thũng, lở loét và cước khí.
Hình 8.44: Giấp cá (Houttuynia cordata Thunb.); Hàm ếch (Saururus sinensis Baill)
- Bộ Mộc hương (Aristolochiales)
Họ Mộc hương (Nam mộc hương, Sơn dịch) - Aristolochiaceae Juss., 1789 Tên tiếng Anh : Birthwort Family
Nhận biết tại thực địa: Cây cỏ hay dây leo; lá mọc so le, thường hình tim; Đài thường dính thành ống, có màu.
Cây cỏ nhiều năm hay dây leo. Lá đơn, mọc so le, gốc phiến lá thường hình tim hay hình thận. Hoa đều hay đối xứng hai bên, lưỡng tính. Đài 3-4, dính nhau thành ống, thường có màu đẹp. Tràng rất nhỏ hay không có. Nhị 6-36. Bộ nhuỵ 4 lá noãn tạo thành bầu dưới. Quả nang, hay quả khô không tự mở, nhiều hạt nhỏ.
Công thức hoa: K3-4C0(3) A6-36 G(4-6)
Đa dạng và sử dụng: 9/600. Phân bốở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. VN có 3 chi với khoảng 20 loài, mọc hoang.
Có 5 loài thường được dùng làm thuốc với các tên là Biến hoá, Hoa tiên, Tế tân, Nam mộc hương và Phòng kỷ, trong đó Tế tân được dùng trong CND.
- Chi Aristolochia - Nam mộc hương (13/300): Phòng kỷ, Mã đâu linh (A. heterophylla Hemsl.): Rễ dùng làm thuốc trị thuỷ thũng, phong tê thấp, đau dạ dầy. Nam mộc hương (A.
balansae Franch.): Thân dùng chữa lị, bí tiểu tiện; Dây khố rách (A. tagala Cham.): Làm thuốc chữa bệnh đường tiết niệu; và nhiều loài khác trong chi cũng được gọi là “Phòng kỷ”.
HUP-BOTANY
www.thucvat.net