CÔNG CỤ PHÁI SINH

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (Trang 40 - 44)

B- Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock)

III- CÔNG CỤ PHÁI SINH

1- Hợp đồng tương lai (Future contracts – Futures)

Hợp đồng tương lai là một cam kết bằng văn bản về việc chuyển giao một tài sản cụ thể hay chứng khoán vào một ngày nào đó trong tương lai với mức giá đã thỏa thuận ở thời điểm hiện tại.

Có các loại : hợp đồng dựa trên các chứng khoán sinh lãi (như trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc và các khoản tiền gửi có kỳ hạn), hợp đồng dựa trên các chỉ số thị trường (như Standard & Poor’s 500 và chỉ số Nikkei của Nhật).

Việc mua bán các hợp đồng này diễn ra tại nhiều thị trường hàng hóa khác nhau bên cạnh các nông sản truyền thống. Mặc dù các Hợp đồng tương lai của nông dân đã tồn tại từ giữa thế kỷ XIX cón các Hợp đồng tương lai của tài sản tài chính chỉ mới xuất hiện 30 năm trước đây nhưng khối lượng giao dịch các loại hợp đồng này vượt xa so với loại hợp đồng dựa trên hàng nông sản.

Các hợp đồng tương lai tài sản tài chính hiển nhiên trở nên phổ biến chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn. chúng cũng có một số đặc tính thông thường như các loại Hợp đồng tương lai khác.

Đối với hợp đồng tài chính tương lai thì các tài sản tài chính gốc có thể là một chứng khoán cụ thể hay giá trị qui ra tiền của một nhóm chứng khoán.

Đối với hợp đồng dựa trên chỉ số giá chứng khoán thì yêu cầu phải giao một khoản giá trị bằng tiền mặt của một chỉ số cụ thể. Ví dụ khá phổ biến là hợp đồng S&P500 sẽ bắt buộc giao một khoản tiền gấp 500 lần giá trị chỉ số S&P.

Các điều khoản cụ thể trong mỗi hợp đồng được Sở giao dịch nơi đứng ra bảo lãnh cho giao dịch ký kết trong hợp đồng lập ra.

Đặc điểm :

- Luôn có 2 vị thế : Vị thế mua (Long position) và vị thế bán (Short position).

- Ngày thực hiện hợp đồng là một ngày chỉ định trước trong tương lai.

- Tại ngày này cả 2 bên đều phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng.

- Để đảm bảo nghĩa vụ này cả 2 bên đều phải ký quỹ một khoản tiền cược tại một ngân hàng trung gian.

Người ở vị thế bán phải giao hàng hóa tại thời kỳ xác định trước, trong khi đó người ở vị thế mua phải trả bằng tiền mặt khi hàng hóa được chuyển giao. Sẽ gặp rắc rối nếu người mua không đủ tiền hoặc người bán không có hàng hóa để giao. Do đó mà hầu hết những người giao dịch trên thị trường tương lai chọn cách thanh toán khoản chênh lệch thay vì tiến hành giao nhận.

Đặc biệt là người ở vị thế mua có thể kết thúc quyền và nghĩa vụ của họ vào bất cứ lúc nào trước ngày đáo hạn bằng một hợp đồng bán đối ứng tương tự với hợp đồng mua. Những người ở vị thế bán có thể hủy bỏ quyền và nghĩa vụ của họ bằng một hợp đồng mua đối ứng.

Cách thanh lý hợp đồng bằng cách thanh toán khoản chênh lệch theo giá thị trường như thế này cho phép các nhà bảo hiểm, đầu cơ lẫn các nhà kinh doanh khai thác hiệu quả thị trường hợp đồng tương lai mà không cần phải tiến hành các chi tiết kỹ thuật giao hay nhận tài sản.

Hoạt động quan trọng nhất trên thị trường tương lai đó là cơ hội bảo hiểm hữu hiệu các hoạt động thương mại. Những nhà bảo hiểm mua hay bán các hợp đồng tương lai để giảm thiểu rủi ro do biến động giá mang lại cho tài sản. Ví dụ một nhà kinh doanh trái phiếu Chính phủ vừa mới mua một lượng trái phiếu mới được phát hành phải giữ số trái phiếu này cho đến khi những nhà đầu tư cuối cùng (quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, các cá nhân) đặt lệnh mua chúng.

Trong lúc đó, nhà kinh doanh sẽ phải chịu rủi ro do lãi suất tăng dẫn đến giá trái phiếu giảm. Nhà kinh doanh có thể phòng ngừa tình trạng này bằng cách tạo cho mình một vị thế bán qua hợp đồng tương lai. Vì giá hợp đồng tương lai biến động một cách chặt chẽ theo giá trái phiếu gốc nên một sự suy giảm giá trị trong tài sản mà nhà kinh doanh đang nắm giữ do giá trái phiếu giảm sẽ được đền bù qua vị thế bán của nhà kinh doanh này trên hợp đồng tương lai. Ví dụ, nếu giá trái phiếu nhà đầu tư đang nắm giữ giảm từ S 99 xuống còn S 98, nhà đầu tư sẽ mất S 1 trên S 100 mệnh giá trái phiếu. Nếu anh ta bán hợp đồng tương lai thì sự suy giảm S 1 trong hợp đồng tương lai sẽ tạo ra S 1 lợi nhuận đền bù. Bài học rút ra ở đây là việc bảo hiểm hiệu quả cần đi kèm với hành động bán hợp đồng tương lai và mua đối ứng sau đó.

2- Hợp đồng quyền chọn

Cũng như hợp đồng tương lai, quyền chọn là các công cụ tài chính phái sinh, có giá trị dựa trên giá trị của tài sản tài chính gốc. Trong quyền chọn cổ phiếu truyền thống, tài sản gốc chỉ số lượng cổ phiếu của một loại chứng khoán nào đó. Ví dụ như của hãng GM hay IBM. Trong các trường hợp khác, tài sản gốc là một rổ giá trị cổ phần biểu thị thông qua chỉ số chứng khoán như S&P500 hay S&P100. Khi đó gọi là quyền chọn theo chỉ số chứng khoán, và nghĩa vụ hợp đồng được tính theo giá trị tính bằng dollar của chỉ số, có thể là 500 lần hay 100 lần so với chỉ số.

Không giống như hợp đồng tương lai, quyền và nghĩa vụ của người mua và bán quyền chọn không cân xứng nhau. Người mua quyền chọn có quyền còn người bán quyền chọn có nghĩa vụ. Giá phải trả cho quyền chọn thường được gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn.

Quyền lựa chọn là một công cụ cho phép người nắm giữ nó được mua (nếu là quyền chọn mua) một khối lượng nhất định hàng hóa với một mức giá xác định, và trong một thời hạn nhất định.

Các hàng hóa cơ sở này có thể là cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, chỉ số trái phiếu, thương phẩm, đồng tiền hay hợp đồng tương lai.

Đặc điểm :

- Vị thế mua là người mua quyền có quyền thực hiện hay không thực hiện quyền, còn vị thế bán phải có nghĩa vụ thực hiện quyền khi bên mua yêu cầu.

- Ngày thực hiện quyền do người mua quyền quyết định ở trong kỳ hạn.

- Người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản tiền cược được xem như giá của quyền chọn.

Các dạng hợp đồng quyền chọn : - Quyền chọn mua (Call options).

- Quyền chọn bán (Put options).

- Quyền chọn 2 chiều (Call and put options).

Một trong những lợi ích của việc mua quyền chọn là sự lời lỗ không cân xứng. Mua quyền chọn mua tạo lợi nhuận tiềm năng không giới hạn nếu giá chứng khoán tăng trong khi khoảng lỗ do rủi ro giá cổ phiếu rớt xuống chỉ giới hạn trong khoản phí quyền chọn đã trả trước. Tương tự, mua quyền chọn bán sẽ mang lại khoản lợi nhuận không giới hạn nếu giá cổ phiếu rớt xuống trong khi khoản tổn thất tối đa khi giá cổ phiếu tăng chỉ bằng phần phí quyền chọn ban đầu. Kết quả không cân xứng này mang đặc tính của bảo hiểm, là lý do mà ta phải trả tiền khi mua quyền chọn được gọi là phí quyền chọn (Option premium).

Thu nhập vào ngày đáo hạn đối với người mua quyền chọn mua là 0 nếu giá cổ phiếu thấp hơn giá thực hiện, hay bằng giá cổ phiếu trừ giá thực hiện nếu giá cổ phiếu cao hơn giá thực hiện (Strike Price), và đây gọi là giá trị thực chất của quyền chọn (Intrinsic Value). Ví dụ quyền chọn mua cổ phiếu IBM ở mức giá thực hiện S 150, nếu vào ngày đáo hạn giá cổ phiếu IBM niêm yết tại sở

giao dịch chứng khoán New York là S 155 thì quyền chọn này có giá trị chính xác là S 5, do phần chênh lệch giữa giá cổ phiếu và giá thực hiện. Ngược lại, nếu giá cổ phiếu trên thị trường vào ngày đáo hạn là S145, thì quyền chọn mua cổ phiếu IBM tại mức giá S 150 là không có giá trị.

Tương tự, vào ngày đáo hạn giá tri thu được khi mua quyền chọn bán là 0 nếu giá cổ phiếu cao hơn giá thực hiện và bằng giá thực hiện trừ cho giá cổ phiếu nếu giá cổ phiếu thấp hơn giá thực hiện (trái ngược với quyền chọn mua).

Ví dụ như người nắm giữ một quyền chọn bán tại mức giá S 150 cổ phiếu IBM sẽ không muốn thực hiện quyền bán IBM tại giá S 150 nếu IBM đang được giao dịch tại mức giá S 155 trên thị trường, nhưng nếu IBM chỉ ở mức giá S 140 thì quyền chọn bán IBM tại S 150 sẽ mang lại mức lời chính xác là S 10 vào ngày đáo hạn.

Các công cụ phái sinh như hợp đồng tương lai và quyền chọn là các công cụ bảo hiểm giá chứng khoán rất hữu hiệu.

Ví dụ : Một quỹ hưu trí muốn đầu tư vào một loại cổ phiếu với giá cả hiện nay được xem là thích hợp, nhưng còn phải chờ một thời gian các hội viên đóng đủ tiền thì mới có đủ tiền mua. Trong khoảng thời gian đó rất có thể giá cổ phiếu sẽ lên giá và mất đi cơ hội kinh doanh. Người quản lý quỹ sẽ mua quyền chọn mua, hoặc đứng ở vị thế mua trên hợp đồng tương lai, để đảm bảo rằng đến ngày hội viên đóng đủ tiền họ có thể mua số cổ phiếu với giá như hiện nay.

Khía cạnh giống hợp đồng bảo hiểm ở đây là nhà đầu tư sẽ trả một khoản phí nếu tai nạn không xảy ra họ sẽ mất khoản phí đó, còn nếu có sự cố xảy ra họ sẽ được đền bù một số tiền lớn gấp nhiều lần. Hợp đồng quyền chọn cũng vậy, phí quyền chọn chỉ chiếm 2% giá trị hợp đồng nhưng nếu tại ngày xác định trước giá cổ phiếu tăng lên rất cao, nhưng họ thực hiện quyền mua cổ phiếu với giá đặt trước, phần chênh lệch này có thể là rất lớn, chính là khoản tiền lời. Nếu ngược lại, không thực hiện hợp đồng họ chỉ mất tiền phí.

3- Chứng quyền (Warrants)

Là loại chứng khoán được phát hành kèm theo trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người nắm giữ chứng khoán đó được quyền mua một khối lượng cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác định trước trong thời kỳ nhất định.

Đặc điểm :

- Được phát hành ra công chúng như một công cụ để tăng tính hấp dẫn của các loại chứng khoán khác như trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi.

- Là một công cụ dài hạn (5 – 10 năm).

- Mức giá xác định thường cao hơn giá thị trường hiện hành.

4- Quyền mua cổ phần (Rights)

Là loại chứng khoán ghi nhận quyền dành cho các cổ đông hiện tại của một công ty cổ phần được mua trước một số lượng cổ phần trong đợt phát hành

cổ phiếu phổ thông mới tương ứng với tỷ lệ cổ phần hiện có của họ trong công ty.

Đặc điểm :

- Được phát hành kèm theo một đợt phát hành cổ phiếu thường, dành cho cổ đông hiện hữu.

- Là một công cụ ngắn hạn (30 – 45 ngày).

- Mức giá xác định là giá ưu đãi thấp hơn giá thị trường hiện hành.

Rights và Warrants là các chứng chỉ chứng nhận quyền mua cổ phần của các công ty. Các công ty cổ phần này đang làm ăn có hiệu quả và có nhu cầu tăng vốn. Công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thường, trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi để huy động vốn. Nhưng để đợt phát hành được mau chóng và hấp dẫn hơn thường đi kèm là các chứng chỉ xác nhận quyền tiên mại. Một mục tiêu quan trọng hơn đó là để hạn chế sự pha loãng quyền kiểm soát công ty, một khi công ty có thêm cổ đông mới.

CHƯƠNG V

Một phần của tài liệu BÀI GIẢNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (Trang 40 - 44)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(127 trang)
w