Kiểm  định  sự  khác  biệt  về  giá  trị trung  bình  mẫu  nghiên  cứu  của  các yếu  tố  tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị theo các đặc điểm cá nhân của khách hàng

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 142 - 146)

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH

3.1 Khái quát về kinh doanh siêu thị tại TP. HCM

3.2.4 Kiểm  định  sự  khác  biệt  về  giá  trị trung  bình  mẫu  nghiên  cứu  của  các yếu  tố  tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị theo các đặc điểm cá nhân của khách hàng

a. Theo giới tính của khách hàng 

Kết  quả  kiểm  định  về  giá  trị  trung  bình  của  hai  tổng  thể  ­  mẫu  độc  lập  (Independent­sample T­test) là hai nhóm khách hàng nam và nữ [phụ lục 8.3] cho thấy,  không có sự khác biệt giá trị các thang đo tập hàng hóa (HH), không gian siêu thị (KG)  và  giá cả (GC), nhưng có sự khác biệt ở giá trị các thang đo tin  cậy (TC) và nhân viên  phục vụ (NV) với khác biệt trung bình d = 0,131 và d = 0,295. 

Tiếp  tục  kiểm  định  giá  trị  trung  bình  các  thang  đo  tin  cậy  (TC1,  TC2,  TC5)  và  nhân viên phục vụ (NV1, NV2, NV3, NV4, NV5, NV6) của hai tổng thể ­ mẫu độc lập  (Independent samples T­test) là nhóm khách hàng nam và nhóm khách hàng nữ cho thấy:

­ Sự khác biệt về tin cậy thể hiện ở giá trị thang đo TC1 (siêu thị thực hiện đúng  những gì đã quảng cáo) và TC2 (siêu thị luôn giữ đúng lời hứa với khách hàng) với khác  biệt biệt trung bình d = 0,143 và d = 0,147 [phụ lục 8.3.1]. Nghĩa là, khách hàng nam tin  tưởng vào các quảng cáo và các cam kết với khách hàng của các siêu thị cao hơn so với  khách hàng nữ. 

­ Sự khác biệt về nhân viên phục vụ được chia đều cho giá trị các thang đo: NV1,  NV2, NV3, NV4, NV5, NV6 với khác biệt biệt trung bình tương ứng: d = 0,240; 0,330; 

0,257; 0,319; 0,329; 0,296 [phụ lục 8.3.2]. Nghĩa là, khách hàng nam đánh giá năng lực  phục vụ của nhân viên các siêu thị cao hơn so với khách hàng nữ. 

Tuy  nhiên, như đã  trình  bày ở  chương  3  (mục  3.3.1),  cơ  cấu mẫu  theo  giới  tính  được thiết kế dựa theo dữ liệu thị trường; hơn nữa khác biệt trung bình giá trị các thang  đo độ tin cậy và nhân viên phục vụ như đã phân tích ở trên là không lớn (lớn nhất là khác  biệt ở giá trị NV2, với khác biệt trung bình d = 0,330). Vì thế, có thể kết luận rằng, mặc  dù sự khác nhau về giới tính của khách hàng phần nào  ảnh hưởng đến kết quả đánh giá  các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị trên địa bàn TP. HCM ở thời điểm thực  hiện nghiên cứu này, song giá trị  trung bình mẫu nghiên cứu của các  yếu tố này có thể  xấp xỉ với giá trị trung bình của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. 

HCM. 

b.  Theo độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của khách hàng 

Kết  quả  kiểm  định  về  giá  trị  trung  bình  của  hai  tổng  thể  ­  mẫu  độc  lập  (Independent­sample T­test) hai nhóm khách hàng theo độ tuổi là nhóm khách hàng tuổi  20 ­ 35 và tuổi 36 ­ 55 [phụ lục 8.4.1]; theo trình độ học vấn là nhóm khách hàng có trình  độ  dưới  cao  đẳng  và  nhóm  đã  học  qua  cao  đẳng,  đại  học  [phụ  lục  8.4.2];  theo  nghề  nghiệp  của  khách  hàng  là  nhóm  cán  bộ  ­ doanh  nhân  ­  công  nhân  và  nhóm  học  sinh  ­  sinh  viên  ­ nghề nghiệp khác  [phụ  lục 8.4.3] cho thấy  không  có  sự  khác  biệt  trong  kết  quả đánh giá của khách hàng về các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. 

HCM theo cả ba đặc điểm này. Nghĩa là, sự khác nhau về tuổi, trình độ học vấn và nghề  nghiệp của khách hàng không ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh  tranh cho các siêu thị tại TP. HCM ở thời điểm thực hiện nghiên cứu này. Vì thế, giá trị  trung bình mẫu nghiên  cứu  của các  yếu  tố này  cũng chính  là  giá  trị  trung bình  của các  yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM.

c.  Theo thu nhập của khách hàng 

Kết  quả  kiểm  định  về  giá  trị  trung  bình  của  hai  tổng  thể  ­  mẫu  độc  lập  (Independent­sample  T­test)  hai  nhóm  khách  hàng  theo  đặc  điểm  thu  nhập  là  nhóm  có  thu nhập thấp (dưới 5 triệu đồng) và nhóm có thu nhập cao (từ 5 triệu đồng trở lên ­ phụ  lục 8.5.1) cho thấy, chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở giá trị thang đo nhân viên  phục vụ. Đó là nhóm khách hàng có thu nhập thấp đánh giá năng lực phục vụ của nhân  viên các siêu thị cao hơn so với nhóm khách hàng có thu nhập cao. 

Tiếp tục kiểm định giá trị trung bình các thang đo nhân viên phục vụ (NV1, NV2,  NV3, NV4, NV5, NV6) của hai  tổng thể  ­ mẫu độc lập (Independent samples T­test) là  nhóm  khách hàng có  thu nhập  thấp  và nhóm khách hàng  có thu nhập  cao  cho  thấy,  sự  khác biệt về nhân viên phục vụ tập trung ở giá trị các thang đo NV1 (nhân viên phục vụ  khách hàng  kịp  thời),  NV3  (nhân  viên nhanh chóng đáp  ứng  yêu  cầu  của  khách hàng),  NV4 (hành vi của nhân viên tạo ra sự tin tưởng cho khách hàng), NV5 (nhân viên lịch sự  thân thiện với khách hàng) với khác biệt trung bình tương ứng d = 0,265; 0,153; 0,150; 

0,189 [phụ lục 8.5.2]. 

Vấn đề này theo tác giả, mặc dù, cơ cấu mẫu không được thiết kế theo tiêu chí thu  nhập như các đặc điểm khác (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp) mà được chọn theo phương  pháp lấy mẫu thuận tiện, song với cơ cấu mẫu sử dụng trong nghiên cứu này (bảng 3.14)  và đối chứng với thu nhập bình quân và cơ cấu thu nhập của các đối tượng khách hàng  siêu  thị  tại TP.  HCM  như đã  xác định  trong  chương 2  (mục 2.1.1),  tác  giả  cho  rằng  cơ  cấu mẫu theo thu nhập của nghiên cứu này là phù hợp với dữ liệu thị trường. 

Bảng 3.14: Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân tổ theo thu nhập của khách hàng  Dưới 3 

Triệu VNĐ 

3 – 5  Triệu VNĐ 

5 – 8  Triệu VNĐ 

Trên 8 

Triệu VNĐ  Tổng 

Tần số  89  206  143  62  500 

Tần suất  17,80%  42,20%  28,60%  12,40%  100% 

(Nguồn:Trích từ phụ lục 4.3) 

Hơn nữa, khác biệt trung bình giá trị các thang đo nhân viên phục vụ như đã phân  tích ở trên là không lớn (lớn nhất là khác biệt ở giá trị thang đo NV1 với khác biệt trung  bình d = 0,265). Vì thế có thể kết luận, sự khác nhau về thu nhập của khách hàng phần  nào có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu

thị trên địa bàn TP. HCM  ở thời điểm thực hiện nghiên cứu này, song giá trị trung bình  mẫu  nghiên  cứu  của  các  yếu  tố  này  có  thể  xấp  xỉ  với  giá  trị  trung  bình  của  tổng  thể  nghiên cứu của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM. 

Tóm lại, kết quả kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của  các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh của siêu thị tại TP. HCM theo các đặc điểm cá nhân của  khách  hàng  cho  thấy,  sự  khác  nhau  về  độ  tuổi,  trình  độ  học  vấn  và  nghề  nghiệp  của  khách hàng hoặc không ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh  cho  các  siêu  thị  tại TP.  HCM ở thời  điểm  thực hiện nghiên  cứu này;  trong  khi  đó,  giới  tính  và  thu  nhập  phần  nào  có  ảnh  hưởng,  nhưng  cơ  cấu  mẫu  nghiên  cứu  theo  hai  đặc  điểm này phù hợp với dữ liệu thị trường. Vì thế, có thể xấp xỉ giá trị trung bình các yếu  tố  tạo  lợi  thế  cạnh  tranh  cho  các  siêu  thị  tại TP.  HCM (trung bình của  tổng  thể nghiên  cứu) với giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố này. Tuy nhiên, do có sự khác  nhau về kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh theo các loại hình siêu thị (theo  kết quả phân tích trong mục 3.2.2 và 3.2.3), nên việc xấp xỉ này chỉ có ý nghĩa theo từng  loại hình siêu thị mà không có ý nghĩa ở bình diện tổng thể (tính chung cho các loại hình  siêu thị). Trên cơ sở đó, căn cứ vào giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố tạo lợi  thế  cạnh  tranh  cho các  siêu  thị  tại  TP.  HCM như đã  được  xác định  trong  các nội  dung  trên đây (mục 3.2.1, 3.2.2 và 3.2.3), chúng ta có thể kết luận: 

Bảng 3.15: Tổng hợp giá trị trung bình (thực trạng) của các yếu tố  tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM  Các yếu tố tạo 

lợi thế cạnh tranh 

Loại hình kinh doanh  Loại hình sở hữu  Tổng 

hợp 

Chuyên  doanh 

Nhà  nước 

Tư  nhân 

Nước  ngoài 

HH  3,510  3,539  3,417  3,518  3,586 

KG  3,589  3,826  3,438  3,614  3,767 

GC  3,650  3,646  3,690  3,507  3,747 

TC  3,339  3,500  3,375  3,361  3,346 

NV  3,337  3,818  3,402  3,461  3,339 

Thứ nhất, khách hàng đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị  tại TP. HCM chỉ ở mức trên mức trung bình (bảng 3.15). Tác giả cho rằng đây là nguyên  nhân chính yếu dẫn đến các siêu thị tại TP. HCM chưa tạo ra được ưu thế tuyệt đối trước

các  kênh phân  phối  truyền  thống  và  các  kênh  phân phối hiện  đại  khác  siêu  thị  như  đã  trình bày trong mục 3.1.2.3. 

Thứ hai, sự khác biệt giữa các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. 

HCM theo các loại hình kinh doanh cũng như các loại hình sở hữu của siêu thị là không  lớn và biểu hiện tập trung trên các phương diện: 

­ Khách hàng đánh giá hệ thống trang thiết bị, độ tin cậy và năng lực phục vụ của  nhân viên trong các siêu thị chuyên doanh cao hơn các siêu thị kinh doanh tổng hợp. 

­ Cơ sở vật chất hiện đại, hệ thống trang thiết bị hấp dẫn, lối đi giữa các kệ hàng  đủ thông thoáng, bãi giữ xe rộng rãi và tiện lợi của các siêu thị nước ngoài được đánh giá  cao hơn so với siêu thị tư nhân và cao hơn nhiều, thậm chí vượt trội (ở phương diện bãi  giữ xe) so với siêu thị nhà nước. 

­  Giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên các phương diện giá cả ổn định và hợp lý của  siêu thị nhà nước và nước ngoài được đánh giá cao hơn khá nhiều so với siêu thị tư nhân. 

Ngoài ra, ở mức ý nghĩa P < 0,10, tập hàng hóa ở phương diện có nhiều mặt hàng mới  cũng được coi là lợi thế của siêu thị nước ngoài so với siêu thị nhà nước. 

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 142 - 146)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(202 trang)