CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH
3.1 Khái quát về kinh doanh siêu thị tại TP. HCM
3.2.4 Kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị theo các đặc điểm cá nhân của khách hàng
a. Theo giới tính của khách hàng
Kết quả kiểm định về giá trị trung bình của hai tổng thể mẫu độc lập (Independentsample Ttest) là hai nhóm khách hàng nam và nữ [phụ lục 8.3] cho thấy, không có sự khác biệt giá trị các thang đo tập hàng hóa (HH), không gian siêu thị (KG) và giá cả (GC), nhưng có sự khác biệt ở giá trị các thang đo tin cậy (TC) và nhân viên phục vụ (NV) với khác biệt trung bình d = 0,131 và d = 0,295.
Tiếp tục kiểm định giá trị trung bình các thang đo tin cậy (TC1, TC2, TC5) và nhân viên phục vụ (NV1, NV2, NV3, NV4, NV5, NV6) của hai tổng thể mẫu độc lập (Independent samples Ttest) là nhóm khách hàng nam và nhóm khách hàng nữ cho thấy:
Sự khác biệt về tin cậy thể hiện ở giá trị thang đo TC1 (siêu thị thực hiện đúng những gì đã quảng cáo) và TC2 (siêu thị luôn giữ đúng lời hứa với khách hàng) với khác biệt biệt trung bình d = 0,143 và d = 0,147 [phụ lục 8.3.1]. Nghĩa là, khách hàng nam tin tưởng vào các quảng cáo và các cam kết với khách hàng của các siêu thị cao hơn so với khách hàng nữ.
Sự khác biệt về nhân viên phục vụ được chia đều cho giá trị các thang đo: NV1, NV2, NV3, NV4, NV5, NV6 với khác biệt biệt trung bình tương ứng: d = 0,240; 0,330;
0,257; 0,319; 0,329; 0,296 [phụ lục 8.3.2]. Nghĩa là, khách hàng nam đánh giá năng lực phục vụ của nhân viên các siêu thị cao hơn so với khách hàng nữ.
Tuy nhiên, như đã trình bày ở chương 3 (mục 3.3.1), cơ cấu mẫu theo giới tính được thiết kế dựa theo dữ liệu thị trường; hơn nữa khác biệt trung bình giá trị các thang đo độ tin cậy và nhân viên phục vụ như đã phân tích ở trên là không lớn (lớn nhất là khác biệt ở giá trị NV2, với khác biệt trung bình d = 0,330). Vì thế, có thể kết luận rằng, mặc dù sự khác nhau về giới tính của khách hàng phần nào ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị trên địa bàn TP. HCM ở thời điểm thực hiện nghiên cứu này, song giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố này có thể xấp xỉ với giá trị trung bình của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP.
HCM.
b. Theo độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của khách hàng
Kết quả kiểm định về giá trị trung bình của hai tổng thể mẫu độc lập (Independentsample Ttest) hai nhóm khách hàng theo độ tuổi là nhóm khách hàng tuổi 20 35 và tuổi 36 55 [phụ lục 8.4.1]; theo trình độ học vấn là nhóm khách hàng có trình độ dưới cao đẳng và nhóm đã học qua cao đẳng, đại học [phụ lục 8.4.2]; theo nghề nghiệp của khách hàng là nhóm cán bộ doanh nhân công nhân và nhóm học sinh sinh viên nghề nghiệp khác [phụ lục 8.4.3] cho thấy không có sự khác biệt trong kết quả đánh giá của khách hàng về các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP.
HCM theo cả ba đặc điểm này. Nghĩa là, sự khác nhau về tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của khách hàng không ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM ở thời điểm thực hiện nghiên cứu này. Vì thế, giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố này cũng chính là giá trị trung bình của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM.
c. Theo thu nhập của khách hàng
Kết quả kiểm định về giá trị trung bình của hai tổng thể mẫu độc lập (Independentsample Ttest) hai nhóm khách hàng theo đặc điểm thu nhập là nhóm có thu nhập thấp (dưới 5 triệu đồng) và nhóm có thu nhập cao (từ 5 triệu đồng trở lên phụ lục 8.5.1) cho thấy, chỉ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở giá trị thang đo nhân viên phục vụ. Đó là nhóm khách hàng có thu nhập thấp đánh giá năng lực phục vụ của nhân viên các siêu thị cao hơn so với nhóm khách hàng có thu nhập cao.
Tiếp tục kiểm định giá trị trung bình các thang đo nhân viên phục vụ (NV1, NV2, NV3, NV4, NV5, NV6) của hai tổng thể mẫu độc lập (Independent samples Ttest) là nhóm khách hàng có thu nhập thấp và nhóm khách hàng có thu nhập cao cho thấy, sự khác biệt về nhân viên phục vụ tập trung ở giá trị các thang đo NV1 (nhân viên phục vụ khách hàng kịp thời), NV3 (nhân viên nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của khách hàng), NV4 (hành vi của nhân viên tạo ra sự tin tưởng cho khách hàng), NV5 (nhân viên lịch sự thân thiện với khách hàng) với khác biệt trung bình tương ứng d = 0,265; 0,153; 0,150;
0,189 [phụ lục 8.5.2].
Vấn đề này theo tác giả, mặc dù, cơ cấu mẫu không được thiết kế theo tiêu chí thu nhập như các đặc điểm khác (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp) mà được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện, song với cơ cấu mẫu sử dụng trong nghiên cứu này (bảng 3.14) và đối chứng với thu nhập bình quân và cơ cấu thu nhập của các đối tượng khách hàng siêu thị tại TP. HCM như đã xác định trong chương 2 (mục 2.1.1), tác giả cho rằng cơ cấu mẫu theo thu nhập của nghiên cứu này là phù hợp với dữ liệu thị trường.
Bảng 3.14: Cơ cấu mẫu nghiên cứu phân tổ theo thu nhập của khách hàng Dưới 3
Triệu VNĐ
3 – 5 Triệu VNĐ
5 – 8 Triệu VNĐ
Trên 8
Triệu VNĐ Tổng
Tần số 89 206 143 62 500
Tần suất 17,80% 42,20% 28,60% 12,40% 100%
(Nguồn:Trích từ phụ lục 4.3)
Hơn nữa, khác biệt trung bình giá trị các thang đo nhân viên phục vụ như đã phân tích ở trên là không lớn (lớn nhất là khác biệt ở giá trị thang đo NV1 với khác biệt trung bình d = 0,265). Vì thế có thể kết luận, sự khác nhau về thu nhập của khách hàng phần nào có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu
thị trên địa bàn TP. HCM ở thời điểm thực hiện nghiên cứu này, song giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố này có thể xấp xỉ với giá trị trung bình của tổng thể nghiên cứu của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM.
Tóm lại, kết quả kiểm định sự khác biệt về giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh của siêu thị tại TP. HCM theo các đặc điểm cá nhân của khách hàng cho thấy, sự khác nhau về độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của khách hàng hoặc không ảnh hưởng đến kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM ở thời điểm thực hiện nghiên cứu này; trong khi đó, giới tính và thu nhập phần nào có ảnh hưởng, nhưng cơ cấu mẫu nghiên cứu theo hai đặc điểm này phù hợp với dữ liệu thị trường. Vì thế, có thể xấp xỉ giá trị trung bình các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM (trung bình của tổng thể nghiên cứu) với giá trị trung bình mẫu nghiên cứu của các yếu tố này. Tuy nhiên, do có sự khác nhau về kết quả đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh theo các loại hình siêu thị (theo kết quả phân tích trong mục 3.2.2 và 3.2.3), nên việc xấp xỉ này chỉ có ý nghĩa theo từng loại hình siêu thị mà không có ý nghĩa ở bình diện tổng thể (tính chung cho các loại hình siêu thị). Trên cơ sở đó, căn cứ vào giá trị trung bình mẫu nghiên cứu các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM như đã được xác định trong các nội dung trên đây (mục 3.2.1, 3.2.2 và 3.2.3), chúng ta có thể kết luận:
Bảng 3.15: Tổng hợp giá trị trung bình (thực trạng) của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM Các yếu tố tạo
lợi thế cạnh tranh
Loại hình kinh doanh Loại hình sở hữu Tổng
hợp
Chuyên doanh
Nhà nước
Tư nhân
Nước ngoài
HH 3,510 3,539 3,417 3,518 3,586
KG 3,589 3,826 3,438 3,614 3,767
GC 3,650 3,646 3,690 3,507 3,747
TC 3,339 3,500 3,375 3,361 3,346
NV 3,337 3,818 3,402 3,461 3,339
Thứ nhất, khách hàng đánh giá các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM chỉ ở mức trên mức trung bình (bảng 3.15). Tác giả cho rằng đây là nguyên nhân chính yếu dẫn đến các siêu thị tại TP. HCM chưa tạo ra được ưu thế tuyệt đối trước
các kênh phân phối truyền thống và các kênh phân phối hiện đại khác siêu thị như đã trình bày trong mục 3.1.2.3.
Thứ hai, sự khác biệt giữa các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP.
HCM theo các loại hình kinh doanh cũng như các loại hình sở hữu của siêu thị là không lớn và biểu hiện tập trung trên các phương diện:
Khách hàng đánh giá hệ thống trang thiết bị, độ tin cậy và năng lực phục vụ của nhân viên trong các siêu thị chuyên doanh cao hơn các siêu thị kinh doanh tổng hợp.
Cơ sở vật chất hiện đại, hệ thống trang thiết bị hấp dẫn, lối đi giữa các kệ hàng đủ thông thoáng, bãi giữ xe rộng rãi và tiện lợi của các siêu thị nước ngoài được đánh giá cao hơn so với siêu thị tư nhân và cao hơn nhiều, thậm chí vượt trội (ở phương diện bãi giữ xe) so với siêu thị nhà nước.
Giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên các phương diện giá cả ổn định và hợp lý của siêu thị nhà nước và nước ngoài được đánh giá cao hơn khá nhiều so với siêu thị tư nhân.
Ngoài ra, ở mức ý nghĩa P < 0,10, tập hàng hóa ở phương diện có nhiều mặt hàng mới cũng được coi là lợi thế của siêu thị nước ngoài so với siêu thị nhà nước.