Phân  tích  tương  quan  giữa  giá  trị  vị  thế  và  thực  trạng  các yếu  tố  tạo  lợi  thế  cạnh tranh cho các siêu thị trên địa bàn TP. HCM

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 146 - 149)

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH

3.1 Khái quát về kinh doanh siêu thị tại TP. HCM

3.2.5 Phân  tích  tương  quan  giữa  giá  trị  vị  thế  và  thực  trạng  các yếu  tố  tạo  lợi  thế  cạnh tranh cho các siêu thị trên địa bàn TP. HCM

a. Theo loại hình kinh doanh của siêu thị 

Theo  loại  hình  kinh  doanh  của  siêu  thị,  giá  trị  vị  thế  của  các  yếu  tố  tạo  lợi  thế  cạnh  tranh  cho  nhóm  các  siêu  thị  kinh  doanh  tổng  hợp  và  nhóm  các  siêu  thị  chuyên  doanh được xác định từ kết quả ước lượng chuẩn hóa mô hình bất biến ở chương 2 (mục  2.3.6.2 và bảng 2.12). So sánh tương quan giữa giá trị vị thế với giá trị trung bình (thực  trạng)  các  yếu  tố  tạo  lợi  thế  cạnh  tranh  cho  hai  loại  siêu  thị  này (bảng  3.16)  cho  thấy,  trong khi giá trị vị thế của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM  có sự khác nhau rõ rệt, thể hiện vai trò (hay cường độ tác động) của các yếu tố này trong  việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị có sự phân định thứ bậc rõ rệt; thì sự khác  nhau về giá trị thực trạng giữa các yếu tố ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị là không  nhiều, nghĩa là, trên thực tế sự đóng góp của các yếu tố này trong việc tạo ra lợi thế cạnh  tranh cho các siêu thị là thiếu tương thích với giá trị vị thế của chúng.

Bảng 3.16: Tương quan giữa giá trị vị thế và thực trạng các yếu tố  tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị theo loại hình kinh doanh 

Trong đó: giá trị vị thế là trọng số hồi qui trong ước lượng chuẩn hóa mô hình bất biến  b. Theo loại hình sở hữu của siêu thị 

Theo loại hình sở hữu, giá trị vị thế của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho nhóm  các siêu thị nhà nước, các siêu thị  tư nhân và các siêu thị nước ngoài được xác định từ  kết quả ước lượng chuẩn hóa mô hình khả biến ở chương 2 (mục 2.3.6.2 và bảng 2.14). 

So  sánh  tương quan  giữa  giá  trị  vị  thế  và  giá  trị  thực  trạng  các  yếu  tố  tạo  lợi  thế  cạnh  tranh cho ba loại hình siêu thị này (bảng 3.17) cho thấy, cũng giống như theo loại hình  kinh doanh của siêu thị, đó là trong khi  giá trị  vị  thế thể hiện vai  trò hay cường độ tác  động của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho cả ba loại hình siêu thị có sự phân định thứ  bậc rõ rệt; thì giá trị thực trạng, thể hiện sự đóng góp của những yếu tố này trong việc tạo  ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị là chưa có sự phân biệt rõ ràng. 

Bảng 3.17: Tương quan giữa giá trị vị thế và thực trạng các yếu tố  tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị theo loại hình sở hữu  Các yếu tố tạo 

lợi thế cạnh tranh 

Siêu thị nhà nước  Siêu thị tư nhân  Siêu thị nước ngoài  Giá trị 

vị thế 

Giá trị  hiện trạng 

Giá trị  vị thế 

Giá trị  hiện trạng 

Giá trị  vị thế 

Giá trị  hiện trạng 

HH  0,194  3,417  0,286  3,518  0,187  3,586 

KG  0,156  3,438  0,009  3,614  0,177  3,767 

GC  0,122  3,690  0,856  3,507  0,187  3,747 

TC  0,484  3,375  ­0,094  3,361  0,121  3,346 

NV  0,069  3,402  ­0,064  3,461  0,313  3,339 

Trong đó: ____ :  các giá trị không có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa p < 0,10  Các yếu tố 

tạo lợi thế cạnh tranh 

Siêu thị tổng hợp  Siêu thị chuyên doanh  Giá trị 

vị thế 

Giá trị  thực trạng 

Giá trị  vị thế 

Giá trị  thực trạng 

HH  0,215  3,510  0,102  3,539 

KG  0,141  3,589  0,169  3,826 

GC  0,331  3,650  0,296  3,646 

TC  0,167  3,339  0,189  3,500 

NV  0,162  3,337  0,166  3,818

Tuy nhiên, theo loại hình sở hữu của siêu thị, sự thiếu tương thích giữa giá trị thực  trạng của các  yếu tố  tạo lợi  thế cạnh tranh so với giá trị vị  thế của chúng còn  được thể  hiện trong nội bộ các loại hình siêu thị, cũng như giữa các loại hình siêu thị với nhau. Cụ  thể là: 

­ Đối với nhóm các siêu thị nhà nước, tin cậy (TC) là yếu tố duy nhất (có ý nghĩa  thống kê) tạo ra lợi thế cạnh tranh cho loại hình siêu thị này và có giá trị vị thế khá cao  (0,484), nhưng giá trị thực trạng lại ở thứ bậc thấp nhất (3,375). Ngược lại, yếu tố giá cả  (GC) không có ý nghĩa thống kê trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh, nhưng lại có giá trị  thực trạng cao nhất (3,690). 

­  Đối  với  siêu thị  tư nhân, không  gian  siêu  thị  (KG)  không  có  ý nghĩa  thống  kê  trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho loại hình siêu thị này, nhưng giá trị hiện trạng đạt  mức cao nhất (3,614). Ngược lại, giá cả (GC) có giá trị vị thế rất cao (0,856), nhưng giá  trị thực trạng chỉ được đánh giá ở mức trung bình (3,507). 

­ Đối  với  siêu thị nước ngoài, nhân viên phục vụ (NV) là  yếu tố có giá trị vị  thế  cao nhất (0,313), nhưng lại có giá trị thực trạng thấp nhất (3,339). Ngược lại, không gian  siêu  thị  (KG)  có  giá  trị  vị  thế  thấp  nhất  (0,177),  nhưng  giá  trị  thực  trạng  là  cao  nhất  (3,767). 

Tóm lại, bên cạnh giá trị thực trạng của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các  siêu thị  tại TP. HCM chỉ được đánh giá ở mức trên trung bình, thì  sự thiếu tương thích  giữa giá trị thực trạng của các yếu tố này so với giá trị vị thế của chúng là điểm nổi bật  thứ  hai  của  thực  trạng  các  yếu  tố  tạo  lợi  thế cạnh  tranh  cho  các  siêu  thị  tại  TP.  HCM. 

Điều này cho thấy, chiến lược đầu tư và phân bố các nguồn lực để phát triển các siêu thị  tại TP. HCM trong quá khứ là chưa hợp lý. Đó là chưa xuất phát từ các yếu tố tạo lợi thế  cạnh  tranh  cho  các  siêu  thị  và  dường  như  sự  chia  đều  nguồn  lực  đang  hấp  dẫn  sự  lựa  chọn  của  các nhà  kinh doanh  siêu  thị. Vì  thế,  đổi mới  và điều  chỉnh chiến  lược đầu tư  cùng chính sách phân bố nguồn lực của các siêu thị là vấn đề cấp thiết đối với  các siêu  thị tại TP. HCM trong giai đoạn hiện nay. 

Dĩ  nhiên,  kết  quả  phân  tích  trên  cũng  cho  thấy,  không  thể  có  chiến  lược đầu  tư  phát triển chung cho các siêu thị, mà ngược lại các chiến lược này phải được hoạch định  theo từng loại hình siêu thị và gắn liền với việc duy trì và phát triển các năng lực lõi của

mỗi siêu thị. Hơn nữa các chiến lược này cần được điều chỉnh qua thời gian khi giá trị vị  thế của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị này đã có sự thay đổi đáng kể. 

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 146 - 149)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(202 trang)