CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH
3.1 Khái quát về kinh doanh siêu thị tại TP. HCM
3.2.5 Phân tích tương quan giữa giá trị vị thế và thực trạng các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị trên địa bàn TP. HCM
a. Theo loại hình kinh doanh của siêu thị
Theo loại hình kinh doanh của siêu thị, giá trị vị thế của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho nhóm các siêu thị kinh doanh tổng hợp và nhóm các siêu thị chuyên doanh được xác định từ kết quả ước lượng chuẩn hóa mô hình bất biến ở chương 2 (mục 2.3.6.2 và bảng 2.12). So sánh tương quan giữa giá trị vị thế với giá trị trung bình (thực trạng) các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho hai loại siêu thị này (bảng 3.16) cho thấy, trong khi giá trị vị thế của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM có sự khác nhau rõ rệt, thể hiện vai trò (hay cường độ tác động) của các yếu tố này trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị có sự phân định thứ bậc rõ rệt; thì sự khác nhau về giá trị thực trạng giữa các yếu tố ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị là không nhiều, nghĩa là, trên thực tế sự đóng góp của các yếu tố này trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị là thiếu tương thích với giá trị vị thế của chúng.
Bảng 3.16: Tương quan giữa giá trị vị thế và thực trạng các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị theo loại hình kinh doanh
Trong đó: giá trị vị thế là trọng số hồi qui trong ước lượng chuẩn hóa mô hình bất biến b. Theo loại hình sở hữu của siêu thị
Theo loại hình sở hữu, giá trị vị thế của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho nhóm các siêu thị nhà nước, các siêu thị tư nhân và các siêu thị nước ngoài được xác định từ kết quả ước lượng chuẩn hóa mô hình khả biến ở chương 2 (mục 2.3.6.2 và bảng 2.14).
So sánh tương quan giữa giá trị vị thế và giá trị thực trạng các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho ba loại hình siêu thị này (bảng 3.17) cho thấy, cũng giống như theo loại hình kinh doanh của siêu thị, đó là trong khi giá trị vị thế thể hiện vai trò hay cường độ tác động của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho cả ba loại hình siêu thị có sự phân định thứ bậc rõ rệt; thì giá trị thực trạng, thể hiện sự đóng góp của những yếu tố này trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị là chưa có sự phân biệt rõ ràng.
Bảng 3.17: Tương quan giữa giá trị vị thế và thực trạng các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị theo loại hình sở hữu Các yếu tố tạo
lợi thế cạnh tranh
Siêu thị nhà nước Siêu thị tư nhân Siêu thị nước ngoài Giá trị
vị thế
Giá trị hiện trạng
Giá trị vị thế
Giá trị hiện trạng
Giá trị vị thế
Giá trị hiện trạng
HH 0,194 3,417 0,286 3,518 0,187 3,586
KG 0,156 3,438 0,009 3,614 0,177 3,767
GC 0,122 3,690 0,856 3,507 0,187 3,747
TC 0,484 3,375 0,094 3,361 0,121 3,346
NV 0,069 3,402 0,064 3,461 0,313 3,339
Trong đó: ____ : các giá trị không có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa p < 0,10 Các yếu tố
tạo lợi thế cạnh tranh
Siêu thị tổng hợp Siêu thị chuyên doanh Giá trị
vị thế
Giá trị thực trạng
Giá trị vị thế
Giá trị thực trạng
HH 0,215 3,510 0,102 3,539
KG 0,141 3,589 0,169 3,826
GC 0,331 3,650 0,296 3,646
TC 0,167 3,339 0,189 3,500
NV 0,162 3,337 0,166 3,818
Tuy nhiên, theo loại hình sở hữu của siêu thị, sự thiếu tương thích giữa giá trị thực trạng của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh so với giá trị vị thế của chúng còn được thể hiện trong nội bộ các loại hình siêu thị, cũng như giữa các loại hình siêu thị với nhau. Cụ thể là:
Đối với nhóm các siêu thị nhà nước, tin cậy (TC) là yếu tố duy nhất (có ý nghĩa thống kê) tạo ra lợi thế cạnh tranh cho loại hình siêu thị này và có giá trị vị thế khá cao (0,484), nhưng giá trị thực trạng lại ở thứ bậc thấp nhất (3,375). Ngược lại, yếu tố giá cả (GC) không có ý nghĩa thống kê trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh, nhưng lại có giá trị thực trạng cao nhất (3,690).
Đối với siêu thị tư nhân, không gian siêu thị (KG) không có ý nghĩa thống kê trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho loại hình siêu thị này, nhưng giá trị hiện trạng đạt mức cao nhất (3,614). Ngược lại, giá cả (GC) có giá trị vị thế rất cao (0,856), nhưng giá trị thực trạng chỉ được đánh giá ở mức trung bình (3,507).
Đối với siêu thị nước ngoài, nhân viên phục vụ (NV) là yếu tố có giá trị vị thế cao nhất (0,313), nhưng lại có giá trị thực trạng thấp nhất (3,339). Ngược lại, không gian siêu thị (KG) có giá trị vị thế thấp nhất (0,177), nhưng giá trị thực trạng là cao nhất (3,767).
Tóm lại, bên cạnh giá trị thực trạng của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM chỉ được đánh giá ở mức trên trung bình, thì sự thiếu tương thích giữa giá trị thực trạng của các yếu tố này so với giá trị vị thế của chúng là điểm nổi bật thứ hai của thực trạng các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM.
Điều này cho thấy, chiến lược đầu tư và phân bố các nguồn lực để phát triển các siêu thị tại TP. HCM trong quá khứ là chưa hợp lý. Đó là chưa xuất phát từ các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị và dường như sự chia đều nguồn lực đang hấp dẫn sự lựa chọn của các nhà kinh doanh siêu thị. Vì thế, đổi mới và điều chỉnh chiến lược đầu tư cùng chính sách phân bố nguồn lực của các siêu thị là vấn đề cấp thiết đối với các siêu thị tại TP. HCM trong giai đoạn hiện nay.
Dĩ nhiên, kết quả phân tích trên cũng cho thấy, không thể có chiến lược đầu tư phát triển chung cho các siêu thị, mà ngược lại các chiến lược này phải được hoạch định theo từng loại hình siêu thị và gắn liền với việc duy trì và phát triển các năng lực lõi của
mỗi siêu thị. Hơn nữa các chiến lược này cần được điều chỉnh qua thời gian khi giá trị vị thế của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị này đã có sự thay đổi đáng kể.