Thách thức đối với nâng cao lợi thế cạnh tranh cho  siêu thị tại TP. HCM  giai  đoạn 2011­ 2020

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 155 - 158)

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH

3.3 Dự báo điều kiện nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM giai  đoạn 2011 ­ 2020

3.3.2 Thách thức đối với nâng cao lợi thế cạnh tranh cho  siêu thị tại TP. HCM  giai  đoạn 2011­ 2020

Bên cạnh những tiềm năng và cơ hội như đã phân tích trên đây, tác giả cho rằng,  việc  nâng cao  lợi  thế  cạnh  tranh  của  siêu  thị  tại  TP.  HCM  giai đoạn 2011  ­ 2020  cũng  đứng  trước một số  thách thức  không nhỏ.  Đó  là  hệ  thống kênh phân phối  truyền  thống  chưa thể nhanh chóng bị thay thế, siêu thị chưa khẳng định được ưu thế tuyệt đối trước  các kênh phân phối hiện đại khác; trong khi đó, cở sở hạ tầng của Thành phố đã đến lúc  không còn thuận lợi cho phát triển siêu thị. 

Minh chứng cho nhận định trên là trong những năm qua loại hình kinh doanh siêu  thị đã  có bước phát  triển nhanh  và  trở  thành một  kênh phân phối  chủ lực, song như đã  phân tích trong mục 3.1.2.3, ở thời điểm hiện tại, thị phần của các kênh phân phối hiện  đại và siêu thị nói riêng còn khá khiêm tốn (là 52,4%, trong đó siêu thị chiếm 62,6%, tức  bằng 31,9% tổng mức bán lẻ của TP. HCM). Trong khi đó, những yếu tố sau đây đang là  những rào cản việc gia tăng thị phần của các kênh phân phối hiện đại và sự phát triển của  siêu thị trong ít nhất một thập niên tới: 

Một là,mặc dù người dân TP. HCM có trình độ dân trí và văn minh đô thị cao hơn  nhiều  so  với  mức bình quân của  cả nước, nhưng  nét  văn hóa độc đáo  “thách  thức”  kỹ  năng của người bán lẫn người mua trong mua sắm ở chợ (như được mặc cả giá và có cơ  hội  lựa  chọn  hàng  hóa  để  chọn  ra hàng  hóa  cần mua,  vv.)  đã  ăn  sâu  vào  máu  thịt  của  người Việt, đặc biệt là lớp người đã nhận thức được điều này (được sinh ra trước 1980)  trước khi siêu thị được hình thành và phát triển ở Việt Nam sẽ không dễ dàng từ bỏ. Hơn  nữa, chính vì hàng hóa thực phẩm bày bán trong siêu thị được bảo quản đông lạnh, nên  thường không đảm bảo độ tươi sống như hàng ở chợ khi mới nhập từ nhà cung cấp và vì

thế một bộ phận không nhỏ người dân, mà phần lớn là người nội trợ vẫn duy trì thói quen  mua sắm ở chợ. 

Hai là, đối tượng khách hàng của siêu thị là người dân có thu nhập thấp và trung  bình, nhưng với đối tượng này họ lại rất quan tâm và nhạy cảm với giá cả, đặc biệt là bộ  phận khách hàng là công nhân và nghề nghiệp khác có thu nhập phần lớn dưới mức trung  bình. Kết quả xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các  siêu thị tại TP. HCM ở chương 2 là một minh chứng cụ thể, khi giá cả là yếu tố có giá trị  vị thế cao nhất (tức có vai trò và cường độ tác động mạnh nhất) trong việc tạo ra lợi thế  cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM. Tuy nhiên, như đã phân tích phần trước (mục  3.1.2.3), một trong những điểm  yếu cơ bản của các siêu thị tại TP. HCM hiện nay là giá  cả thiếu tính cạnh tranh so với chợ. Song vì nhiều lý do, mà trước hết là qui mô các siêu  thị còn hạn chế và giá thuê mặt bằng tại TP. HCM lại quá cao (tương đương ngay cả với  các quốc gia phát triển) và dự báo sẽ chưa dừng lại, nên yêu cầu giảm giá bán trong các  siêu thị dường như là điều không dễ có thể thực hiện được đối với phần lớn các siêu thị. 

Ba  là,  xét  trong mối  tương quan với  các  kênh phân phối  hiện đại  khác, hiện  tại  siêu thị có thị phần cao hơn nhiều so với hai đối thủ cạnh tranh là trung tâm thương mại  và  cửa  hàng  tiện  lợi,  song  vì  lý  do  mặt  bằng  như đã  phân  tích  ở  các  phần  trước  (mục  3.1.2.1 và 3.3.2) mà việc phát triển tập trung các siêu thị tại các vị trí đầu mối giao thông  trong các quận  nội  thành theo Qui chế siêu thị  ­ trung tâm thương mại  của Bộ Thương  mại 35 (2004)  và  Qui  hoạch  định  hướng  phát  triển  hệ  thống  chợ  ­  siêu  thị  ­  trung  tâm  thương mại trên địa bàn TP. HCM giai đoạn 2009 ­ 2015 của Ủy ban nhân dân TP. HCM,  tuy thuận lợi hơn so với trung tâm thương mại nhưng sẽ là một thách thức rất lớn so với  phát triển hệ thống các cửa hàng tiện lợi. Vì, qui mô của cửa hàng tiện lợi nhỏ hơn nhiều  lần so với siêu thị. 

Tóm lại, đồng quan điểm với Masso Group 36 : “Trong các mô hình bán lẻ hiện đại,  các mô hình giá thấp như siêu thị, đại siêu thị, dường như thích hợp với hiện trạng tiêu  dùng  của  người  Việt  Nam  hơn  các  mô  hình  giá  cao  như  cửa  hàng  tiện  lợi,  trung  tâm  thương mại” [2] và nhận định của Giám đốc bộ phận tư vấn tài chính doanh nghiệp của  Grand Thornton Matthew Lourey: “Việc chuyển đổi theo hướng thương mại hiện đại của  Việt Nam, các chính sách khuyến khích cơ hội đầu tư mới cũng như sự thiếu hụt hiện tại 

35 Nay là Bộ Công Thương. 

36 Công ty tư vấn, truyền thông tiếp thị và đưa ra các giải pháp marketing hàng đầu mang thương hiệu Việt.

về chất lượng không gian bán lẻ ở trung tâm TP. HCM, đã góp phần làm cho khu vực đầu  tư  kinh doanh bán lẻ nói  chung và kinh doanh siêu thị nói  riêng đứng trước nhiều tiềm  năng và lợi thế” [2], tác giả cho rằng, có nhiều cơ hội để phát triển các yếu tố tạo lợi thế  cạnh  tranh,  từ  đó  nâng  cao  lợi  thế  cạnh  tranh  của  các  siêu  thị  tại  TP.  HCM  trong  giai  đoạn 2011­ 2020. Tuy  nhiên, trong  bối  cảnh cạnh  tranh  diễn ra ngày càng  gay gắt, đặc  biệt trong lĩnh vực  kinh doanh dịch vụ  (trong đó có kinh doanh  siêu thị) sau khi Chính  phủ Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ, thì việc nâng cao lợi thế cạnh tranh  cho các siêu thị tại TP. HCM trong giai đoạn này cũng sẽ gặp phải những thách thức nhất  định từ phía các điều kiện vĩ mô và vi mô đến nội lực của các siêu thị. 

Tóm tắt chương 3 

Nhằm mục đích đặt cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định các giải pháp nâng cao lợi  thế cạnh tranh của các siêu thị trên địa bàn TP. HCM giai đoạn 2011­2020, chương này  tác giả đã thực hiện các hoạt động nghiên cứu và đạt được những kết quả sau đây: 

Thứ  nhất,  sau  khi  đánh  giá  khái  quát  về  tình  hình  kinh  doanh  siêu  thị  tại  TP. 

HCM, tác giả sử dụng thang đo các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. 

HCM đã được xây dựng và kiểm định trong chương 2 để lượng hóa giá trị thực trạng các  yếu tố tạo độ lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị TP. HCM. Kết quả cho thấy, giá trị thực  trạng  của các  yếu tố  tạo lợi  thế cạnh tranh cho các siêu thị trên địa bàn TP. HCM  được  khách hàng đánh giá ở mức trên trung bình và sự khác nhau giữa các yếu tố này là không  nhiều. Tuy nhiên, đáng lưu ý hơn là sự thiếu tương thích giữa giá trị thực trạng của các  yếu  tố  này  so  với  giá  trị  vị  thế  của  chúng,  Chứng  tỏ,  chiến  lược  đầu  tư  và  chính  sách  phân bố các nguồn lực để phát triển các siêu thị tại TP. HCM trong quá khứ là chưa xuất  phát từ các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị và dường như sự chia đều nguồn  lực đang hấp dẫn sự lựa chọn của các siêu thị. 

Thứ  hai,  phân  tích  tình hình  kinh  tế  ­  xã  hội  của  TP.  HCM  và  các  nhân  tố  ảnh  hưởng đến việc phát triển hệ thống phân phối nói chung (trong đó có siêu thị) giai đoạn  2011 ­ 2020, cùng cơ cấu giá trị  của khách hàng khi đến siêu thị, tác giả cho rằng, việc  nâng cao lợi thế cạnh tranh của các siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 ­ 2020, mặc dù  sẽ gặp phải những thách thức nhất định, song về cơ bản đứng trước nhiều tiềm năng và  cơ hội. Vì, đây cũng chính là những điều kiện thuận lợi để phát triển các  yếu tố tạo lợi  thế cạnh tranh của các siêu thị tại TP. HCM trong giai đoạn này.

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 155 - 158)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(202 trang)