CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH
3.3 Dự báo điều kiện nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 2020
3.3.2 Thách thức đối với nâng cao lợi thế cạnh tranh cho siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 2020
Bên cạnh những tiềm năng và cơ hội như đã phân tích trên đây, tác giả cho rằng, việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 2020 cũng đứng trước một số thách thức không nhỏ. Đó là hệ thống kênh phân phối truyền thống chưa thể nhanh chóng bị thay thế, siêu thị chưa khẳng định được ưu thế tuyệt đối trước các kênh phân phối hiện đại khác; trong khi đó, cở sở hạ tầng của Thành phố đã đến lúc không còn thuận lợi cho phát triển siêu thị.
Minh chứng cho nhận định trên là trong những năm qua loại hình kinh doanh siêu thị đã có bước phát triển nhanh và trở thành một kênh phân phối chủ lực, song như đã phân tích trong mục 3.1.2.3, ở thời điểm hiện tại, thị phần của các kênh phân phối hiện đại và siêu thị nói riêng còn khá khiêm tốn (là 52,4%, trong đó siêu thị chiếm 62,6%, tức bằng 31,9% tổng mức bán lẻ của TP. HCM). Trong khi đó, những yếu tố sau đây đang là những rào cản việc gia tăng thị phần của các kênh phân phối hiện đại và sự phát triển của siêu thị trong ít nhất một thập niên tới:
Một là,mặc dù người dân TP. HCM có trình độ dân trí và văn minh đô thị cao hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước, nhưng nét văn hóa độc đáo “thách thức” kỹ năng của người bán lẫn người mua trong mua sắm ở chợ (như được mặc cả giá và có cơ hội lựa chọn hàng hóa để chọn ra hàng hóa cần mua, vv.) đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt, đặc biệt là lớp người đã nhận thức được điều này (được sinh ra trước 1980) trước khi siêu thị được hình thành và phát triển ở Việt Nam sẽ không dễ dàng từ bỏ. Hơn nữa, chính vì hàng hóa thực phẩm bày bán trong siêu thị được bảo quản đông lạnh, nên thường không đảm bảo độ tươi sống như hàng ở chợ khi mới nhập từ nhà cung cấp và vì
thế một bộ phận không nhỏ người dân, mà phần lớn là người nội trợ vẫn duy trì thói quen mua sắm ở chợ.
Hai là, đối tượng khách hàng của siêu thị là người dân có thu nhập thấp và trung bình, nhưng với đối tượng này họ lại rất quan tâm và nhạy cảm với giá cả, đặc biệt là bộ phận khách hàng là công nhân và nghề nghiệp khác có thu nhập phần lớn dưới mức trung bình. Kết quả xây dựng và kiểm định mô hình các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM ở chương 2 là một minh chứng cụ thể, khi giá cả là yếu tố có giá trị vị thế cao nhất (tức có vai trò và cường độ tác động mạnh nhất) trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM. Tuy nhiên, như đã phân tích phần trước (mục 3.1.2.3), một trong những điểm yếu cơ bản của các siêu thị tại TP. HCM hiện nay là giá cả thiếu tính cạnh tranh so với chợ. Song vì nhiều lý do, mà trước hết là qui mô các siêu thị còn hạn chế và giá thuê mặt bằng tại TP. HCM lại quá cao (tương đương ngay cả với các quốc gia phát triển) và dự báo sẽ chưa dừng lại, nên yêu cầu giảm giá bán trong các siêu thị dường như là điều không dễ có thể thực hiện được đối với phần lớn các siêu thị.
Ba là, xét trong mối tương quan với các kênh phân phối hiện đại khác, hiện tại siêu thị có thị phần cao hơn nhiều so với hai đối thủ cạnh tranh là trung tâm thương mại và cửa hàng tiện lợi, song vì lý do mặt bằng như đã phân tích ở các phần trước (mục 3.1.2.1 và 3.3.2) mà việc phát triển tập trung các siêu thị tại các vị trí đầu mối giao thông trong các quận nội thành theo Qui chế siêu thị trung tâm thương mại của Bộ Thương mại 35 (2004) và Qui hoạch định hướng phát triển hệ thống chợ siêu thị trung tâm thương mại trên địa bàn TP. HCM giai đoạn 2009 2015 của Ủy ban nhân dân TP. HCM, tuy thuận lợi hơn so với trung tâm thương mại nhưng sẽ là một thách thức rất lớn so với phát triển hệ thống các cửa hàng tiện lợi. Vì, qui mô của cửa hàng tiện lợi nhỏ hơn nhiều lần so với siêu thị.
Tóm lại, đồng quan điểm với Masso Group 36 : “Trong các mô hình bán lẻ hiện đại, các mô hình giá thấp như siêu thị, đại siêu thị, dường như thích hợp với hiện trạng tiêu dùng của người Việt Nam hơn các mô hình giá cao như cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại” [2] và nhận định của Giám đốc bộ phận tư vấn tài chính doanh nghiệp của Grand Thornton Matthew Lourey: “Việc chuyển đổi theo hướng thương mại hiện đại của Việt Nam, các chính sách khuyến khích cơ hội đầu tư mới cũng như sự thiếu hụt hiện tại
35 Nay là Bộ Công Thương.
36 Công ty tư vấn, truyền thông tiếp thị và đưa ra các giải pháp marketing hàng đầu mang thương hiệu Việt.
về chất lượng không gian bán lẻ ở trung tâm TP. HCM, đã góp phần làm cho khu vực đầu tư kinh doanh bán lẻ nói chung và kinh doanh siêu thị nói riêng đứng trước nhiều tiềm năng và lợi thế” [2], tác giả cho rằng, có nhiều cơ hội để phát triển các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh, từ đó nâng cao lợi thế cạnh tranh của các siêu thị tại TP. HCM trong giai đoạn 2011 2020. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ (trong đó có kinh doanh siêu thị) sau khi Chính phủ Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ, thì việc nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM trong giai đoạn này cũng sẽ gặp phải những thách thức nhất định từ phía các điều kiện vĩ mô và vi mô đến nội lực của các siêu thị.
Tóm tắt chương 3
Nhằm mục đích đặt cơ sở thực tiễn cho việc hoạch định các giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh của các siêu thị trên địa bàn TP. HCM giai đoạn 20112020, chương này tác giả đã thực hiện các hoạt động nghiên cứu và đạt được những kết quả sau đây:
Thứ nhất, sau khi đánh giá khái quát về tình hình kinh doanh siêu thị tại TP.
HCM, tác giả sử dụng thang đo các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP.
HCM đã được xây dựng và kiểm định trong chương 2 để lượng hóa giá trị thực trạng các yếu tố tạo độ lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị TP. HCM. Kết quả cho thấy, giá trị thực trạng của các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị trên địa bàn TP. HCM được khách hàng đánh giá ở mức trên trung bình và sự khác nhau giữa các yếu tố này là không nhiều. Tuy nhiên, đáng lưu ý hơn là sự thiếu tương thích giữa giá trị thực trạng của các yếu tố này so với giá trị vị thế của chúng, Chứng tỏ, chiến lược đầu tư và chính sách phân bố các nguồn lực để phát triển các siêu thị tại TP. HCM trong quá khứ là chưa xuất phát từ các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị và dường như sự chia đều nguồn lực đang hấp dẫn sự lựa chọn của các siêu thị.
Thứ hai, phân tích tình hình kinh tế xã hội của TP. HCM và các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển hệ thống phân phối nói chung (trong đó có siêu thị) giai đoạn 2011 2020, cùng cơ cấu giá trị của khách hàng khi đến siêu thị, tác giả cho rằng, việc nâng cao lợi thế cạnh tranh của các siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 2020, mặc dù sẽ gặp phải những thách thức nhất định, song về cơ bản đứng trước nhiều tiềm năng và cơ hội. Vì, đây cũng chính là những điều kiện thuận lợi để phát triển các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh của các siêu thị tại TP. HCM trong giai đoạn này.