CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC YẾU TỐ TẠO LỢI THẾ CẠNH TRANH
3.3 Dự báo điều kiện nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 2020
3.3.1 Tiềm năng và cơ hội nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM giai đoạn 2011 2020
Theo kết quả nghiên cứu của A.T. Kearney (Mỹ), hãng tư vấn quản lý hàng đầu thế giới, trong những năm gần đây Việt Nam luôn đứng trong top 10 quốc gia có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới. Đặc biệt năm 2008 vượt qua Ấn Độ, Trung Quốc và Nga, Việt Nam trở thành quốc gia có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới.
Bảng 3.18: Xếp hạng chỉ số phát triển bán lẻ (GRDI) của Việt Nam
(Nguồn: Thông tin từ A.T. Kearney Website diễn đàn doanh nghiệp)
Còn theo công bố của công ty nghiên cứu thị trường RNCOS (Mỹ) 28/8/2009, doanh thu bán lẻ của Việt Nam tăng từ 23,7 tỷ USD năm 2006 lên gần 39 tỷ USD năm 2008 và dự báo đến năm 2012 sẽ vượt 85 tỉ USD, đồng thời Việt Nam được đánh giá là điểm hấp dẫn của các công ty bán lẻ đa quốc gia [38].
Khảo sát công ty kiểm toán quốc tế Grant Thornton cũng cho kết quả tương tự.
Theo đó, có đến 70% trong tổng số 169 đại diện doanh nghiệp tham gia khảo sát do Grant Thornton thực hiện trong tháng 3/2009, thì bán lẻ đã vượt qua cả chăm sóc sức khỏe, công nghệ sinh học và dầu khí trở thành lĩnh vực đầu tư hấp dẫn nhất tại Việt Nam trong năm 2009 [49].
Tuy nhiên, theo công bố của Tổng cục thống kê, sau hơn 15 năm loại hình kinh doanh siêu thị và sau đó là các kênh phân phối hiện đại khác xuất hiện ở Việt Nam, tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa, dịch vụ của các kênh phân phối hiện đại năm 2009 còn chiếm một tỉ lệ rất khiêm tốn là 18,6% (mục tiêu đặt ra cho năm 2010 cũng chỉ là 20%). Tỉ lệ này tính cho TP. HCM, nơi có hệ thống kênh phân phối hiện đại đạt trình độ phát triển cao hơn các địa phương khác là 52,4%, trong đó siêu thị chiếm 62,6%, tức bằng 31.9%
tổng mức bán lẻ của TP. HCM. Trong khi đó, theo Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Singapore tỉ lệ này của Singapore và Nhật Bản là 90%, của Hàn Quốc, Hồng Kông và
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Hạng 7 8 3 4 1 6 14
Ðài Loan là 80%, của Trung Quốc là 60% [49]. Điều này cho thấy, ở thời điểm hiện tại, sức ép, đồng thời cũng chính là tiềm năng và cơ hội nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM là rất lớn.
Dự báo trong thập niên tới, tác giả cho rằng, ngoài sức ép của hiện tại chuyển qua, những tiềm năng và cơ hội nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM còn được thể hiện trên các phương diện:
Thứ nhất, dung lượng thị trường lớn và tăng trưởng cao, do qui mô dân số đông, tỉ lệ dân số trẻ và trình độ dân trí cao, lượng khách du lịch lớn, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện nhanh và mức chi cho tiêu dùng cao. Vì thế, đây sẽ là cơ hội để nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM trên các phương diện:mở rộng qui mô, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị và thực hiện chuyên nghiệp hóa các hoạt động của các siêu thị.
Về dân số, tại thời điểm 01/4/2009 dân số của TP. HCM là 7.123.340 người 34 . Như vậy, với tốc độ tăng dân số theo mức bình quân 10 năm từ 19992009 là 4,14%/năm thì dự kiến đến năm 2011 dân số của TP. HCM là 7,713 triệu người, năm 2015 là 8,892 triệu người, năm 2020 là 10,367 triệu người. Ngoài ra, hàng năm tham gia vào hoạt động bán lẻ trên thị trường TP. HCM còn có hàng triệu lượt khách du lịch quốc tế (năm 2009 là 2,5 triệu lượt khách, năm 2010 là 3,1 triệu lượt khách, chiếm trên 60% lượng du khách đến Việt Nam hàng năm) và nội địa (năm 2009 là 10,2 triệu lượt khách, năm 2010 là 12,4 triệu lượt khách [51], cùng hàng triệu học sinh, sinh viên và lực lượng lao động bán thường xuyên ở các tỉnh về học tập và làm việc tại thành phố nhưng chưa nhập cư.
Về thu nhập bình quân đầu người, như đã phân tích trong chương 2 (mục 2.1.1), thu nhập bình quân của người dân TP. HCM năm 2010 là 2.800 USD, mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. HCM đến năm 2015 là 4.800 USD. Như vậy, nếu duy trì ở tốc độ tăng trưởng 12 %/năm đặt ra cho giai đoạn 2011 2015, thì đến năm 2020 thu nhập bình quân của người dân TP. HCM vào khoảng 8.500 USD/người (bảng 3.19). Nghĩa là, thu nhập và do đó sức mua của người dân sẽ cải thiện nhanh so với thời điểm hiện nay.
Song mức thu nhập này vẫn nằm trong giới hạn thu thập trung bình theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (từ 976 USD – 11.906 USD/người). Vì thế cho đến năm 2020, đa số người dân TP. HCM vẫn là khách hàng của siêu thị.
34 Kết quả điều tra dân số 01/04/2009.
Bảng 3.19: Dự báo dân số, thu nhập và tổng mức bán lẻ của TP. HCM Chỉ tiêu Đơn vị tính 2011 2012 2013 2014 2015 2020 Dân số Nghìn người 7.713 8.008 8.303 8.598 8.892 10.367
Tăng trưởng GDP % 12,0 12,0 12,0 12,0 12,0
GDP/dầu người 1.000 USD 3.000 3.360 3.760 4.215 4.800 8.500 Tổng mức bán lẻ Tỉ USD 16,71 18,79 21,88 24,52 28,25 55,39
(Nguồn: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ IX; Kinh tế năm 2009 2010 Việt Nam và Thế giới Thời báo Kinh tế Việt Nam và dự báo của tác giả)
Về trình độ dân trí, TP. HCM là trung tâm kinh tế, giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ của cả nước, nên trình độ dân trí và văn minh đô thị của người dân TP. HCM cao hơn nhiều so với mức bình quân trong cả nước. Hơn nữa, TP. HCM là địa phương đi đầu trong cả nước và chịu ảnh hưởng lớn của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tác giả cho rằng, đây là nhân tố quan trọng có tác động làm thay đổi thói quen và lối sống kiểu sản xuất nhỏ sang lối sống công nghiệp, thói quen mua sắm và tiêu dùng của người dân thành thị, coi trọng yếu tố văn minh và nhu cầu thể hiện. Vì thế, siêu thị sẽ là giao diện và sự lựa chọn phù hợp trong mua sắm của người dân TP. HCM trong những năm tới.
Về chi tiêu, với tính chất là trung tâm công nghiệp, khoa học và công nghệ lớn nhất cả nước, nên TP. HCM có tỉ lệ dân số trẻ cao hơn các địa phương khác trong cả nước, đồng thời họ cũng là đối tượng trực tiếp lao động tạo ra thu nhập, vì thế sẽ mạnh tay chi tiêu hơn nhiều so với mức bình quân của cả nước.
Về dung lượng thị trường, nếu theo cách tính tổng mức bán lẻ dựa theo tỉ suất tổng mức bán lẻ trên GDP (thể hiện tiêu dùng thông qua mua bán trên thị trường) cả nước của năm 2009 là 72,2% [23, tr. 22], thì tổng mức bán lẻ tối thiểu của thị trường TP.
HCM dự báo cho năm 2011 sẽ là 16,71 tỉ USD; năm 2015 là 30,82 tỉ USD; năm 2020 là 58,62 tỉ USD. Điều này cho thấy, tổng mức bán lẻ của thị trường TP. HCM trong những năm tới là rất lớn và tăng cao so với thời điểm hiện tại, vì thế cũng sẽ là tiềm năng và cơ hội để phát triển các siêu thị với tư cách là một kênh phân phối chủ lực trên địa bàn TP.
HCM trong những năm tới.
Thứ hai, mạng lưới chợ truyền thống tiếp tục được duy trì nhưng theo hướng thu hẹp dần, trong khi đó khả năng phát triển trung tâm thương mại trong các quận nội
thành sẽ phải đương đầu với thách thức lớn về mặt bằng xây dựng so với siêu thị. Vì thế đây sẽ là điều kiện thuận lợi để siêu thị nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình trước hai đối thủ cạnh tranh chính là chợ và trung tâm thương mại.
Điều này xuất phát từ xu thế chung phản ánh quá trình đô thị hóa gắn liền với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tại TP. HCM, vấn đề này được thể hiện trong “Qui hoạch Định hướng phát triển hệ thống chợ siêu thị trung tâm thương mại trên địa bàn TP. HCM giai đoạn 2009 2015 của Ủy ban nhân dân TP.
HCM”. Cụ thể, đối với chợ,Điều 1 của Qui hoạch qui định:
Trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015, không xây dựng mới và giảm dần số lượng chợ tại khu vực trung tâm thành phố, việc xây dựng mới tại những khu vực khác chỉ thực hiện khi có nhu cầu thực sự của nhân dân.
Đối với các chợ đang hoạt động phù hợp với qui hoạch thì được sắp xếp khoa học khu vực kinh doanh các ngành hàng để phát huy cao nhất công suất sử dụng, tiến hành bảo dưỡng định kỳ, sửa chữa, nâng cấp, bổ sung đầy đủ các hạng mục hạ tầng kỹ thuật theo đúng qui định pháp luật.
Đối với chợ không sử dụng hết công suất thiết kế, hoạt động kém hiệu quả và không thể cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động thì xem xét chuyển đổi, mở rộng công năng hoặc sắp xếp di dời sang chợ khác.
Đối với những điểm, khu vực mua bán tự phát, kiên quyết giải tỏa.
Đối với siêu thị và trung tâm thương mại, Điều 1, Điều 2 của Qui hoạch qui định:
Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng, kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại trên cơ sở không gây ách tắc giao thông, đảm bảo qui chuẩn xây dựng và các qui định pháp luật có liên quan.
Ưu tiên phát triển siêu thị, trung tâm thương mại tại những khu vực đầu mối giao thông, khu mua sắm tập trung, phố đi bộ, khu dân cư mới, các chợ hoạt động không hết công năng, kém hiệu quả.
Các siêu thị tổng hợp phát triển xen kẽ, tương xứng với mạng lưới chợ hiện hữu, thay thế mạng lưới chợ trong khu vực nội thành. Các siêu thị chuyên doanh trở thành những nơi mua sắm tiêu biểu có thương hiệu trên địa bàn thành phố [44].
Tuy nhiên, như đã phân tích trong mục 3.1.2.1, khu vực trung tâm của TP. HCM là nơi “tấc đất, tấc vàng” và mọi diện tích đã qui hoạch lấp đầy, do đó việc phát triển tập
trung các trung tâm thương mại tại các vị trí đầu mối giao thông trong các quận nội thành (điển hình là quận 1 và quận 5) trong điều kiện chế định diện tích mặt bằng kinh doanh của trung tâm thương mại lớn hơn nhiều lần so với siêu thị (bảng 3.20) sẽ đứng trước một thách thức rất lớn so với phát triển siêu thị.
Bảng 3.20: Qui chế về diện tích siêu thị trung tâm thương mại và Qui hoạch định hướng phát triển đến 2015
Siêu thị Trung tâm thương mại Hạng 1 Tổng hợp ≥ 5.000 m 2
≥ 50.000 m 2 Chuyên doanh ≥ 1.000 m 2
Hạng 2 Tổng hợp ≥ 2.000 m 2
≥ 30.000 m 2 Chuyên doanh ≥ 500 m 2
Hạng 3 Tổng hợp ≥ 500 m 2
≥ 10.000 m 2 Chuyên doanh ≥ 500m 2
Phát triển mới 95 Siêu thị 140 Trung tâm thương mại (Nguồn: Qui chế siêu thị, trung tâm thương mại và Qui hoạch – Định hướng phát triển hệ
thống chợ siêu thị trung tâm thương mại trên địa bàn TP. HCM giai đoạn 2009 2015) Thứ ba, đầu tư vào lĩnh vực phân phối từ các nguồn lực trong nước và nước ngoài, đặc biệt là sự xâm nhập của các tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới vào TP. HCM sẽ gia tăng trong những năm tới. Đây sẽ là sức ép buộc các nhà kinh doanh siêu thị hiện tại phải thực hiện tái cấu trúc các siêu thị theo hướng nâng cao lợi thế cạnh tranh, nhưng đồng thời cũng là cơ hội để TP. HCM và các siêu thị tiếp nhận nhiều nguồn lực đầu tư để phát triển mới hoặc cải thiện các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị.
Điều này xuất phát từ những chỉ báo về sự hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam nói chung, nhất là tại TP. HCM như vừa phân tích ở nội dung trên đây, cùng những tín hiệu lạc quan về sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam và mục tiêu tăng trưởng cho những năm tới (bảng 3.21). Vì, đây là nhân tố quyết định tính ổn định của hoạt động đầu tư và tỉ suất lợi nhuận mà các nhà đầu tư có thể thu được. Hơn nữa, đây cũng chính là giai đoạn thị trường bán lẻ của Việt Nam mở cửa hoàn toàn theo cam kết gia nhập WTO, đồng thời cũng là thời kỳ kinh doanh siêu thị ở các nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức và nhiều quốc gia phát triển khác đã chuyển sang giai đoạn bão hòa, nên việc chuyển vốn, công nghệ và nhượng quyền thương mại sang các nước đang phát triển để tìm kiếm lợi nhuận là cơ hội, nhưng đồng thời cũng là một tất yếu.
Song, ở một phương diện khác, chính vì sự xâm nhập của các tập đoàn bán lẻ nước ngoài, sẽ buộc các siêu thị trong nước phải thực hiện tái cấu trúc để nâng cao hiệu quả. Trong đó, giải pháp được ưu tiên lựa chọn là bổ sung nguồn lực đầu tư và tăng cường khả năng liên kết, hợp tác giữa các siêu thị với nhau, với các nhà cung cấp và khách hàng. Vì thế, đây sẽ là thời kỳ đẩy nhanh tiến trình phát triển các chuỗi siêu thị và nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại TP. HCM.
Bảng 3.21: Mục tiêu tăng trưởng GDP của cả nước và TP. HCM
Chỉ tiêu 2009 2010 2011 2015 20112020
GDP của cả nước (%) 5,3 6,8 7,0 7,5 7,0 8,0
GDP/người /cả nước (1000 USD) 1.064 1.168 1.300 3.000 3.200*
GDP của TP. HCM (%) 8,5 11,0 12,0 12,0
GDP/người /TP. HCM (1000 USD) 2.606 2.800 3.000 4.800 Trong đó: *: Mục tiêu GDP/đầu người năm 2020.
(Nguồn: Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP. HCM lần thứ IX )
Thứ tư, quá trình tích tụ và tập trung vốn, công nghệ, kiến thức và kinh nghiệm quản lý thông qua hoạt động liên doanh, liên kết, hợp tác giữa các nhà phân phối với nhau hoặc với các nhà sản xuất trong nước, cũng như tiến trình quốc tế hóa và ứng dụng công nghệ thương mại điện tử trong lĩnh vực bán lẻ sẽ diễn ra mạnh mẽ. Đây là cơ hội để các siêu thị bổ sung nguồn lực cần thiết cho việc nâng cao lợi thế cạnh tranh trên các phương diện:
Bổ sung nguồn vốn đầu tư để hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn vốn lưu động đáp ứng nhu cầu dự trữ hàng hóa.
Bổ sung kiến thức và kinh nghiệm trong việc quản lý, điều hành các siêu thị, đào tạo và huấn luyện nhân viên, đặc biệt các năng lực quản trị tầm trung, tầm cao.
Gia nhập vào chuỗi cung ứng để đảm bảo nguồn hàng cung ứng ổn định, có chất lượng và giá hạ, đồng thời bảo vệ lợi ích của các siêu thị trước sự cạnh tranh của các tập đoàn phân phối nước ngoài.
Năng cao năng lực ứng dụng thương mại điện tử, đặc biệt là phát triển đa dạng các hình thức bán lẻ không sử dụng cửa hàng nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng mặt bằng và đem đến nhiều lợi ích cho những đối tượng khách hàng khác nhau của siêu thị.
Thứ năm, tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc lưu thông tràn lan trên thị trường, cùng hiện tượng tranh mua, tranh bán, hàng nhái, hàng giả diễn ra ở các chợ truyền thống có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây là chưa thể kiểm soát được trong những năm tới, đã làm cho vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời kiểm soát chất lượng và giá cả hàng hóa trở thành tiêu chuẩn quan tâm hàng đầu của người dân khi mua sắm. Trong bối cảnh đó, siêu thị sẽ trở thành địa chỉ được đông đảo người dân lựa chọn, vì thế sẽ là cơ hội để phát triển siêu thị trước chợ truyền thống.