Đối tượng phục vụ của siêu thị là phân khúc thị trường có thu nhập thấp và  trung bình  18

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 50 - 53)

1.4 Các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho siêu thị

1.4.1.2 Đối tượng phục vụ của siêu thị là phân khúc thị trường có thu nhập thấp và  trung bình  18

Đó là phân khúc của bộ phận dân cư chiếm đa số, đặc biệt là đối với các nền kinh  tế đang phát  triển.  Nghĩa  là,  đối  tượng phục vụ  của  siêu  thị  cũng  là  của  các  kênh phân 

18 Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng thế giới (WB).

phối truyền thống, nhưng  khác với  các hình thức phân phối hiện đại khác là phân khúc  thị trường có thu nhập trung bình và cao. Vì thế, đối thủ cạnh tranh chính của siêu thị là  chợ, các cửa hàng tạp hóa;  thứ đến là các trung tâm thương mại, cửa hàng bách hóa và  cửa hàng tiện lợi. 

Vậy, điều gì  có ý nghĩa quyết  định đem lại  giá trị hay giá trị  cảm nhận vượt trội  cho khách hàng và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho siêu thị? 

Theo Michael Cullen 19 , công thức chung của siêu thị là: “Hàng hóa thực phẩm và  gia dụng + Giá rẻ + Tự phục vụ + Chi phí thấp + Bãi đậu xe miễn phí”. Thực tiễn của  Sam Walton gắn liền với sự thành công của tập đoàn bán lẻ số một thế giới Wal Mart đó  là “Chất lượng cao ­ Giá rẻ ­ Tiếp đón niềm nở”. 

Theo  kết  quả  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Thị  Nhiều,  tại  Trung  Quốc,  người  dân  chuyển sang mua bán trong các siêu thị là do môi trường sạch sẽ, mua hàng thoải mái và  thuận  tiện, hàng hóa phong phú, đa dạng  và số  lượng nhiều,  chất lượng  và khối lượng  hàng  hóa  đảm  bảo  theo  tiêu  chuẩn  đóng  gói  và  không  phải  mặc  cả  giá;  tại  Việt  Nam,  người dân đến siêu thị để mua sắm vì chất lượng hàng hóa đảm bảo, nơi mua sắm được  vệ sinh sạch sẽ, nhân viên phục vụ tốt, có nhiều mặt hàng mới và giá cả phù hợp [24, tr. 

54, 106]. 

Tại TP. HCM, khảo sát của tác giả thực hiện tháng 4 năm 2010 cũng cho kết quả  tương tự như trên. Đó là lý do người dân đến siêu thị để mua sắm vì chất lượng hàng hóa  đảm bảo; nơi mua sắm được vệ sinh sạch sẽ; hàng hóa phong phú, đa dạng; thái độ phục  vụ tốt; tự chủ quyết định mua sắm và vị trí tiện lợi (hình 1.9). 

Nghĩa  là,  chính  vì  đối  tượng  phục  vụ  của  siêu  thị  phân  khúc  thị  trường  có  thu  nhập thấp và trung bình, nên nhu cầu  của khách hàng hướng đến thỏa mãn các nhu cầu  cấp cao trong các bậc thang nhu cầu của Maslow là chưa nhiều. Ngược lại, sự quan tâm  hàng đầu của khách hàng là các lợi ích chức năng được tạo ra từ tập hàng hóa phong phú,  đa dạng, chất lượng đảm bảo và có nhiều mặt hàng mới; giá cả phải chăng; cung ứng kịp  thời; vị trí siêu thị tiện lợi cho việc đi lại, không gian thoáng mát, an toàn, vệ sinh sạch  sẽ, vv. Nghĩa là, nhìn từ góc độ này, tập hàng hóa, không gian siêu thị, giá cả; nhân viên  và năng  lực  phục  vụ  của họ  là những  yếu  tố quan  trọng đem  lại giá  trị hay  giá trị cảm  nhận vượt trội cho khách hàng và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho siêu thị. 

19 Người sáng lập siêu thị đầu tiên trên thế giới tại Mỹ năm 1930.

63.2% 

60.4% 

47.3%  49.5% 

46.5%  43.6% 

0% 

10% 

20% 

30% 

40% 

50% 

60% 

70% 

80% 

Chất  lượng  đảm bảo 

Vệ sinh  sạch sẽ 

Thái độ  phục vụ 

Hàng hóa  đa dạng 

Tự chủ  mua sắm 

Vị trí tiện  lợi 

Hình 1.9: Lý do khách hàng đến siêu thị mua sắm  (Nguồn: Khảo sát của tác giả tháng 4/2010 ­  phụ lục 3)  1.4.1.3 Phương thức kinh doanh siêu thị là tự phục vụ 

Đây là một  trong những đặc trưng cơ bản của siêu thị để phân biệt  với các kênh  phân  phối  truyền  thống  và  sau  này  được  phát  triển  làm  phương  thức  kinh  doanh  trong  hầu hết các hình thức phân phối hiện đại. Nội dung của phương thức này là khách hàng  tự  chủ  trong  việc lựa  chọn hàng hóa,  cân nhắc  chất  lượng,  giá  cả  và đưa  ra quyết  định  mua sắm. Việc thanh toán tiền hàng được thực hiện bằng máy quét (Scanner) tự động tại  các quầy thanh toán khi hàng hóa được khách hàng chuyển đến trước khi ra khỏi siêu thị. 

Vì thế, so với hình thức phân phối truyền thống, phương thức tự phục vụ góp phần quan  trọng tạo ra giá trị, hay giá trị cảm nhận  vượt trội  của khách hàng và lợi thế cạnh tranh  cho siêu thị trên các phương diện: 

­ Tiết  kiệm thời  gian mặc  cả  cho  khách hàng,  nhưng mặt  khác lại  giảm thiểu  số  lượng nhân viên bán hàng, từ đó tiết kiệm được chi phí và cho phép siêu thị hạ thấp được  giá bán hàng hóa. 

­  Khách  hàng  không  bị  “chèo  kéo”  bởi  nhân  viên  bán  hàng  mà  ngược  lại  hoàn  toàn thoải mái và tự tin để sáng suốt đưa ra quyết định mua sắm theo ý chí của mình. Nói  cách khác, tự phục vụ mang đến cho khách hàng cảm nhận được tôn trọng và bản sắc cái  tôi được tự khẳng định. Đây cũng chính là đặc trưng nổi bật đánh dấu tính văn minh và  hiện đại của siêu thị so với thương mại truyền thống; là nhân tố đem đến sự thỏa mãn các  nhu cầu cấp cao (nhu cầu quan hệ, được tôn trọng và tự thể hiện) của khách hàng, vì thế,  sẽ góp phần tạo ra lợi thế cạnh tranh cho siêu thị về phương diện giá trị cảm xúc.

Tuy nhiên, đặc điểm này đặt ra yêu cầu cao đối với trưng bày hàng hóa và thiết kế  không  gian  bên  trong  siêu  thị phải  cho  phép  khách  hàng  có  thể  tiếp  diện  được  nhanh,  nhiều  loại  hàng hóa, đồng thời  gây được  ấn tượng  “bắt  mắt”  khách hàng; việc  ấn định  giá  cả  phải  phù  hợp  trên  cơ  sở  nắm  vững  thị  trường  và  hiểu  được  những  đòi  hỏi  của  khách hàng khi đến siêu thị. Hơn nữa, mặt trái của phương thức tự phục vụ là cơ hội để  khách  hàng  tiếp  xúc  và  tương  tác  với  nhân  viên  siêu  thị  rất  hạn  chế,  nên  xác  suất  để  khách hàng nhận được sự tư vấn và giải đáp những vướng mắc cũng như bày tỏ những ý  kiến đóng góp cho siêu thị là rất thấp. Điều này có thể dẫn đến làm giảm sự hài lòng của  khách hàng, đặc biệt  đối  với  một bộ phận dân cư  còn  thói quen  trả  giá  trong mua bán,  nhưng quan trọng hơn là siêu thị thiếu đi những thông tin phản hồi cần thiết để có những  chấn chỉnh phù hợp và kịp thời trong các hoạt động của siêu thị. Bởi thế, nhìn từ góc độ  này, sự hợp lý của không gian thiết kế bên trong siêu thị (đặc biệt là kỹ thuật bày trí hàng  hóa) và năng lực phục vụ của nhân viên  là điều kiện để tạo ra và duy trì  những lợi  thế  trên đây của siêu thị. Vì, chính những yếu tố này sẽ cho phép phát huy những ưu điểm và  giảm thiểu hạn chế của phương thức kinh doanh tự phục vụ. 

Một phần của tài liệu Nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các siêu thị tại Tp Hồ Chí Minh (Trang 50 - 53)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(202 trang)