GIẢI PHẪU BỆNH LÝ

Một phần của tài liệu CẤP CỨU NGOẠI KHOA TIÊU HÓA PHẦN 1 (Trang 61 - 64)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2. GIẢI PHẪU BỆNH LÝ

Thoát vị bẹn - đùi gặp nhiều và cùng có những đặc điểm chung, cùng nằm ở khu vực trước dưới của th à n h bụng trưốc bên, ran h giới giữa bụng và đùi.

Ong bẹn và ống đùi đều là th à n h p h ần của lỗ cơ lược được giới h ạ n giải phẫu bởi: phía trê n là cơ chéo trong và cơ ngang bụng, p hía ngoài là cơ th ắ t lưng chậu.

60

Khu vực này được dây chằng bẹn chia ra làm hai phần: p hần trê n là vùng bẹn có th ừ n g tin h chạy qua, p hần dưối là vùng đùi có bó mạch đùi chạy qua. Thoát vị bẹn - đùi thực chất là th o á t vị lỗ cơ lược, trong đó tuỳ theo tú i th o át vị chui ra bên trên hoặc dưối dây chằng bẹn mà ta gọi là th o át vị bẹn hay thoát vị đùi.

2.2. Các loại thoát vị bẹn

Theo th iêt đồ giải ph ẫu cắt ngang vùng bẹn (Hình 7.1) có th ể chia th o át vị bẹn th à n h 3 loại. Các quai ru ộ t chui qua lỗ bẹn, bị nghẹt có những đặc điểm khác n hau.

Hình 7.1. Thiết đồ ngang qua ống bẹn

A. Thoát bị chếch ngoài; B. Thoát vị trực tiếp; c. Thoát vị chếch trong.

2.1.1. Thoát vị bẹn chếch ngoài

Khi tạ n g chui qua h ố bẹn ngoài, ở ngoài động mạch thượng vị theo hướng chếch từ ngoài vào trong. Túi th o á t vị, nằm trong bao xơ của thừ ng tin h và theo th ừ n g tin h tiến dần xuông bìu. Loại th o á t vị này thường bị nghẹt.

2.1.2. Thoát vị bẹn trực tiếp

Hô" bẹn giữa là điểm yếu của th à n h bụng. P hía ngoài là động mạch thượng vị, p hía trong là động mạch rốn. Tạng chui qua hô' bẹn giữa nằm ngay dưới da.

Thường khôi th o á t vị nhỏ và ít khi bị nghẹt.

2.1.3. Thoát vị bẹn chếch trong

Tạng chui qua hô' bẹn trong, phía trong động mạch rốn. Loại này ít gặp và cũng ít khi bị n ghẹt do th à n h bụng vùng này dày và chắc.

61

2.3. Đặc điểm thoát vị đùi

Túi thoát vị đùi đi từ ngoài dải chậu mu ở trước, dây chằng Cooper ở sau và đi dưới cung đùi đê vào ông đùi.

Lỗ thoát vị đùi - chính là vòng đùi là một vòng xơ nhỏ r ấ t chắc do dây chằng G imbernat, dây chằng Cooper và cung đùi tạo nên dễ n ghẹt hơn th o á t vị bẹn.

Thoát vị đùi có thể kèm vối th o át vị bẹn trực tiếp, cùng x u ất p h át từ tam giác Scarpa, chỉ khác nhau là tú i th o át vị nằm trên hay dưới cung đùi.

2.4. Đặc điểm túi thoát vị

Túi thoát vị được hình th à n h khi tạng chui qua lỗ th o á t vị. Lỗ th o á t vị có vai trò chủ yếu trong nguyên nhân gây nghẹt. Lỗ th o át vị do các cơ, gân và dây chằng của th à n h bụng trước tạo nên. Lỗ th o át vị bé, chắc và dễ gây n g h ẹt hơn lỗ to, rộng.

Khi mổ qua da và các lóp nông ở trên, tới một tú i phồng, có th ể to hoặc nhỏ nhưng rấ t căng. Màu sắc thay đổi tuỳ theo thương tổn của các th à n h ph ần trong túi. Có thê là đỏ hồng hoặc đỏ sẫm hoặc tím đen. Thành tú i có khi mỏng, có khi dày lên do viêm nhiễm.

Trong tú i thường có dịch ít hoặc nhiều. Nếu được xử tr í sớm, dịch có màu vàng chanh, cố tú i th ắ t nghẹt gây ứ trễ lưu thông gây x u ất tiế t dịch (H ình 7.2).

Lúc đầu dịch màu trong, nếu muộn thì có màu hồng, khi ru ộ t đã hoại tử trở th àn h màu đen, thối.

Cũng có khi trong túi có rấ t ít hoặc không có nước, th à n h tú i d ính với tạng thoát vị nên khi rạch tú i phẩi cẩn th ậ n vì trong trường hợp này r ấ t dễ làm thương tổn tạng trong túi.

Hinh 7.2. Các thành phần của thoát vị 62

2.5. Tạng thoát vị

Nội dung trong bao th o á t vị: hầu h ết các trường hợp là một ruột non.

Thương tổn là do ngừng trệ tu ầ n hoàn. Lúc đầu là m áu tĩn h mạch không về được rồi m áu động mạch cũng không đến được. Thương tổn nặng hay nhẹ phụ thuộc vào bệnh n h ân đến muộn hay đến sớm, lỗ th o át vị hẹp hay rộng. Thương tổn n ặn g n h ấ t là ở cổ túi.

Diễn biên của quai ruột nghẹt: ứ máu và phù nề, ruột có m àụ hồng tím, th à n h dày. Sau khi cắt cổ tú i hoặc sau khi đắp h uyết th a n h nóng và phong bê novocain vào mạc treo m àu sắc trở lại như cũ và co bóp bình thường. Sau đó quai ru ộ t m ấ t vẻ trắ n g bóng bình thường, th à n h mỏng, m àu xám rõ n ét n h ấ t là ở nơi cổ túi.

M uộn hơn, quai ru ộ t bị hoại tử từng điểm hay từ ng đám lốn gây viêm m àng bụng toàn th ể hay tạo th à n h một ổ nhiễm trù n g lan rộng ở vùng th o á t vị. Mạc treo của quai ru ộ t ng h ẹt cũng bị phù nề, có khi bị nghẽn mạch gây nên những thương tổn ru ộ t không phục hồi, cho nên khi đán h giá thương tổn phải chú ý cả mạc treo ruột.

Có khi thương tổn không phải hoàn toàn cả một quai ruột mà chỉ ở một phần của th àn h ruột.

Thương tổn chỉ khu trú một chỗ nhưng lại chóng đưa đến hoại tử. Lưu thông ruột vẫn bình thường.

Cũng gặp vài trường hợp ruột bị nghẹt theo hình chữ w (hình 7. 3), có một quai bị nghẹt nằm trong 0 bụng. Nếu bệnh nhân đến muộn khi ruột đã hoại tử thì chắc chắn là viêm màng bụng toàn th ểử

Tình trạ n g ru ộ t trê n chỗ nghẹt, nếu bệnh nh ân đến sớm, ru ộ t chưa th ay đổi, nếu đến muộn th ì ruột trướng do ứ hơi và nước; muộn nữa th ì có th ể hoại tử vỡ.

ít gặp hơn có nh ữ n g trường hợp tạn g n g h ẹt là một đoạn ru ộ t già, vòi trứng, một p hần bàn g qu an g hoặc mạc nối lớn. Diễn biến chậm hơn và thương tổn cũng nhẹ.

Một phần của tài liệu CẤP CỨU NGOẠI KHOA TIÊU HÓA PHẦN 1 (Trang 61 - 64)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(110 trang)