căn cứ khoản 18 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2020 Trong chất thải có thể phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau: - Dựa trên các dạng tồn tại: + Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn
Trang 1HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ TỐ UYÊN
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: LUẬT MÔI TRƯỜNG
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021
Trang 2HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: LUẬT MÔI TRƯỜNG
Sinh viên: Phạm Thị Tố Uyên
Mã số sinh viên: 192030103
Lớp: K4B-Luật
TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2021
Trang 3PHIẾU CHẤM ĐIỂM Giảng viên chấm vòng 1 Giảng viên chấm vòng 2
Trang 4CÂU HỎI
Đề số 01 Câu 1 (5.0 điểm)
Ta có thể nhận biết chất thải qua những dấu hiệu pháp lý nào? Nêu thuận lợi và khó khăn trong quá trình quản lý chất thải tại Việt Nam
Câu 2 (5.0 điểm)
Những nhận định sau đúng hay sai? Giải thích và bình luận theo quy định PL hiện hành:
1 Phí bảo vệ môi trường là loại công cụ được sử dụng để giảm thiểu chất thải
2 Bảo vệ môi trường là quyền của mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân
3 Nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất thải từ nước ngoài chỉ có thể được thực hiện khi có sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ
Trang 51
BÀI LÀM CÂU 1:
I Dấu hiệu pháp lý nhận biết chất thải:
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (căn cứ khoản 18 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2020)
Trong chất thải có thể phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:
- Dựa trên các dạng tồn tại:
+ Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (căn cứ khoản 19 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2020)
+ Chất thải lỏng (nước thải): là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (căn cứ khoản 5 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP)
+ Khí thải công nghiệp: là chất thải tồn tại ở trạng thái khí hoặc hơi phát sinh
từ hoạt động sản xuất, dịch vụ công nghiệp (căn cứ khoản 8 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP)
- Dựa trên lĩnh vực phát sinh:
+ Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người (căn cứ khoản 3 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân được phân loại theo nguyên tắc: Chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; Chất thải thực phẩm; Chất thải rắn sinh hoạt khác (khoản 1 Điều 75 Luật bảo vệ môi trường 2020)
+ Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (căn cứ khoản 4 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP) Chất thải rắn công nghiệp thông thường được phân loại thành các nhóm: Nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường được tái sử dụng, tái chế làm nguyên liệu sản xuất; Nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật được sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng và
Trang 62
san lấp mặt bằng; Nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý (khoản
1 Điều 81 Luật bảo vệ môi trường 2020)
- Dựa trên mức độ độc hại:
+ Chất thải thông thường là chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại (căn cứ khoản 2 Điều 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP)
+ Chất thải nguy hại: là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (khoản
20 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2020)
II Thuận lợi và khó khăn trong quá trình quản lý chất thải tại Việt Nam
1 Thuận lợi trong quá trình quản lý chất thải tại Việt Nam:
Thứ nhất, Việt Nam đã nhận thức được đi cùng với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, các ngành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được mở rộng
và phát triển nhanh chóng, một phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác lại tạo ra một số lượng lớn các loại chất thải Vì vậy, bảo
vệ môi trường trở thành vấn đề nóng bỏng, và cấp bách trong đó vấn đề quản lý chất thải vô cùng quan trọng Quản lý chất thải là tập hợp các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý và tiêu hủy chất thải nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn chế những tác động xấu do chất thải gây ra tới môi trường và sức khỏe con người, ngoài ra còn tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu sản xuất Vấn đề này đòi hỏi các nhà lãnh đạo nhà nước phải sớm tìm ra con đường đúng đắn nhất để giải quyết Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm và đề ra nhiều biện pháp khác nhau để giải quyết vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và vấn đề quản lý tốt chất thải nói riêng
Thứ hai, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường dần được hoàn thiện, có
nhiều bước phát triển mới Công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý chất thải được Đảng và Nhà nước rất quan tâm thể hiện ở các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường năm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật
từ Hiến pháp, Luật đến các văn bản của các Bộ, ngành, các văn bản của chính quyền địa phương Hiến pháp 2013 được ban hành có rất nhiều nội dung liên quan
Trang 73
đến bảo vệ môi trường và quy định nghĩa vụ bảo vệ môi trường cũng là một nghĩa
vụ cơ bản của mọi người, không phân biệt tôn giáo, quốc tịch, dòng máu
Mới nhất, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2022 và thay thế Luật Bảo
vệ môi trường năm 2014 Với mục tiêu xuyên suốt, trọng tâm của Luật là bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân và thay đổi phương thức quản lý, cắt giảm thủ tục hành chính; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường Luật bảo vệ môi trường 2020 đã quy định về việc thúc đẩy phân loại rác thải tại nguồn; định hướng cách thức quản lý, ứng xử với chất thải, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam Luật bảo vệ môi trường 2020 quy định riêng Chương VI
về Quản lý chất thải và kiểm soát các chất ô nhiễm khác
Bên cạnh Luật bảo vệ môi trường, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thi hành, kịp thời phục vụ công tác quản lý Có thể kể đến các văn bản như: Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu; Thông tư 36/2015/TT-BTNMT gày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
về quản lý chất thải nguy hại, Nghị định 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường,…
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tham gia vào một số Công ước quốc tế về quản lý chất thải như: Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới chất thải nguy hại và việc tiêu huỷ chúng kí ngày 13 tháng 3 năm 1995; Công ước Marpol
về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra ký ngày 29/8/1991,… Việc gia nhập các công ước này là tiền đề quan trọng cho việc hội nhập của pháp luật Việt Nam với những tiêu chuẩn và quy phạm của pháp luật quốc tế
Thứ ba, về cơ cấu tổ chức, nước ta đã hình thành đồng bộ hệ thống quản lý
nhà nước về môi trường từ Trung ương tới địa phương Nhằm tăng cường công
Trang 84
tác quản lý chất thải, từng đơn vị địa phương đã ban hành nhiều văn bản, đề án giao chỉ tiêu và nhiệm vụ cụ thể đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành và điều kiện thực tế của địa phương để triển khai công tác quản lý chất thải và khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý chất thải Cơ quan có thẩm quyền thường xuyên rà soát, kiểm tra đánh giá công tác quản lý chất thải tại các địa phương và xử lý các trường hợp vi phạm Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền giao cho các cơ quan liên quan tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân trong giảm thiểu, quản lý chất thải; định hướng, hướng dẫn các cơ quan thông tin, báo chí và hệ thống thông tin cơ sở tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng đồng
Thứ tư, Nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất cho công tác quản lý
chất thải, nhiều chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong đầu tư và xây dựng
cơ sở sản xuất, các công nghệ xử lý chất thải cũng là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp quản lý lượng chất thải tốt hơn Nước ta đã đầu tư, đưa vào vận hành các nhà máy xử lý rác thải theo hướng công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường Xây dựng nhiều nhà máy xử lý, tái chế chất thải Đồng thời, xây dựng, ban hành các cơ chế chính sách khuyến khích thu hút đầu tư các dự án xử lý rác thải có công nghệ tiên tiến, hiện đại; đơn giản hóa các thủ tục chuẩn bị đầu tư, xây dựng và vận hành cơ sở xử lý chất thải Các chính sách về thuế và phí bảo vệ môi trường đã góp phần tăng tính tự giác của mỗi cá nhân tập thể trong việc bảo vệ môi trường
Thứ năm, nguồn nhân lực trong công tác quản lý môi trường có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ pháp lý về quản lý chất thải ngày càng được chú trọng đào tạo Nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu về pháp luật, môi trường, quản
lý chất thải thông qua các lớp đào tạo chính quy, tại chức, các cuộc tập huấn chuyên môn, các hội thảo khoa học, Ở Luật bảo vệ môi trường 2020 cũng nêu
rõ, Nhà nước ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực bảo vệ môi trường; đầu
tư đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý, người làm công tác kỹ thuật về bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia giáo dục về bảo vệ môi trường và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực về bảo vệ môi trường
Trang 95
Thứ sáu, ý thức của cộng đồng và doanh nghiệp về bảo vệ môi trường cũng
càng tăng lên thông qua các công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục bảo vệ môi trường qua nhiều hình thức truyền thông đi đôi với xử lý các hành vi vi phạm Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ môi trường thông qua các phong trào đã phát huy hiệu quả (Ngày chủ nhật xanh, các mô hình về tiết kiệm sinh thái, xử lý chất thải, cải tạo cảnh quan )
Thứ bảy, quy định về xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải được
hình thành để các quy định pháp luật về quản lý chất thải được đưa vào áp dụng triệt để trên thực tế và thực hiện toàn diện trên phạm vi cả nước Việc thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm cũng là công cụ hữu ích hạn chế những hoạt động làm ảnh hưởng đến môi trường
2 Khó khăn trong quá trình quản lý chất thải tại Việt Nam:
Thứ nhất, hệ thống pháp luật liên quan đến chất thải nói chung và quản lý
chất thải nói riêng vẫn còn những vướng mắc, hạn chế như một số quy định của pháp luật liên quan đến quản lý chất thải còn chung chung, trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với chủ thể vi phạm còn thấp, dẫn đến tình hình vi phạm về quản lý chất thải gia tăng, một số quy định của Luật vẫn ở mức khung, chưa có quy định cụ thể nên khó thực hiện trong thực tế Khuôn khổ thể chế và quy định về thu gom,
xử lý, chôn lấp chất thải và quy hoạch cơ sở hạ tầng chất thải hiện không phù hợp cho hệ thống xử lý chất thải tốn kém hơn
Thứ hai, việc phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành trong công tác xử lý,
giải quyết và thực thi quản lý chất thải còn mang nặng tính hình thức, chưa thực
sự hiệu quả Việc giao thoa, chồng chéo về chức năng quản lý Nhà nước tại Trung ương trong lĩnh vực chất thải đã gây khó khăn trong công tác quản lý
Hơn nữa, việc không thống nhất đối với các cơ quan chuyên môn giúp việc UBND cấp tỉnh trong lĩnh vực quản lý chất thải ở địa phương cũng làm cho công tác quản
lý không thống nhất, bất cập Việc phân công chức năng nhiệm vụ về quản lý chất thải tại địa phương còn chưa rõ ràng, công tác phối hợp thực hiện quản lý Nhà nước về quản lý chất thải giữa Sở Xây dựng, Sở Y tế và Sở Tài nguyên & Môi trường, các cơ quan có liên quan khác đôi lúc còn chưa chặt chẽ và kịp thời Công
Trang 106
tác lập và thực hiện quy hoạch về quản lý chất thải một số tỉnh, thành phố chưa hợp lý, chưa phù hợp với điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; một số quy hoạch đã lập từ lâu, lạc hậu so với tình hình thực tế nhưng chưa được điều chỉnh kịp thời Sự vào cuộc của chính quyền địa phương chưa thực sự quyết liệt, hiệu quả thực hiện các quy định trong việc quản lý chất thải của tỉnh chưa cao, nên các địa phương vẫn đang thụ động trong việc quản lý, xử
lý
Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý chất thải mặc dù đã được
quan tâm, triển khai thường xuyên nhưng vẫn còn xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và chồng chéo khi xử lý vấn đề giữa các cơ quan, ban ngành Hoạt động thanh tra, kiểm tra, phát hiện ra hành vi vi phạm quy định của pháp luật liên quan đến chất thải nguy hại còn yếu kém, hoặc có phát hiện ra hành vi vi phạm nhưng việc xử phạt còn quá nhẹ so với hành vi vi phạm, hoặc xử lý vi phạm không đáp ứng yếu tố kịp thời của thực tế cần xử lý ngay,… dẫn đến thực tế không mang tính phòng ngừa, tính răn đe đối với các cơ sở thu gom, lưu giữ, vận chuyển và
xử lý chất thải
Thứ tư, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý chất thải ở Việt Nam vẫn còn
thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt ở cấp xã/phường đội ngũ cán bộ làm công tác quản
lý môi trường ở cấp này hầu như vẫn kiêm nhiệm là cán bộ địa chính, không có chuyên môn về môi trường Ở địa phương, chưa vận dụng phương pháp quản lý chất thải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương Công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực về quản lý chất thải còn nhiều bất cập; hệ thống các cơ sở đào tạo chưa có sự liên thông, liên kết và quy hoạch mạng lưới; đội ngũ giảng dạy còn thiếu về số lượng; cơ sở vật chất, điều kiện giảng dạy còn khó khăn
Thứ năm, nhận thức của người dân trong thu gom, phân loại, vận chuyển
và xử lý chất còn nhiều hạn chế, chưa tích cực tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải, chưa đóng phí vệ sinh môi trường đầy đủ Ý thức của một số doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý chất thải chưa cao, gây ô nhiễm môi trường trong quá trình vận chuyển, xử lý chất thải Ngoài việc đổ rác thải bừa bãi,
Trang 117
việc xử lý chất thải thu gom tại các địa điểm xử lý chất thải chính thức không phù hợp với các tiêu chuẩn thiết kế quốc tế và vận hành kém hiệu quả Việc quản lý chất thải ở Việt Nam hiện nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" với mức phí rất thấp đánh vào các hộ gia đình và các đơn vị phát thải khác, và ít nhất 80% chi phí do Chính phủ trợ cấp Hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải
ở nhiều nơi còn mang tính chất cộng đồng, nên chưa thúc đẩy được tính chuyên nghiệp của các tổ dịch vụ, hợp tác xã, công ty dịch vụ môi trường… dẫn đến vẫn còn trường hợp vi phạm về quản lý chất thải mà thanh tra kiểm tra chưa kiểm soát được Công tác tuyên truyền, giáo dục nội dung của pháp luật quản lý chất thải chưa thực sự tích cực Chưa sử dụng triệt để thông tin đại chúng như: Báo chí, truyền hình, băng rôn, khẩu hiệu để đưa các thông tin về chất thải vào đời sống quần chúng, giáo dục ý thức của cộng đồng trong việc thực hiện pháp luật quản
lý chất thải
Thứ sáu, cơ sở hạ tầng, kinh phí đầu tư việc xử lý chất thải còn hạn chế,
chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường trong xử lý chất thải Quản lý chất thải
ở Việt Nam có đặc điểm là khá hạn chế trong việc thu gom, xử lý và tiêu huỷ đối với hầu như tất cả các loại chất thải Đối với các loại chất thải khác nhau, việc quản lý và hoạt động gắn liền với hạn chế trong giám sát, và thiếu vốn để đầu tư
và vận hành.Với thực tế thiếu bãi chôn lấp hợp vệ sinh, khu vực không chính thức tham gia vào quá trình thu gom rác tái chế và việc xả rác ở nhiều nơi, và việc thiếu
xử lý thích hợp hoặc xử lý tiên tiến rất hạn chế, hệ thống quản lý chất thải cơ bản đang không phù hợp với nhu cầu của một quốc gia đang phát triển kinh tế và đô thị hóa Nguồn kinh phí đầu quản lý chất thải chủ yếu từ ngân sách Nhà nước Việc huy động nguồn lực từ các doanh nghiệp ngoài Nhà nước để đầu tư xây dựng khu xử lý, nhà máy xử lý chất thải còn gặp nhiều khó khăn, mức thu phí vệ sinh môi trường còn thấp nên chưa khuyến khích được doanh nghiệp tham gia đầu tư
3 Kết luận:
Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ, những vấn đề
về môi trường, trong đó có quản lý chất thải đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt để đối phó ngay một cách nghiêm túc, kịp thời trước khi vấn đề trở nên trầm trọng Theo