1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LSKT “Học thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson và liên hệ thực tiễn”

16 226 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 138,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận điểm về sự kết hợp linh hoạt cả hai bản tay trong việc điều hành kinh tế của P.A Samuelson có nhiều điểm tương đồng với quan điểm của Việt Nam trong việc phát triễn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước. Do đó, nghiên cứu các học thuyết kinh tế nói chung và lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” nói riêng có ý nghĩa quan trọng đổi với việc phát triển nền kinh tế ở nước ta. Xuất phát từ thực tiễn, em lựa chọn để tài “Lý thuyết vể nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson và liên hệ thực tiễn với Việt Nam” làm tiểu luận môn lịch sử các học thuyết kinh tế.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ TUYÊN TRUYỀN

KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

“Học thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson và liên hệ thực

tiễn”

Họ và tên: Nguyễn Thu Thủy Lớp: kinh tế và quản lý CLC K40

MSSV: 2055280039 Tên giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị khuyên.

Trang 2

Hà Nội năm 2021 – 2022

MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài:

Thế giới đang bước vào thời đại kinh tế mới, kinh tế thị trưởng phải có sự điều tiết thích hợp của nhà nước Trong đó, xã yêu cầu cao hơn về tăng cường vai trò của luật pháp, chế tài, điều tiết của nhà nước, kiếm soát các thể chế thị trưởng, thật chặt cho vay tin dụng, thiết lập hệ thống thông tin công khai, minh bạch Tư duy mới về bản tay nhà nước đang và sẽ ngày cảng trở nên rõ nét, bao quát và chi phối toàn bộ các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh

tế - xã hội I quốc gia và quốc tế Tuy nhiên, “bàn tay hữu hình” cũng có nhiều khuyết tật của nó, giáo trình phụ có những nhận định sai lầm và đưa ra những quyết định can thiệp trải với sự vận động khách quan của thị trường Cho nên phái kết hợp cả hai mặt “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình” Từ những năm 60-70 của thế kỷ XX, P.A Samuelson đã đề ra lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” dựa trên học thuyết của J.M Keynes về vai trò tự điều chinh của nền kinh tế và học thuyết của bải Tân cổ điển Lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” với luận điểm

là nền kinh tế thị trưởng nhưng có sự quản lý của nhà nước, nền kinh tế được vận hành bởi hai bàn tay: thị trưởng và nhà nước đã đạt được tiếng vang trong suốt những thập niên cuối của thế kỷý XX cho đến nay Luận điểm về sự kết hợp linh hoạt cả hai bản tay trong việc điều hành kinh tế của P.A Samuelson có nhiều điểm tương đồng với quan điểm của Việt Nam trong việc phát triễn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước Do

đó, nghiên cứu các học thuyết kinh tế nói chung và lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” nói riêng có ý nghĩa quan trọng đổi với việc phát triển nền kinh tế ở nước

ta Xuất phát từ thực tiễn, em lựa chọn để tài “Lý thuyết vể nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson và liên hệ thực tiễn với Việt Nam” làm tiểu luận môn lịch sử các học thuyết kinh tế

Qua đó, đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề: thế nào là “nền kinh tế hỗn hợp”: thực trạng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nghĩa và ý nghĩa của việc nghiên cứu lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” đối với Việt Nam?

Do trình độ và thời gian có hạn, bài viết của em khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chể Vì vậy, Em kính mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Bối cảnh ra đời học thuyết

Trong quả trình phê phán học thuyết Keynes, những nhà kinh tế học “Tân

cổ điển”, không thể phủ nhận vai trò ngày cảng tăng của nhà nước tư bản trong điều chinh kinh tế, mặc dù họ chỉ thừa nhận sự can thiệp đó trong phạm vi hạn chế, Đồng thời, những người “Keynes mới”, “Keynes chính thống” cũng nhận thấy những khuyết điểm trong học thuyết Keynes về vai trò của cơ chế tự điều chính trong sự phát triển kinh tế Vì vậy, trong những năm 60-70 của thế kỷ XX, diễn ra sự xich lại giữa hai trưởng phái “Keynes chính thống” và “Tân cổ điển” hình thành nên “kinh tế học của trưởng phái chính hiện đại”

2 Những vấn đề liên quan đến để tài

Đặc điểm cơ bản về phương pháp luận của trưởng phái chính hiện đại là: trên cơ sở kết hợp các lý thuyết của trường phái “Keynes mới” và trường phải

“Tân cổ điển” Họ sử dụng một cách tổng hợp các quan điểm kinh tể của các xu hướng, các trường phải kinh tế học để đưa ra các lý thuyết kinh tế của mình, nhằm làm cơ sở lý thuyết cho hoạt động của doanh nghiệp và chinh sách kinh tế của Nhà nước tư bản Sự thế hiện rõ ràng nhất của đặc điểm này được trình bảy trong cuốn “Kinh tế học” của Paul, A Samuelson Ông là người sáng lập ra khoa kinh tế học của trường đại học kỹ thuật Massachesetts dành cho những người đã tốt nghiệp đại học Chicago và Harvard Ông là cố vấn lý thuyết cho ngân hàng dự trữ liên bang, ngân khổ Hoa Kỳ và nhiều tổ chức tư nhân Năm

1970, ông được nhận giải thưởng Nobal về kinh tế Ông là tác giả cuốn “Kinh tế học” xuất bản lần đầu tiên năm 1948 tại New York (đến năm 1985 được tái bàn lần thứ 12, năm 1989 được dịch ra tiếng Việt) Đặc điểm nổi bật trong “Kinh tế học” là đã vận dụng một cách tống hợp phương pháp và nội dung lý thuyết của các trường phải trong lịch sử để phản tích những vấn để của nền kinh tế hàng hoá phát triển Chịu ảnh hưởng của tư tưởng “giới hạn”., ông cho rằng: việc tổ chức nền kinh tế phải tuần theo các quy luật khản hiếm, phải lựa chọn các khả năng sản xuất, phải tính đến quy luật năng suất giảm dần và chi phí tương đối ngày cảng tăng Ông sử dụng cả phương pháp phân tích vĩ mô và phân tích vi

mô để trình bảy các vấn để nghiên cứu

Trang 4

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VỀ NỀN KINH TẾ HỎN HỢP CỦA TRƯỜNG PHÁI CHÍNH HIỆN ĐẠI Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN

CỨU LÝ THUYẾT NÀY ĐỐI VỚI VIỆT NAM

1 Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp của trường phái chính hiện đại:

Đây là tư tưởng trung tâm của kinh tế học trưởng phái chính hiện đại Nó được trình bảy rất rõ trong “Kinh tế học” của P.A Samuelson Mầm mống của quan điểm “Kinh tế hỗn hợp” có từ cuối những năm của thể kỷ XIX Sau thời

kỳ chiến tranh, nó được các nhà kinh tế học Mỹ như A Hasen, tiếp tục nghiên cứu, Tư tưởng này được phát triển trong “Kinh tế học” của P A Samuelson Nếu các nhà kinh tế học phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với “bàn tay vô hình” và “cân bằng tổng quát”, trường phải Keynes và Keynes mới say sưa với

“bản tay nhà nước”, thì P A Samuelson chủ trương phân tích kinh tế phải dựa vào cả “hai bản tay” là cơ chế thị trường và nhà nước Ông cho rằng, “điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bản tay”

1.1 Cơ chế thị trường:

Theo P.A Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế Trong đó, cả nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lần nhau qua thị trựởng để xác định ba vấn để trung tâm của tổ chức kinh tế là: sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?

Cơ chế thị trưởng không phải là sư hỗn độn mà là trật tư kinh tế “Một nền kinh tế thị trường là một cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả thị trưởng Nó là một phương tiện giáo tiếp để tập hợp tri thửc và hành động của hàng triệu cá nhân khác mà máy tính lớn nhất ngày nay không thể giải nổi Không ai thiết kế ra nó

Nó tự nhiên và cũng như xã hội loài người nó thay đổi”

Thị trưởng là một quá trình mà trong đó, người mua và người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hång hoá

Như vậy, nói đến thị trường và cơ chế thị trường là phải nói tới hàng hoả, người bán và người mua, giá cả hàng hoá Hàng hoá bao gồm hàng tiêu dùng Dịch vụ và vếu tổ sản xuất như lao động, đất đai, tư bản Từ đó, hình thành nên thị trường hàng tiêu dùng và thị trường các yếu tố sản xuất, Trong hệ thống thị

Trang 5

trường, mỗi hàng hoá, mỗi loại địch vụ đều có giá cả của nó Giá cả mang lại thu nhập cho hàng hoá mang đi bản Và mỗi người lại dùng thu nhập mua cái mình cần Nếu một loại hàng hóa nào đó có nhiều người mua, thi người bán sẽ tăng giá lên để phản phối một lượng cung hạn chể Giá lên cao sẽ thúc đẩy người sản xuất làm ra nhiều hàng hoá hơn Khi có nhiều hàng hoá, người bản muốn bán nhanh để giải quyết hàng của minh nên hạ giá xuống Khi giá hạ, số người mua hàng đó tăng lên Do đó, người bán lại tăng giá lên Như vậy, trong

cơ chế thị trường có một hệ thống tự tạo ra sự cân đối giữa giá cả và sản xuất

“Giá cả là phương tiện tín hiệu của xã hội” Nó chỉ cho người ta biết sản xuất cái gi và sản xuất thể nào và cũng thông qua đó nó thực hiện phân phối cho ai

Nói đến cơ chể thị trường là phải nói tới cung - cầu hàng hoá, khải quát của hai lực lượng người bán và người mua trên thị trưởng Sự biến động của giá

cả đã làm cho trạng thái cân bằng cung - cầu thường xuyên biến đổi và đó cũng chính là nội dung quy luật cung cầu hàng hoả

Nền kinh tế thị trưởng chịu điều khiển của hai ông vua: người tiêu dùng

và kỹ thuật Người tiêu dùng thống trị thị trưởng, vì họ là người bỏ tiền ra đề mua hàng hoá do các doanh nghiệp sản xuất ra Hay như ông nói: người tiêu dùng bỏ phiếu bằng đô la, họ chọn điểm nằm trên ranh giới khả năng sản xuất Song kỹ thuật hạn chế người tiêu dùng vì nền sản xuất không thể vượt giới hạn khả năng sản xuất Do vậy, lá phiếu bằng đô la của người tiêu dùng mua, không thể quyết định vấn đề phải sản xuất hàng gì Như vậy, nhu cầu phải chịu theo cung ứng của người kinh doanh Vì người sản xuất phải định giá hàng của minh theo chi phi sán xuất nên họ sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực nhiều lợi nhuận hơn Như vậy, thị trường chịu sự chi phổi của cả chi phí kinh doanh, lần các quyết định cung và cầu của người tiêu dùng quy định, ở đây, thị trưởng đóng vai trò môi giới trung gian hoá giải giữa sở thích người tiêu dùng với hạn chế về kỹ thuật

Trong nền kinh tế thị trưởng, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt động của người kinh doanh Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến với khu vực sản xuất hàng hoá mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực có ít người tiêu dùng Lợi nhuận cần đưa các nhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất hiệu quả nhất Như vậy, hệ thống thị trưởng luôn phải dùng lãi và lỗ để quyết định ba vấn đề: cải gì, thế nào và cho ai

Kinh tế thị trưởng phải được hoạt động trong môi trưởng cạnh tranh do các quy luật kinh tế khách quan chi phối Trong kinh tế học, Samuelson vận dụng nguyên lý "bản tay vô hình" của A Smith và nguyên lý "cân bằng tổng quát" của Leon Walras để phân tích môi trường hoạt động của kinh tế thị

trường Để phân tích cạnh tranh thị trưởng, ông đã vận dụng lý thuyết chi phí

Trang 6

bất biển của John Maurice Clark, lý thuyết ba nhân tổ sản xuất của J.B Say, J.S Mill, lý thuyết hiệu quả của Pareto nhằm để ra các chiến lược thị trưởng, bảo đảm cho các tổ chức độc quyền thu được nhiều lợi nhuận nhất

Nghiên cứu sự hoạt động của cơ chế thị trưởng, Samuelson cũng chỉ rõ: bàn tay vô hình đôi khi cũng đưa nền kinh tế tới những sai lầm Đỏ chinh là những khuyết tật của hệ thống kinh tế thị trưởng Những khuyết tật này có thể là

do tác động bên ngoài gây nên, như ô nhiễm môi trưởng mà doanh nghiệp không phải trả giá cho sự hủy hoại đó; hoặc là những thất bại thị trường do tình trạng độc quyền phá hoại cơ chế tự do cạnh tranh: hoặc là các tệ nạn như khủng hoảng, thất nghiệp Và cuối cùng là sự phân phối thu nhập bắt bình đẳng do hệ thống thị trường mang lại Đế đối phố với những khuyết tật của cơ chế thị

trường, các nền kinh tế hiện đại phối hợp giữa "bản tay vô hình" với "bản tay hữu hình" như thuế khoá, chi tiêu và luật lệ của chính phủ

1.2 Lí thuyết thất nghiệp:

1.2.1 Ảnh hưởng của thất nghiệp:

Hậu quả đau đớn nhất của suy thoái là thất nghiệp tăng lên Thất nghiệp cao, vừa là vấn đề kinh tế vừa là vấn đề xã hội Là vấn đề kinh tế, nó là sự lãng phí những nguồn lực quí báu Là vấn đề xã hội, nó là căn nguyên của những thiệt thòi to lớn vì công nhân thất nghiệp phải vật lộn với nguồn thu nhập ngày càng eo hẹp Tác động kinh tế

Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, trên thực tế, nền kinh tế sẽ phải từ bỏ

những hàng hóa dịch vụ mà những người thất nghiệp đáng lẽ sản xuất ra Tác động xã hội.Thất nghiệp gây ra những thiệt hại về người và tâm lý xã hội nặng

nề Những nghiên cứu về y tế cộng đồng chỉ ra rằng, thất nghiệp dẫn đến sự suy sụp sức khoẻ cả về thể chất lẫn tinh thần: bệnh tim tăng cao hơn, nghiện rượu và

tự sát

1.2.2 Các loại thất nghiệp:

Thất nghiệp là những người không có việc làm, đang chờ để được đi làm hoặc đang đi tìm việc làm Khi phân loại cơ cấu thị trường lao động, các nhà kinh tế xác định có ba loại thất nghiệp khác nhau: thất nghiệp cơ học; thất

nghiệp cơ cấu và thất nghiệp chu kỳ Thất nghiệp cơ học xuất hiện do sự di chuyển không ngừng của mọi người giữa các vùng, giữa các công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc đời

Trang 7

Thất nghiệp cơ cấu là sự bất cập giữa cung và cầu về lao động Sự bất cập

đó có thể xảy ra do cầu về một loại lao động nào đó tăng lên trong khi cầu một loại khác giảm xuống, còn cung không điều chỉnh theo một cách nhanh chóng Thất nghiệp chu kỳ tồn tại khi nhu cầu chung về lao động thấp Khi tổng chi tiêu và sản lượng giảm, thất nghiệp tăng ở hầu khắp mọi

Thất ghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện

Thất nghiệp tự nguyện là tình trạng thất nghiệp mà ở đó công nhân không

đi làm ở mức lương thị trường

Thất nghiệp không tự nguyện là những người đang muốn làm việc với mức lương hiện tại trên thị trường nhưng không tìm được việc làm, có nghĩa họ

là những người đủ tiêu chuẩn muốn làm việc ở mức lương phổ biến nhưng không thể tìm được việc làm

Thất nghiệp không tự nguyện diễn ra do tiền lương không linh hoạt khi

có những biến động kinh tế lớn Tính không linh hoạt tăng lên một phần do chi phí của việc quản lý hệ thống tiền lương Những chi phí này có thể thấy trong quãng thời gian dài của những hợp đồng của nghiệp đoàn –thường là 3 năm Trong những thỏa thuận nghiệp đoàn, tiền công và lương tháng nói chung được quy định không quá một lần một năm

1.2.3 Tỷ lệ thất nghiệp:

Tỷ lệ thất nghiệp là số người thất nghiệp trên tổng lực lượng lao động

(tính theo tỷ lệ %)

Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên biến đổi cùng chiều với khủng hoảng và mức

độ lạm phát trong nền kinh tế

+Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên phản ánh mức lạm phát do giá cả và tiền lương gây ra Do đó trong nền kinh tế thị trường hiện đại nếu ngăn chặn được mức lạm phát cao thì tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên sẽ ở mức thấp

+Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên luôn luôn lớn hơn 0 Vì trong một quốc gia các hoạt động kinh tế như thị hiếu tài năng đa dạng, mức cung cầu về số loại hàng hóa, dịch vụ thường xuyên thay đổi, tất yếu có thất nghiệp tạm thời và cơ cấu

+Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có xu hướng ngày càng tăng Nguyên nhân của sự gia tăng là tăng thêm số thanh thiếu niên, người thiểu số, phụ nữ vào lực lượng lao động; tác động của chính sách (như trợ cấp bảo hiểm) làm cho công nhân thất nghiệp không tích cực tìm việc làm; do thay đổi cơ cấu sản xuất

Trang 8

 Để giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cần cải thiện dịch vụ thị trường lao động, mở các lớp đào tạo, loại bỏ những trở ngại về chính sách của chính phủ; tạo ra việc làm công cộng

1.3 Lý thuyết lạm phát:

1.3.1 Bản chất lạm phát:

Lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá chung

Tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ thay đổi của mức giá chung

Mức giá (năm t)- mức giá (năm t-1)

Tỷ lệ lạm phát(năm t) = _x 100

Mức giá (năm t-1)

Lạm phát bao gồm: lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã và siêu lạm phát +Lạm phát vừa phải xảy ra khi giá cả tăng chậm, là lạm phát hàng năm một chữ số

+Lạm phát phi mã là lạm phát trong phạm vi hai hoặc 3 chữ số trong một năm Siêu lạm phát diễn ra khi các nhà máy in tuôn ra tiền và giá cả bắt đầu tăng lên gấp nhiều lần mỗi tháng

1.3.2 Tác động của lạm phát:

Lạm phát tác động đến nền kinh tế bằng cách phân phối lại thu nhập và của cải, và bằng cách làm giảm tính hiệu quả kinh tế

• Tác động đến phân phối lại thu nhập và của cải xảy ra thông qua ảnh hưởng của nó đối với giá trị thực tế trên của cải của mọi người

Lạm phát không dự đoán được thường phân phối lại của cải từ những người chủ nợ sang con nợ, giúp đỡ người đi vay làm thiệt hại cho người cho vay

• Những tác động đến tính hiệu quả kinh tế:

Trang 9

Lạm phát làm sai lệch tín hiệu giá cả, sai lệch việc sử dụng đồng tiền, thuế suất và lãi suất thực tế Mọi người đi đến ngân hàng nhiều hơn, thuế có thể leo khung và thu nhập tính được có thể bị bóp méo Khi các ngân hàng trung ương có những biện pháp hạ thấp lạm phát, chi phí thực tế của những biện pháp này về phương diện việc làm và sản lượng có thể rất đau xót

1.3.3 Nguồn gốc của lạm phát:

Lạm phát có xu hướng dừng lại ở một mức từ năm này qua năm khác gọi

là lạm phát đã tính toán trước và được đưa vào các hợp đồng lao động và những thỏa thuận trước

Tỷ lệ lạm phát là một cân bằng ngắn hạn và tồn tại cho đến khi nền kinh

tế bị chấn động

Những chấn động chính là cầu kéo và chi phí đẩy

Lạm phát do cầu kéo diễn ra khi nền kinh tế tới hoặc vượt qua mức sản xuất tiềm năng, việc tăng mức cầu lúc này dẫn tới lạm phát Trong trường hợp này, với mức cung hạn chế về sản lượng thực tế, tăng cầu làm tăng giá, dẫn đến tăng lạm phát

Khi chi phí đẩy giá lên ngay cả trong thời kỳ tài nguyên không được sử dụng hết, khủng hoảng diễn ra, gọi là lạm phát do chi phí đẩy Đây là hiện tượng mới của nền kinh tế công nghiệp hiện đại Nguyên nhân là: Tăng tiền lương, làm tăng chi phí sản xuất, đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng giá Tăng giá dầu lửa

và các sản phẩm sơ khai

1.3.4 Những biện pháp kiểm soát lạm phát:

+ Chấp nhận mức lạm phát và suy thoái kinh tế Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ trao đổi Để giảm lạm phát phải tăng thất nghiệp và ngược lại

+ Dùng “chỉ số hóa” và những kỹ thuật thích ứng Chỉ số hóa là một cơ chế, theo đó, người ta miễn dịch một phần hoặc hoàn toàn thay đổi ở trong mức giá nói chung

Trang 10

+ Kiểm soát giá cả và tiền lương hay hướng dẫn tự nguyện

+ Dựa vào kỷ luật của thị trường cạnh tranh để hạn chế việc tăng giá cả

và tiền lương

+ Sử dụng chính sách thu nhập dựa trên thuế, như trợ cấp cho những người mà tiền lương hoặc giá cả tăng chậm, đánh thuế vào những người làm tăng lạm phát

1.4 Vai trò của chính phủ trong kinh tế thị trường

Chính phủ có 4 chức năng chính trong nền kinh tế thị trưởng

Chức năng thứ nhất là thiết lập khuôn khổ pháp luật

Chức năng này thực tế vượt ra ngoài khuôn khổ của līnh vực kinh tế hợọc Ở đây, chinh phủ đề ra các quy tắc trỏ chơi kinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả bàn thân chính phủ cũng phải tuân thủ Điều này bao gồm quy định về tải sản (tài sản tư nhân là như thế nào?), các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh, các trách nhiệm tương hỗ của các liên đoàn lao động, ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi trường kinh tế

Chức năng thứ hai là sửa chữa những thất bại của thị trưởng để thị

trường hoạt động có hiệu quá

Trước hết, những thất bại mà thị trưởng gặp phải làm cho hoạt động của

nó không hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền Cần phải nói rằng, lợi dụng ưu thể của minh, các tổ chức độc quyền có thể quy định giá cả để thu lợi nhuận và

do vậy, phá vỡ ưu thể của cạnh tranh hoản hảo Vì vậy, cần thiết phải có sự can thiệp của chính phù để hạn chế độc quyền, đảm bảo tính hiệu quả của cạnh tranh thị trường

Thứ hai, là những tác động bên ngoài cũng dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động thị trường và đòi hỏi nhà nước phải can thiệp Tác động bên ngoài xảy ra khi doanh nghiệp hoặc con người tạo ra chi phí - lợi ích cho doanh nghiệp khảc, hoặc người khác mà các doanh nghiệp hoặc con người đó không được nhận đúng những lợi ích mà họ cần phải trả

Thứ ba, chính phủ phải đảm nhiệm việc sản xuất hàng hoả công cộng Theo các nhà kinh tế, hàng hoả tư nhân là một loại hàng hoả mà nếu như một người đã dùng thi người khác không thể dùng được nữa Còn hàng công cộng là một loại hàng hoả mà khi một người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được Ích lợi giới hạn của hàng hoá công cộng đối với xã hội và tư nhân là khác nhau Nhìn chung, ích lợi giới hạn mà tư nhân thu được từ hàng hoá công cộng

Ngày đăng: 01/01/2022, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w