1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng chính trị nho gia, sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam.

30 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng chính trị nho gia, sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thu Thủy
Trường học Học viện báo chí và tuyên truyền
Chuyên ngành Khoa chính trị học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 168,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đường lối đổi mới ở Việt Nam và triển vọng lớn lao của nó không thể tách rời việc khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo và sau đó khai thác những nhân tố tích cực để biến thành truyền thống Việt Nam trên lĩnh vực của đời sống. Nho giáo là vấn đề quá khứ nhưng cũng là vấn đề hiện tại. Nghiên cứu tư tưởng chính trị Nho giáo để nhìn nhận, đánh giá rõ hơn những yếu tố không còn phù hợp, những phần giá trị cần gạt bỏ đồng thời để kế thừa những tinh hoa của nó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn của chính trị học có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn. Chính vì vậy, em chọn đề tài “Tư tưởng chính trị Nho gia, sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam” làm đề tài bài tiểu luận. Tuy nhiên trong quá trình làm, do còn có những hạn chế, lại là vấn đề khó và phúc tạp nên em không tránh khỏi khiếm khuyết , em rất mong được sự góp ý chi bảo của thầy cô giảng viên.

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN

TRUYỀN

TIỂU LUẬN KHOA CHÍNH TRỊ HỌC

ĐỀ TÀI: Tư tưởng chính trị nho gia, sự du nhập và

tác động đến đời sống chính trị Việt Nam.

Học viên: Nguyễn Thu Thủy

Mã sinh viên:2055280039 Lớp: Kinh tế và quản lí (CLC)K40

Hà Nội-ngày 18 tháng 6 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu

Nội dung

Chương 1: Tư tưởng chính trị Nho gia.

1.1.Tư tưởng về nhà nước,Quyền lực nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước với dân.

1.1.1.Tư tưởng về nhà nước và quyền lực nhà nước.

1.1.2 Tư tưởng về dân và mối quan hệ giữa dân với nhà nước.

1.2 Đường lối trị nước Nho giáo vạch rõ thực chất của việc cai trị 1.2.1 Nhân trị và Lễ trị.

1.2.2 Chính danh.

Chương 2:Sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam.

1.1 Sự du nhập của Nho gia:

1.2 Tác động của Nho gia đến đời sống chính trị Việt Nam:

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Tính cấp thiết của đề tài Nho gia khởi nguồn từ Trung Quốc, được du nhập vào Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc, được “Việt Nam hóa”trong suốt một chặng đường lịch sử, góp phần đáng kể vào việc tạo dựng nền văn hiến Việt Nam Bao đời từng là thế hệ tư tưởng thống trị trong kiến trúc thượng tầng Việt Nam, Nho gia đã ảnh hưởng sâu sắc đến con người và xã hội, chính trị và văn hóa, cuộc sống và lẽ sống,hệ tư tưởng và phong tục tập quán Việt Nam, Nho giatrở thành một bộ phận của truyền thống dân tộc Dù muốn hay không Nho giáo vẫn đang chi phối xã hội Việt Nam hiện nay Con người Việt Nam dù tự giác hay không tự giác vẫn còn dấu ấn của nho giáo Truyền thống văn hóa quá khứ của dân tộc bao gồm sách vở, đền đài, miếu mạo, phong tục tập quán mang sắc thái nho giáo vẫn còn đó

Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt nhiều thành tựu quan trọng Nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh

sự tăng trưởng về kinh tế, đem lại bộ mặt mới cho xã hội Tuy nhiên mặt trái của cơ chế thị trường cũng tạo nhiều xáo trộn trong quan hệ xã hội, trong gia đình và phẩm chất cá nhân Trong cán bộ, nhân dân đã có những biểu hiện tiêu cực, thể hiện trong cảm nhận thức và hành động: tư tưởng thực dụng, chạy theo đồng tiền làm cho một bộ phận xa rời lý tưởng, suy thoái về nhân phẩm đạo đức; nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác đang có chiều hướng gia tăng Những chủ trương biện pháp khắc phục tình trạng nói trên không thể đụng chạm tới nhiều vấn đề liên quan đến Nho giáo, nhất là khi Nho giáo đã từng tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta, để lại những căn bệnh trầm trọng như bệnh bảo thủ, quan liêu, giáo điều, chủ nghĩa bình quân Đến nay những căn bệnh đó vẫn tồn tại với nhiều biểu hiện khác nhau

Đường lối đổi mới ở Việt Nam và triển vọng lớn lao của nó không thể tách rời việc khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo và sau đó khai thác những nhân tố tích cực để biến thành truyền thống Việt Nam trên lĩnh vực của đời sống Nho giáo là vấn đề quá khứ nhưng cũng là vấn đề hiện tại Nghiêncứu tư tưởng chính trị Nho giáo để nhìn nhận, đánh giá rõ hơn những yếu tố không còn phù hợp, những phần giá trị cần gạt bỏ đồng thời để kế thừa những tinh hoa của nó trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn củachính trị học có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn Chính vì vậy, em chọn đề tài “Tư tưởng chính trị Nho gia, sự du nhập và tác động đến đời sống chính trị Việt Nam” làm đề tài bài tiểu luận Tuy nhiên trong quá trình làm, do còn có những hạn chế, lại là vấn đề khó và phúc tạp nên em không tránhkhỏi khiếm khuyết , em rất mong được sự góp ý chi bảo của thầy cô giảng viên

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu:

-Nho gia là đề tài được nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước nghiên cứu, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải có sự đi sâu tìm hiểu và khám phá

Ở Việt Nam, trong mấy thập kỷ này, không thể các bài in trên báo tạp chí,chị nói riêng tác phẩm nghiên cứu về Nho giáo thì đã có một số lượng đáng kể:

“Nho giáo”(hai tập) của Trần Trọng Kim năm 1930; tác phẩm “khổng học đăng”của Phan Bội Châu những năm đầu thập kỷ 30 của thế kỷ XX; “Nho giáo xưa và nay” do giáo sư Vũ Khiêu chủ biên in năm 1990 ;

-Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt dưới góc độ của chính trị học, luận văn này đi sâu nghiên cứu tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo, đồng thời làm rõ ảnh hưởng của Nho giáo tác động đến đời sống chính trị Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu:

-Mục đích:Luận văn làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo và ảnhhưởng của nó đối với đời sống chính trị Việt Nam hiện nay, từ đó góp thêm tiếng nói và việc tìm giải pháp pháp khai thác những giá trị tinh hoa và loại bỏ

đi những hạn chế của nó trong đời sống xã hội nước ta hiện nay

-Nhiệm vụ: Làm rõ tư tưởng chính trị cơ bản của Nho giáo Chỉ rõ những giá trị tích cực của nho giáo cần được kế thừa, phê phán những hạn chế, những tàn dư của Nho giáo còn rơi rớt lại trong đời sống xã hội Việt Nam Kiến nghị những giải pháp nhằm khai thác những giá trị tinh hoa trong tư tưởng chính trị của nho giáo đồng thời loại bỏ những tàn dư của nó trong đời sống xã hội Việt Nam

-Phạm vi nghiên cứu: luận văn không có tham vọng giải quyết tất cả các vấn đề Nho giáo mà chỉ tập trung làm rõ tư tưởng cơ bản của nho giáo, những ảnh hưởng của nó trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

-Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-lênin

tư tưởng Hồ Chí Minh,Những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phê phán và vận dụng những giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại

-Trong quá trình nghiên cứu, sử dụng phương pháp logic và lịch sử; phân tích và tổng hợp, phương pháp quan sát xã hội, sử dụng kiến thức liên ngành chính trị-văn hóa-lịch sử

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:

-Góp phân giải đáp một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đang đặt ra hiện nay, đó là kế thừa và loại bỏ những gì trong tư tưởng chính trị của Nho giáo

Trang 5

NỘI DUNG Chương 1: Tư tưởng chính trị Nho gia.

Là học thuyết của xã hội phong kiến, do xã hội phong kiến soạn sinh ra, bản thân Nho giáo cũng nêu lên một số nguyên lý, nguyên tắc, đường lối và phương pháp nhằm bảo đảm cho xã hội một sự ổn định về vận hành và phát triển Mục đích lý tưởng của Nho giáo là xây dựng một nhà nước chuyên chế mạng, duy trì kỷ cương, đẳng cấp, quyền lực tuyệt đối thuộc về vua Người cai trị dùng đạo đức, lễ tiết để làm tròn gương cho dân chúng, dùng pháp luật có mức độ, dân chúng thì tự giác làm tròn bổn phận của mình Gạn lọc trong chiều sâu tư tưởng Nho giáo, có thể thấy vấn đề về nhà nước, quyền lực nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước với dân được đề cập khá sâu sắc

1.1.Tư tưởng về nhà nước,Quyền lực nhà nước và mối quan hệ giữa Nhà nước với dân:

1.1.1.Tư tưởng về nhà nước và quyền lực nhà nước:

Theo Nho giáo, con người sống không thể tách rời nhau mà có muôn ngàn quan hệ gắn bó với nhau trong phạm vi những công đồng nhất định

Các cộng đồng đó là nhà, nước và thiên hạ Đương nhiên ngoài phạm vi nhà và

từ nhà đến nước còn có hương, quận, châu Nho giáo cố ý đồng nhất 3 thực thể nhà, nước, thiên hạ theo nguyên lý bao quát Thiên hạ gốc ở nước, nước gốc ở nhà, nhà thuốc ở thân mình Nho giáo coi “nước” chỉ là sự mở rộng của nhà nhà

do nước và nhà trung một gốc cho nên nhiều khi Nho giáo dùng phạm trù quốc

và gia đông nhất Nho giáo coi mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa nhà và nước là thiêng liêng và sáng tỏ bỏ luôn đời Nói lên mối quan hệ ấy, Khổng Tử

đã nhấn mạnh: muốn trị quốc trước hết phải tề gia

Nước thành vật sở hữu của một số người có đức sáng, được mệnh trời, giỏi tề gia Những hiền nhân quân tử đi từ tề gia đến trị quốc có cương vị đứng đầu cả nhà và nước thì được Khổng Tử xác nhận là kẻ có nước, có nhà hoặc là những kẻ có quốc gia để cai trị Con đường đi từ nhà đến nước như vậy, được Nho giáo cho là đúng đắn, hợp với trời đất, đạo của người Nhà và nước gắn vớinhau, lồng vào nhau.nước mà Nho giáo nói ở đây không chỉ là đất nước mà còn được hiểu là nhà nhà nước thời đó-thời có thiên tử và chư hậu còn có tên gọi tiêu biểu là triều đình và triều-thuộc quyền chuyên chế của cá nhân vua cùng với gia tộc và tông tộc nhà vua

Nho giáo quan niệm rằng đã là xã hội thì tất phải có quyền tối cao để giữ kỷ cương xã hội Quyền ấy gọi là quân quyền Người giữ quân quyền gọi là

đế hay vương(vua).vua phải lo việc chị nước tức là lo sự sinh hoạt, dạy dỗ và

mở mang là người chủ đất nước, nhà vua Nho giáo thùng chị với một quyền uy

Trang 6

tối thượng Nhà vua điều hành mọi công việc của nhà nước, sử dụng và bãi chứcđối với toàn thể giới quý tộc và quan lại Nho giáo nhắc nhở rằng: “dưới gầm trời không chỗ nào chẳng phải đất của nhà vua, trên mặt đất không người nào chẳng phải về tôi của vua” Với tư cách người chủ đất đai, nhà vua chỉ đạo việc

sử dụng đất đai, quyền định mức thuế và sự đóng góp của nhân dân Nấm kho tàng của nhà nước, quản lý toàn bộ ngân khố và thóc, nhà vua là người ban ơn cho toàn thể nhân dân, được mọi người phục tùng một cách tuyệt đối Như vậy quyền uy của nhà vua là tuyệt đối Quyền uy ấy thể hiện trên mọi lĩnh vực Nhà vua vừa là người trực tiếp quản lý kinh tế, tổ chức hành chính, thực hiện pháp luật, chỉ huy quân sự, giáo dục đạo đức và đứng đầu tôn giáo

Để quản lý lãnh thổ rộng lớn nhà vua sắp xếp một bộ máy quan liêu từ trung ương đến địa phương Lúc đầu bộ máy nhà nước bao gồm những quý tộc thuộc dòng họ vua Sau đó các quan chức triều đình được tuyện lựa trong hàng ngũ Nho sĩ đã qua các kì thi.dùng bộ máy quan liêu, lựa chọn khoa cử và đội quân thường trực, vua chuyên chế tìm ra phương án tối ưu để nắm giữ quyền lực

Nho giáo chủ trương thuyết Thiên mệnh Thuyết này coi trời là cha

chung, ngôi vua được trời lựa chọn giao cho cai quản đất nước và thần dân Vuacũng là cha chung Do mệnh trời mà có mệnh vua Nhưng nho giáo cũng nhấn mạnh: “Duy mệnh bất vu thường, đạo thiện tắc đắc chi, bất thiện tắc thất chỉ hỹ” Vì vậy người làm đế vương tuy quyền uy rất to, thế lực rất mạnh, nhưng không được lạm dụng quyền ấy để làm điều tàn bạo

Thuyết “Thiên mệnh”với phương châm an phận theo đia vị của mình, không mong gì ở bên ngoài đã đè nặng lên đời sống tinh thần, của dân tộc Trung Hoa và các dân tộc tôn sùng Nho giáo suốt nhiều thế kỷ Đây cũng là mộttrong những nguyên nhân làm cho tôn ti, trật tự phong kiến duy trì quá lâu, triệt

bỏ sức vươn lên của con người

Tuy nhiên, có thể thấy tư tưởng tôn quân, thuyết Thiên mệnh đã đáp ứng được đòi hỏi bức thiết của lịch sửTrung Hoa thời bấy giờ, đó là thống nhất dân tộc, xây dựng chính quyền Trung ương tập quyền

1.1.2 Tư tưởng về dân và mối quan hệ giữa dân với nhà nước:

Tư tưởng về đân

Tư tưởng về dân của Nho gia được hình thành rất sớm, trải qua quá trình đấu tranh gay gắt với Mặc gia và Pháp gia, được ổn định và được chế độ chuyênchế thừa nhận làm đạo lý, làm tinh thần lập pháp

Khái niệm "dân" theo Khổng Tử bao gồm: sĩ, nông, công, thương Sự phân chia này không dựa trên tiêu chuẩn sở hữu mà theo ngành nghề Đây cũng

là bậc thang giá trị xã hội Nó phản ánh một nền kinh tế tiểu nông khép kín, tự cấp tự túc, công thương nghiệp chưa phát triển

Trang 7

Khái niệm "dân" của Mạnh Tử lại gồm: kẻ sĩ, người cày ruộng, người buôn bán và người đi đường Kẻ sĩ là trí thức, muốn theo đuổi địa vị để kiếm bổng lộc, người buôn bán và người đi đường thì phần đông là thương nhân kiêmđịa chủ Còn hạng mà Mạnh Tử gọi là "người cày ruộng" thực ra không còn là nhà nông mà chủ yếu là bọn địa chủ mới có nông sản đem bán Cho nên khái niệm dân của ông chủ yếu là hạng trí thức, địa chủ và thương nhân.

Như vậy theo quan niệm của Nho giáo, dân thông thường là những người không có địa vị gì, công vụ gì trong bộ máy thống trị, cũng có khi bao gồm cả mọi người trong một nước, trong thiên hạ nói chung Trong kinh điển Nho gia,

ta còn gặp những danh từ như: "Thứ dân", "lê dân", "thảo dân", "xích tử",

"thương sinh" cũng là để chỉ đông đảo người dân lao động

Mối quan hệ giữa dân với nhà nước

Trong mối quan hệ với nhà nước, quyền lực nhà nước mà người đứng đầu

là vua, dân có vai trò rất lớn Nho giáo đã sớm nhận thức được vai trò của dân tới sự tồn vong của triều đình Trong ba yếu tố để triều đình bền vững thì dân là yếu tố quyết định Ba yếu tố đó là: đất đai, nhân dân và chính sự Về chính sự, Nho giáo lại nhấn mạnh ba điểm: túc thực, túc binh, dân tín (nghĩa là lương thựcphải đủ để nuôi dân, binh lực phải mạnh để bảo vệ dân, lòng tin của dân, trong

đó lòng tin của dân là điều quyết định nhất)

Không phải ngẫu nhiên và tùy tiện mà Nho giáo đi tới chỗ coi dân là trời:

"Vua lấy dân làm trời" Lịch sử cho thấy mặc dù vua là "thiên tử", là "đấng chí tôn" vâng mệnh trời để bình thiên hạ, là cha của muôn nhà, mẹ của muôn dân, là

kẻ chăn người (nhân mục), nhưng vua cũng chỉ là một con người Dân rất hiền lành, những thảo dân, lê dân, xích tử hiền như nước nhưng lại có sức mạnh to lớn Vua chúa muốn sống được phải nhờ đến dân Dân "lao lực" làm ra lương thực, vua chúa "lao tâm" để trị người thì phải ăn của người, cụ thể là ăn ở dân,

do dân nuôi Nếu áp bức dân tàn bạo để dân phải vùng lên thì vua - người nắm giữ trong tay quyền lực nhà nước chỉ đi tới chỗ diệt vong

Mạnh Tử đã nêu lên một quan điểm nổi tiếng về mối quan hệ giữa vua,

xã tắc và dân: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" Đây là tư tưởng tiến

bộ, đặc biệt là đối với một xã hội mấy ngàn năm sống dưới sự ngự trị của các triều vua Đem dân ra cân nhắc với vua, nêu rõ vai trò của dân trong thời loạn lạc, khẳng định dân là quý, Mạnh Tử đã thể hiện rõ tư tưởng lấy dân làm gốc của mình Mạnh Tử và các nhà Nho đều mong muốn có một cuộc sống hữu đạo,một cảnh nước thịnh trị và thiên hạ thái bình với những quan hệ tốt đẹp giữa người và người Trong phạm vi cả nước, cả thiên hạ, mối quan hệ được nêu lên trước hết là mối quan hệ "quân thần" Quan hệ giữa vua với dân là phần mở rộng của mối quan hệ ấy

Mạnh Tử cho rằng, quan trọng nhất là được dân hay mất dân, mà sở dĩ được dân là vì được lòng dân và mất dân là vì mất lòng dân Ông so sánh và giải

Trang 8

thích rằng: được lòng dân thì làm đến ngôi thiên tử; được lòng thiên tử chẳng qua làm đến chư hầu; được lòng với vua chư hầu chẳng qua làm đến quan đại phu; vua Kiệt, vua Trụ mất thiên hạ vì mất dân, mất dân là vì mất lòng dân Chính vì vậy, Mạnh Tử rất chú trọng đến dân Ông yêu cầu những người cầm quyền phải biết lo đến hạnh phúc của dân, cùng dân hưởng phú quý, cùng dân chịu sự lo lắng, như thế dân sẽ một lòng một dạ đi theo: "Người vui cái vui của dân, thì dân cũng vui cái vui của mình; người lo cái lo của dân thì dân cũng lo cái lo của mình Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, thế mà không làm vương thì chưa có vậy".

Ông coi trọng việc cải thiện đời sống của dân là "điều gốc", là trách nhiệm của người cầm quyền: "Đáng minh quân chế định tài sản của dân, ắt là khiến cho ngửng lên đủ thờ cha mẹ, cúi xuống đủ nuôi vợ con, năm được mùa thì no luôn, năm mất mùa không đến nỗi chết Được như thế rồi mới bắt dân làm điều lành, thì dân làm điều lành dễ lắm"

Đề cập tới quan điểm này của Mạnh Tử, nhiều người cho rằng, Mạnh Tử

đã đi trước các nhà tư tưởng của cách mạng dân chủ tư sản Anh, Pháp gần 2000 năm

Không thể phủ nhận quan điểm về dân của Mạnh Tử có nhiều tiến bộ, nhưng nếu đứng trên lập trường giai cấp mà xét thì ông không có tư tưởng dân chủ thực sự Mặc dù Mạnh Tử đã thực sự dũng cảm khi nói: "dân vi quý", nhưng không có nghĩa là ông có tư tưởng đấu tranh cho nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ sơn hà xã tắc, làm chủ vận mệnh của mình Kể cả khi ông chủ trương một nền chính trị được lòng dân, quan tâm đến dân để làm cho "dân có hằng sản", từ đó "có hằng tâm" thì cũng không ngoài mục đích điều hòa mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp thống trị và nhân dân

Tuân Tử khi nói về sức mạnh của dân đối với nhà nước đã chỉ rõ: vua là thuyền, thứ dân là nước Nước chở thuyền, nước có thể lật thuyền

Khổng Tử khi nói về dân và chính sách trị dân đã nhấn mạnh các điều: dưỡng dân, giáo dân và chính hình; trong đó dưỡng dẫn là yếu tố quan trọng Bất kỳ chính thể nào, nhà cầm quyền nào cũng phải coi trọng việc dưỡng dân Nếu khéo dưỡng dân thì nước trị, nhà cầm quyền được dân quý, ngược lại thì nước loạn, dân sẽ bỏ đi nơi khác hoặc nổi loạn, chính quyền sớm muộn cũng bị lật đổ Dưỡng dân để làm cho dân no đủ, giàu có; đánh thuế nhẹ dân; khiến dân làm việc hợp thời; phân phối bình quân để dân không bị bóc lột mà được no đủ

Điều đó cho thấy Nho giáo đã sớm nhận thức được vai trò to lớn của dân đối với nhà nước và quyền lực nhà nước, song họ đã không vượt qua được hạn chế về mặt giai cấp và thời đại, do đó đối với Nho giáo không có tư tưởng dân chủ thực sự, tất cả đều nhằm nắm chặt lấy dân để dễ bề sai khiến, cai trị

Trang 9

Mặc dù vậy, tư tưởng của Nho giáo về dân, về mối quan hệ giữa dân với quyền lực nhà nước vẫn hàm chứa nhiều giá trị mà người cầm quyền xưa và naykhông thể không chú ý Đó là:

- Phải biết tranh thủ dân và nắm lấy dân Dân là quý, dân như nước,

vừa chở thuyền vừa lật thuyền, cho nên muốn làm vua chúa, muốn cầm quyền thì phải tranh thủ dân và nắm lấy dân Tranh thủ được dân chúng thì làm thiên

tử, được dân là được cả thiên hạ Người làm vua phải theo lòng dân, phải thuận lòng dân, phải biết thích cái thích của dân, ghét cái ghét của dân Người cầm quyền theo lòng dân mà trị tất sẽ được dân yêu mến

- Giữ gìn sinh mệnh và dè xẻn tài sản của dân Người cầm quyền phải

biết sử dụng sức người, sức của cho phù hợp tránh sự lạm dụng, phí phạm sức dân và tài sản của dân Có như vậy lòng dân mới yên, xã tắc mới bền vững

Tư tưởng của Nho giáo về vai trò của dân sau này được các nhà tư tưởng Việt Nam kế thừa, cải biến và sáng tạo phù hợp với dân tộc Trên thực tế, các khái niệm có hình thức Khổng giáo nhưng nội dung bên trong lại chứa đựng tư tưởng, tình cảm, tín ngưỡng và tâm lý Việt Nam

Thời Lý - Trần, sự quan tâm đến đời sống và nguyện vọng của nhân dân được xem là việc hàng đầu của đạo trị nước, "ý dân", "lòng dân" đã trở thành căn cứ, mục đích cho những chủ trương chính trị lớn

"Chiếu dời đô" nổi tiếng của Lý Công Uẩn đã khẳng định: Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh

Trần Quốc Tuấn với tư tưởng "khoan thư sức dân để làm kế sâu bền gốc rễ", coi đó là "thượng sách để giữ nước" đã nhìn rõ nhân dân là nơi chứa chất tiềm lực về kinh tế và quốc phòng, bảo đảm cho sự vững chắc của nền độc lập

và chủ quyền đất nước

Nguyễn Trãi xem dân là gốc của nước, dân có quan hệ tới sự yên nguy của triều đại Dân là số đông, là cơ sở của xã hội, là lực lượng có vai trò quyết định đến sự ủng hộ hoặc phế truất nền thống trị của một triều đại, một ông vua

Vì vậy, theo ông, "việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"

Thấy được vai trò của dân không phải là ngẫu nhiên đối với các nhà tư tưởng Việt Nam Mặc dù lập trường phong kiến đã hạn chế nhãn quan của họ, nhưng là những nhà yêu nước lớn, đứng ở đỉnh cao của phong trào yêu nước lúcbấy giờ, họ đã thấy được yêu cầu phải cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh củadân tộc nên đã vượt qua được những hạn chế giai cấp vốn có của mình

Đến Hồ Chí Minh, quan niệm về dân đã phát triển đến một tầm cao mới Dân là số đông, là làm cho số đông đó ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Lấy dân làm gốc ở Hồ Chí Minh không phải chỉ xem dân là lực lượng

Trang 10

dời non lấp biển mà còn là mục đích, xem mọi hoạt động chính trị đều vì dân, xây dựng nền chính trị của dân, do dân, vì dân Điều quan trọng ở đây là Người

đã đưa truyền thống yêu nước thương dân và hệ thống hoạt động của dân, do dân, vì dân thành một nội dung cơ bản để xây dựng Đảng cộng sản và chế độ chính trị xã hội ở Việt Nam

1.2 Đường lối trị nước Nho giáo vạch rõ thực chất của việc cai trị:

Cai trị con người, xã hội không phải chủ yếu dựa vào vũ lực, thần quyền, của cải mà cai trị bằng giáo dục, giáo d ưỡng, bằng thu phục nhân tâm Nho giáo vừa là một hệ tư tưởng, vừa là các phép tắc có tính chất quy chế làm chuẩn mực để giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống Các khái niệm tưởng chừng thuần túy đạo đức lại mang tính chính trị cao "Nhân", "Lễ", "Chính danh", không chỉ

là khái niệm, là nguyên lý đạo đức cơ bản mà còn là hạt nhân trong học thuyết chính trị của Nho giáo, là đường lối trị nước của Nho giáo

1.2.1 Nhân trị và Lễ trị:

a)Nhân trị :

-Chữ nhân gồm chữ nhân và chữ nhị hợp lại Theo Trần Trọng Kim, nhân

có nghĩa là mọi người với nhau như một Theo Nguyễn Hiến Lê, nhân là tình người này đối với người khác

-Chữ nhân trong học thuyết của Khổng Tử có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tùy theo trình độ, hoàn cảnh mà ông diễn đạt nội dung của nó một cách khác nhau

-Chữ nhân gồm chữ nhân và chữ nhị hợp lại Theo Trần Trọng Kim, nhân

có nghĩa là mọi người với nhau như một Theo Nguyễn Hiến Lê, nhân là tình người này đối với người khác

-Chữ nhân trong học thuyết của Khổng Tử có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tùy theo trình độ, hoàn cảnh mà ông diễn đạt nội dung của nó một cách khác

nhau.Khổng Tử cho rằng do sự chi phối của "thiên lý", của "đạo", các sự vật hiện tượng trong vũ trụ luôn biến hóa không ngừng

- Đạo sống của con người là phải "trung dung", "trung thứ", nghĩa sống đúng với mình và đúng với người -đó là nhân

-Khổng Tử nói nhiều về "nhân", nhưng tóm lại, có thể thấy nhân là

Người, là lòng người, là thương người Đạo nhân là cái trời phú cho con người,

ở cái tâm của con người, đó là lòng thương người Điều đó được thể hiện ra ở hai điều cốt yếu: "Người nhân là mình muốn lập thân thì cũng mong muốn giúp người lập thân, mình muốn thông đạt thì cũng muốn giúp người thông đạt" và

"điều gì mình không muốn thì chớ đem đối xử với người", "phải suy xét mình

để suy xét người"

Trang 11

-"Nhân" là đức tính hoàn thiện, là cái gốc đạo đức của con người nên nhân chính là đạo làm người Đức nhân bao gồm tinh túy của tất cả các đức khác Trong bất kỳ mối quan hệ nào, nếu hỏng về đức riêng thuộc mối quan hệ

ấy thì đồng thời cũng là trái với đức nhân, chẳng hạn như: không trung thực với người khác, không nghiêm khắc với kẻ sai trái lầm lỗi, không cung kính với bề trên đều trái với đức nhân

-Người muốn đạt nhân, theo Khổng Tử phải là người có "trí","dũng".Nhờ

có lý trí, con người mới sáng suốt minh mẫn để hiểu được đạo lý, xét đoán sự việc, phân biệt phải trái, thiện, ác để trau dồi đạo đức và hành động hợp với

"thiên lý" Nếu không còn trí sáng suốt nữa thì chẳng những không giúp được người mà còn hại đến thân mình Trí không phải ngẫu nhiên mà có, nó chỉ có được trong quá trình người ta học tập tu dưỡng Mục đích cao nhất của việc học không chỉ để biết "đạo", "khắc kỷ phục lễ vi nhân" mà để ra làm quan, tham gia việc chính trị quốc gia

-Nhân còn bao hàm cả "nghĩa" Theo "nghĩa" là việc gì đáng làm thì làm, không hề tính lợi cho mình.Một điều cần chú ý là Khổng Tử quan niệm: chỉ có người quân tử mới có "nhân" Trong kinh điển Nho giáo, những gì tốt đẹp, tiêu biểu của con người đều quy vào người quân tử Còn đám đông tiểu nhân là những người không có trí tuệ, không có đạo đức, vất vả chân lấm tay bùn để cung đốn cho người quân tư thì không có "nhân"

-Nhân khác với từ bi của đạo Phật bởi Phật thương người và thương cả vạn vật, nhưng lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mê muội của sinh linh, tìm cách giải thoát cho mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử Nhân của Khổng Tử giúp con người ta sống tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn ngay chính trên mảnh đất hiện thực của mình

-Đề cập đến đạo Nhân với tính cách là trung tâm trong toàn bộ học thuyếtchính trị, đạo đức của mình, các nhà Nho nâng lên thành đường lối trị nước: Nhân trị -tức trị dân bằng đức nhân Đức nhân là một đòi hỏi bắt buộc,nghiêm khắc nhất đối với kẻ làm quan cai trị dân Những người làm quan, các bậc vua chúa đều phải có đức nhân -đó là yêu cầu tối thượng Nho giáo chú trọng lấy đạo đức để thực hành chính trị Kẻ trị dân phải tu thân, sửa mình, làm gương cho dân, hướng theo điều thiện Nhờ đó cảm hóa được dân chúng, dân chúng phục mà nghe theo, chứ không dùng bạo lực thô bạo để ép buộc

- Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu dưỡng đạo đức, Khổng Tử đồng thời cũng đề cao yêu cầu về cái tài của kẻ trị dân Cái tài đó nhằm giúp họ làm việc sáng suốt và biết tu dưỡng đức nhân một cách tốt nhất Nếu kẻ cai trị chỉ cólòng thương dân thuần túy thì không đủ Phải có tài (trí) thì mới có sự sáng suốt trong khi làm việc, ít sai lầm trong việc trị nước

-Ông nhấn mạnh sự tu dưỡng bản thân Đó chính là "tận tâm", "dưỡng tính",

"dưỡng khí hạo nhiên".Xuất phát từ nhân tính trong thuyết tính thiện, ông cho rằng con

Trang 12

người sinh ra vốn có tính thiện, có lòng trắc ẩn, lòng hổ thẹn, lòng cung kính, lòng phân biệt thị phi Bốn tâm tính đó được coi là bốn mối của nhân, lễ, nghĩa, trí, đòi hỏi con người phải nuôi dưỡng nó, làm cho nó phát triển lớn mạnh Có như vậy mới có thể tu dưỡng mình trở thành bậc quân tử nhân Đức Ông còn chỉ rõ mục đích của việc tu dưỡng đạo đức, tu dưỡng khôngphải để mà tu dưỡng mà là vì sự yên ấm, ổn định và phát triển của xã hội, làm cho thiên hạ thái bình.

=> Tóm lại, từ nhân đến nhân trị đó chính là tư tưởng về đường lối trị nước của Nho giáo Nét độc đáo và sâu sắc của tư tưởng này là ở chỗ: Nho giáo đã đặt đạo đức với chính trị trong mối quan hệ hết sức chặt chẽ Đạo đức là nền tảng của chính trị Chính trị

là sự tiếp tục của đạo đức, phải lấy đạo đức làm gốc Đây cũng là điểm độc đáo của triết

lý phương Đông so với các học thuyết phương Tây.

b)Lễ trị:

Chữ Lễ trước tiên dùng để chỉ việc thờ cúng, tế lễ, sau dùng rộng ra nóbao gồm cả phong tục tập quán mà xã hội thừa nhận, sau cũng chữ Lễ còn cónghĩa rộng: nó là thể chế, là quyền uy

Lễ là một công cụ chính trị mạnh mẽ và là vũ khí của một phương pháp trị nước đắc lực mà Nho giáo đã cống hiến cho nhiều triều đại đế

vương Phương pháp ấy là phương pháp lễ trị Lễ là một phần rất quan trọng trong toàn bộ Khổng học Riêng về lễ, có cả một kinh gọi là Lễ ký Trong suốt thời Tây Chu, từ Chu Công Đán về sau, những quy định về lễ rất nhiều, rất tỉ mỉ và chặt chẽ

Trong gia đình, làng mạc, đất nước và thiên hạ, thậm chí trong trời đất, con người đã bị đặt trong bao nhiêu mối quan hệ thì cũng phải có bấy nhiêu "mạng lưới" quy định cụ thể Cái mạng lưới mênh mông bao trùm lên toàn cõi gọi là lễ Trước bối cảnh "lễ hư nhạc hỏng", Khổng Tử muốn dùng

lễ để khôi phục lại trật tự phép tắc, luân lý xã hội, đưa xã hội trở về với đạo

Lễ quy định một cách nghiêm ngặt các mối quan hệ giữa vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạn (Ngũ luân) Trong năm mối quan hệ ấy, có ba mối quan hệ cơ bản (Tam cương): vua tôi, cha con, chồng vợ

Trong các mối quan hệ đó, mỗi người phải theo địa vị, danh phận của mình làm theo lễ đó là "vua dùng tôi nên theo lễ, tôi thờ vua theo đạo

trung", "cha đối với con phải nhân từ, con thờ cha theo đạo hiếu", "anh em với nhau phải giữ chữ đễ" tức là phải yêu thương nhường nhịn nhau, "vợ chồng đối với nhau cũng phải giữ lễ", "bạn bè phải giữ chữ tín" Trong sách Luận ngữ, cái gọi là "lễ" của Khổng Tử còn có những điều sau:

- "Nén hết thèm muốn riêng tư cho lễ trở lại, đó là có đạo nhân Một khi đã nén được thân mình cho lễ trở lại thì thiên hạ sẽ quay về với đạo nhân"

- "Trái với lễ thì không nhìn, trái với lễ thì không nghe, trái với lẽ không nói, trái với lễ không làm"

Trang 13

- "Người trên yêu chuộng lễ thì dân nào dám không tôn kính Người trên yêu chuộng đạo nghĩa thì dân nào không dám không phục tùng"

Như vậy, "lễ" mà Khổng Tử nói tới không những là một thứ nguyên tắc về chính trị, một văn bản nghi tiết mà còn là một thứ chế độ Trong các tầng lớp do chế độ đẳng cấp tạo ra thì có một loại thước đo để phân biệt họ,

do đó mà có danh để đặt ra đạo nghĩa, đạo nghĩa để đặt ra lễ Đó chính là nguồn gốc của cái gọi là "dùng lễ để cai trị"

Mạnh Tử, đối với đức lễ, cũng như đối với các đức nhân, nghĩa, trí đã tìm ra đầu mối của nó trong tâm con người Đầu mối ấy là lòng từ nhượng

Do đầu mối ấy mà trên con đường hành đạo, người ta có những "sở đắc" nhưcung kính, khiêm tốn, nhường nhịn gồm chung cả một đức lớn là lễ

Bàn về lễ, Tuân Tử còn đi xa hơn cả Khổng Tử và Mạnh Tử Khi nói

về khởi nguyên của Lễ, ông cho rằng: Lễ có ba cái gốc: trời đất là cái gốc sự sinh, tiên tổ là cái gốc chủng loại, vua và thầy là cái gốc của sự trị Không cótrời đất thì ở đâu mà sinh, không tiên tổ thì ở đâu mà ra, không có vua có thầy thì lấy đâu mà trị Ba điều ấy mà thiếu đi một là người ta không yên được Cho nên trên thờ trời, dưới thờ đất, tôn tổ tiên, trọng vua và thầy, ấy là

ba gốc của lễ vậy

Tuân Tử cho rằng, bản tính con người là ác, do vậy thánh nhân phải dùng Lễ để uốn nắn, cải hóa cái ác Ông giải thích nguồn gốc sinh ra lễ: Người ta sinh ra là có lòng mong muốn, muốn mà không được thì không thể không tìm, tìm mà không có chừng mực, giới hạn thì không thể không tranh Tranh thì loạn, loạn thì khốn cùng Tiên vương ghét cái loạn cho nên chế lễ nghĩa để phân ra trật tự, để nuôi cái muốn của con người, cấp cái tìm của conngười

Theo ông, lễ đối với kẻ quý thì kinh, đối với kẻ giả yếu thì hiếu thảo, đối với kẻ lớn thì thuận, đối với người trẻ thì từ thiện, đối với kẻ hèn thì ân huệ

Khi nói về vai trò của lễ đối với quốc gia, ông cho rằng: lễ đối với việc quốc gia như quả cân và cán cân đối với sự nặng nhẹ, như dây và mực

ốc đối với đường thẳng đường cho nên người mà không có lẽ thì không sinh,việc không có lợi ích thì không nên, quốc gia không có lễ thì không yên Là người trọng lễ, Tuân Tử cho là bất kỳ việc gì thế không có lẽ là hỏng Đặc biệt đối với người cai trị:

Lễ là cái cùng cực của sự trị và sự biến biệt, cái gốc của sự làm cho nước mạnh, cái đạo của uy hành, cái cốt yếu của công danh Bậc Vương công theo đó mà được thiên hạ, không theo đó thì làm hỏng xã tắc

Trong hệ thống lý luận của Tuân Tử, cái lễ còn mang nội dung của pháp luật Cái lễ của nội bộ tầng lớp thống trị và pháp luật để thống trị tiểu

Trang 14

nhân – đó là cái mà Tuân Tử gọi là pháp độ Ông nói: “lễ tức là cái phận lớn của pháp luật vậy” Lý luận ấy của Tuân Tử thực sự làm nhịp cầu cho sự quá

độ từ chủ nghĩa cai trị bằng lễ của Khổng Mạnh đến chủ nghĩa cai trị bằng pháp luật của Hàn Phi, Lý Tư sau này

Có thể nói, lễ là một cái lưới bủa ra rất rộng và xiết lại hết sức chặt chẽ Chỗ tinh vi của Nho giáo là đã đóng khung ý nghĩ nghĩ và hành động của con người vào phạm vi thực hiện những quy tắc nghiêm ngặt của cuộc sống Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, các xã hội theo Nho giáo đã giữ được

sự ổn định trong gia đình và trật tự ngoài xã hội Lễ trở thành điều kiện quan trọng bậc nhất trong việc trị quốc, tề gia Lễ trị của Nho giáo xiềng xích con người từ khi lọt lòng cho đến chết, từ trong chiếc nôi gia đình ra đến đất nước Lễ Nho giáo xiềng xích con người trong cái vỏ êm dịu, khoan hòa, trang trọng Đó chính là điều mà các thế lực phong kiến thống trị chị ngày xưa của Trung Quốc cũng như của Việt Nam để gò chặt cả dân, cả nước trong vòng tôn ti trật tự, cai trị cứ việc sai khiến, kẻ phụng sự cứ việc phụng

sự Trong việc cai trị dân, lễ hay hơn hình phát ở chỗ lễ ngăn cấm việc chưa xảy ra, còn hình phát cấm sau này đã xảy ra, lễ giúp người ta xa điều ác từ khi chưa nảy mầm để ngày càng gần với điều thiện Tuy nhiên, cũng phải thấy lễ trị của Nho giáo đã kìm hãm cuộc sống của con người một cách dai dẳng, đặc biệt với phụ nữ và đông đảo nhân dân lao động dưới thời phong kiến

1.2.2 Chính danh:

Cuối thời Xuân Thu-Chiến Quốc, tình hình xã hội hết sức rối loạn Trước mắt các nhà nho là những vấn đề:

-Sự hỗn loạn về quan niệm đẳng cấp và danh phận

-Các chư hầu xâm lấn và thôn tính lẫn nhau

-Sự phát triển của những mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với lãnh chúa phong kiến

-Quan hệ công pháp rối loạn

Đứng trước tình hình đó, các nhà nho chủ trương lấy thuyết “chính danh” làm vũ khí để củng cố trật tự nội bộ phong kiến, ổn định xã hội

Theo Khổng Tử, sự hỗn loạn của quan niệm danh phận, đẳng cấp, sự

sa sút của thiên tử nhà Chu, sự suy yếu của các chư hầu địa phương, Tất cảnhững tình trạng đó không chỉ phá hoại trật tự xã hội phong kiến mà còn là mối nguy cơ chính trị rất lớn thời bấy giờ Vì thế muốn cứu vãn nguy cơ chính trị thời đó trước hết phải khôi phục uy quyền của lãnh chúa tối cao (tức là thiên tử), phải ngăn chặn những việc vượt quyền, mỗi người phải biết

Trang 15

giữ danh phận của mình mới có thể làm nên chính trị có đạo, phải “chính danh” để xác định lại danh phận, đẳng cấp

Theo Khổng Tử, danh về thực phải hợp với nhau, nếu không hợp với nhau thì gọi tên ra người ta sẽ không hiểu, lý luận không xuôi, mọi việc không thành, hình pháp không định được mà xã hội sẽ hỗn loạn

Để thực hiện “chính danh”:

-Mọi người phải tự giác giữ lấy danh phận của mình

Đối với người cai trị, Khổng Tử quan niệm: ông vua là người được trời giao phó cho nhiệm vụ lo cho dân đủ ăn, đủ mặc, làm gương cho dân, dạy dỗ dân để dân được sống yên ổn Làm tròn nhiệm vụ đó là danh xứng với thực

Yêu cầu chính danh đối với người cai trị là hết sức tích cực, nhưng trong điều kiện chính trị xã hội thời đó, khó thể thực hiện Do đó đối với bọnvua chúa phong kiến thích vượt quyền, không chịu danh phận của mình, không tự giác, Khổng Tử chủ trương đánh dẹp, do thiên tử chủ trì, thậm chí mọi người đều có thể đánh dẹp

-Ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn trách nhiệm ở địa vị ấy, danh phận

ấy, không được việt vị

Đây là điều mà Khổng Tử chú trọng: ai giữ phận nấy, cứ theo đúng tổ chức xã hội có tôn ti, chặt chẽ thì nước sẽ trị, thiên hạ sẽ có đạo, ở đây thể hiện tư tưởng điều hòa giai cấp của Khổng Tử, mặt khác buộc người cầm quyền phải có tài đức xứng đáng với danh vị của họ

Chính danh là mối quan hệ hai chiều: quân trung thì thần trung, phụ từthì tự hiếu Để có được cái đạo đức xã hội ấy thì phải giáo dục Giáo dục chính là cái gốc lâu bền tạo ra cái đức, để con người có được đức nhân, sống theo lễ và trở về với chính danh

Chính danh của Khổng Tử là ảo tưởng vị đương thời danh và thực mâu thuẫn nhau sâu sắc Cái thức là đời sống xã hội, trật tự xã hội đã có nhiều biến đổi làm cho cái danh phận cũ được quy định theo lễ chế nhà Chu không còn phù hợp nữa, do đó mà không thể thực hiện được Tuy nhiên thuyết chính danh vẫn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc Đó là:

+Muốn cho xã hội ổn định, người cầm quyền phải có đức, có tài, xứngvới danh vị đã có

+Mọi người trong xã hội phải tự giác giữ lấy danh phận của mình theotôn ti, trên ra trên, dưới ra dưới

Nhìn chung, Nhân, lễ , chính danh không chỉ là các chuẩn mực, các khái niệm đạo đức đơn thuần mà còn mang tính chính trị cao Nó trở thành

Ngày đăng: 01/01/2022, 15:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) “ Đại học trung dung”- Đoàn Trung Còn (dịch giả-1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học trung dung
2) “ Luận ngữ”- Đoàn Trung Còn (dịch giả-1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ
3) “ Mạnh Tử”- Đoàn Trung Còn (dịch giả-1996) tập Hạ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử
4) “ Mạnh Tử”- Đoàn Trung Còn (dịch giả-1996) tập Thượng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử
5) “ Nho giáo”- Trần Trọng Kim (1992) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo
6) “ Nho giáo xưa và nay”-Quang Đạm (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
7) “ Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc”-Đảng Cộng sản Việt Nam (1987) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
8) “ Toàn tập”- Hồ Chí Minh(1995) tập 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
9) “ Toàn tập”- Hồ Chí Minh(1995) tập 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
10) “ Xây dựng nhà nước nhân dân-thành tựu, kinh nghiệm đổi mới”- Đỗ Mười (1991) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nhà nước nhân dân-thành tựu, kinh nghiệm đổi mới
11) “ Học thuyết chính ttrij - xã hội nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam”- Nguyễn Thanh Bình (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết chính ttrij - xã hội nho giáo và ảnh hưởng của nó ở ViệtNam
12) “ Khổng giáo và môi trường Đông Nam Á”- Phan Ngọc(1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng giáo và môi trường Đông Nam Á

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w