Đó là nền kinh tế hỗn hợp,thị trường quyết định giá cả và sản lượng của hầu hết các khu vực tư nhân,còn Chính phủ tập trung vào các giải pháp kinh tế tổng thể với các chươngtrình về thuế
Trang 1Lời cảm ơn!
Được sự quan tâm giúp đỡ tận tình của cô Nguyễn Thị Bích Liên em đã hoàn thành xong đề tài “Vận dụng lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson vào phân tích nền kinh tế Việt Nam hiện nay” Vì thời gian có hạn nên bài viết còn nhiều thiếu sót, rất mong các thầy cô trong khoa xem xét và góp ý kiến
để em hoàn thành bài viết tốt hơn.
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .2
4 Phương pháp nghiên cứu .2
5 Kết cấu của đề tài 2
B NỘI DUNG 3
Chương 1 LÝ THUYẾT VỀ “NỀN KINH TẾ HỖN HỢP” CỦA P.A SAMUELSON 3
1.1 Vài nét về P.A Samuelson 3
1.2 Đặc điểm và phương pháp luận của P.A Samuelson 3
1.3 Nội dung lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson 4
1.3.1 Cơ chế thị trường 4
1.3.2 Vai trò của Chính phủ trong kinh tế thị trường .6
1.3.2.1 Vai trò của Chính phủ .6
1.3.2.2 Hạn chế của Chính phủ .9
Chương 2 VẬN DỤNG LÝ THUYẾT “NỀN KINH TẾ HỖN HỢP CỦA P.A.SAMUELSON VÀO PHÂN TÍCH NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 10
2.1 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và công cuộc Đổi mới ở Việt Nam hiện nay .10
2.2 Sự cần thiết phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay .12
2.3 Sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay .14
2.4 Một số giải pháp phát triển nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay .15
2.5 Liên hệ .18
C KẾT LUẬN 20
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với xuất phát điểm là một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, ViệtNam đã có nhiều cải cách quan trọng theo hướng thị trường Những cải cáchnày đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong thờigian vừa qua Tuy nhiên sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế vẫn cònnhiều, số lượng các mặt hàng thuộc diện kiểm soát giá, diện cấm và hạn chếkinh doanh và kinh doanh có điều kiện vẫn còn lớn Cơ chế kiểm soát các loạihàng này hầu như không có nhiều thay đổi Những chính sách can thiệp nàydẫn đến tổn thất kinh tế, lãng phí tài nguyên và kìm hãm các lực lượng kinh tếphát triển Nhà nước cũng liên tục tăng thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu củamình Mặc dù thế thâm hụt ngân sách vẫn liên tục mở rộng, sự chi tiêu củaNhà nước kết hợp với chính sách tiền tệ mở rộng và khối DNNN hầu nhưkhông thuyên giảm đã đẩy nền kinh tế vào tăng trưởng nóng, kinh tế vĩ môbất ổn định Bởi vậy cần kết hợp cơ chế thị trường với vai trò kinh tế củaChính phủ trong điều hành nền kinh tế hiện nay Đó là nền kinh tế hỗn hợp,thị trường quyết định giá cả và sản lượng của hầu hết các khu vực tư nhân,còn Chính phủ tập trung vào các giải pháp kinh tế tổng thể với các chươngtrình về thuế, chi tiêu, điều tiết tiền tệ, cả thị trường và Chính phủ đều cầnthiết cho một nền kinh tế vận hành lành mạnh
Nền kinh tế trong đó có bộ phận kinh tế do Nhà nước nắm, có bộ phận
do các đoàn thể xã hội, chính trị, các tổ chức tập thể nắm, có bộ phận kinh tế
tư nhân cùng tồn tại trong nền kinh tế quốc dân hay trong một ngành, một đơn
vị kinh tế tác động lẫn nhau và bổ sung cho nhau Nhà nước không coi bộphận kinh tế Nhà nước và bằng những chính sách, luật pháp, biện pháp hànhchính và kinh tế (thuế, đầu tư, tín dụng, giá cả, lãi suất, xuất nhập khẩu, cungứng các dịch vụ xã hội…) để kiểm soát và chỉ huy hướng dẫn các bộ phậnkinh tế khác, nhất là kinh tế tư nhân, cũng như để điều tiết thu nhập và lợi ích
Trang 6của tập thể và lợi ích cá nhân Nền kinh tế hỗn hợp có thể tồn tại trong cáchình thái kinh tế khác nhau, trong chế độ TBCN cũng như trong chế độXHCN Nền kinh tế hỗn hợp có thể là một nền kinh tế trong một Nhà nướcdân chủ tư sản, trong đó bộ phận kinh tế tư nhân chiếm vai trò chủ đạo vàhướng dẫn xã hội đi lên CNTB, có thể là nền kinh tế của thời kỳ quá độ vàhướng xã hội đi lên CNXH
Với những ưu điểm nổi bật đó, nền kinh tế hỗn hợp được đề cập cụ thểtrong học thuyết “kinh tế hỗn hợp” của P.A Samuelson, ông nêu quan điểmkhông nên tuyệt đối hoá vai trò kinh tế của Nhà nước, cũng như không nêntuyệt đối hoá vai trò của thị trường trong vận hành một nền kinh tế Đây làmột tổng kết thực tiễn rất quan trọng mà chúng ta cần quan tâm nghiên cứu,vận dụng trong công cuộc đổi mới để vận hành nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN có hiệu quả
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu “lý thuyết kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson từ đó thấy được vai trò quan trọng của nền kinh tế hỗn hợp trongcông cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Lý thuyết “kinh tế hỗn hợp” của P.A Samuelson
Phạm vi nghiên cứu: Nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp: sosánh, giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp để làm rõ vấn đề nền kinh tếhỗn hợp
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung đề tài gồm 2chương:
Chương 1: Lý thuyết về “Nền kinh tế hỗn hợp” của P.A SamuelsonChương 2: Vận dụng lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson vào nền kinh tế Việt Nam
Trang 7B NỘI DUNG Chương 1
LÝ THUYẾT VỀ “NỀN KINH TẾ HỖN HỢP”
CỦA P.A SAMUELSON
1.1 Vài nét về P.A Samuelson
P.A Samuelson là người sáng lập khoa kinh tế học nổi tiếng của trườngĐại học Kỹ thuật Massachusetts dành cho những người đã tốt nghiệp đại họcChicago và Havard Khi còn trẻ, ông đã trở nên nổi tiếng trên thế giới với tácphẩm khoa học của mình và ông là người Mỹ đầu tiên được nhận giải thưởng
Nobel về “Kinh tế học” năm 1970 Giáo sư P.A Samuelson thường viết bài
trong chuyên mục kinh tế học của tạp chí NewYork Ông thường tham dựquốc hội Mỹ và hoạt động với tư cách là cố vấn lý thuyết cho Ngân hàng dựtrữ Liên bang, ngân khố Hoa Kỳ và nhiều tổ chức tư nhân khác Ông từng làm
cố vấn cho Tổng thống F.Kenench và là tác giả cuốn “Kinh tế học” xuất bản
lần đầu tiên năm 1948 tại NewYork, đã tái bản 15 lần Sách được in và xuấtbản tại Việt Nam vào năm 1989 gồm 2 tập Tập 1 từ chương 1 đến chương 20trình bày những vấn đề kinh tế học vi mô Tập 2 từ chương 21 đến chương 37trình bày những vấn đề kinh tế học vĩ mô
1.2 Đặc điểm và phương pháp luận của P.A Samuelson
Lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” là hạt nhân tin tưởng của kinh tế họctrường phái chính hiện đại và nó được trình bày rõ trong cuốn “Kinh tế học”của P.A Samuelson Quan điểm “Nền kinh tế hỗn hợp” có mầm mống tưtưởng từ cuối những năm cuối thế kỷ XIX Sau chiến tranh, tư tưởng nàyđược các nhà kinh tế học Mỹ, trong đó có A.Hafin tiếp tục nghiên cứu và P.A
Samuelson phát triển trong cuốn “Kinh tế học” của mình.
Nếu các nhà kinh tế học trường phái cổ điển và tân cổ điển say sưa với
“bàn tay vô hình” và “cần bằng tổng quát” trường phái Keynes mới say sưa
Trang 8với “bàn tay Nhà nước” thì P.A.Samuelson chủ trương phân tích kinh tế dựa
vào cả “hai bàn tay” làm cơ chế thị trường và Nhà nước Ông cho rằng “điều
hành một nền kinh tế không có Chính phủ hoặc thị trường cũng như vỗ tay bằng một bàn tay”.
Về phương pháp: Kết hợp phương pháp truyền thống với phương
pháp hiện đại, chịu ảnh hưởng của tư tưởng giới hạn Tuân theo quy luật khanhiếm tiến tới quy luật năng suất giảm dần và chi phí ngày càng tăng Kết hợpphương pháp phân tích vĩ mô với phân tích vi mô trong trình bày kinh tế học
Về nội dung: Kinh tế học trường phái chính hiện đại là kinh tế thị
trường có sự điều tiết của Chính phủ Tư tưởng chủ đạo là kinh tế thị trường
có sự điều tiết ở mức độ cho phép Khẩu hiệu của họ là Nhà nước đến mứccần thiết, thị trường đến mức cho phép
1.3 Nội dung lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson
Nền kinh tế hỗn hợp theo quan điểm của P.A.Samuelson là nền kinh tếvận động chịu sự điều tiết của hai yếu tố: Cơ chế thị trường và Nhà nước Haiyếu tố này giữ vai trò ngang nhau
1.3.1 Cơ chế thị trường
Theo P.A.Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh
tế Trong đó, cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫnnhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là:Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai? Cơ chế thị trườngkhông phải là sự hỗn độn mà là trật tự kinh tế “Một nền kinh tế thị trường làmột cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanhnghiệp thông qua hệ thống giá cả thị trường Nó là một phương tiện giao tiếp
để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá nhân khác mà máy tính lớnnhất ngày nay không thể giải nổi Không ai thiết kế ra nó Nó tự nhiên vàcũng như xã hội loài người nó thay đổi”
Trang 9Thị trường là một quá trình mà trong đó, người mua và người bán mộtthứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hànghoá Như vậy, nói đến thị trường và cơ chế thị trường là phải nói tới hàng hoá,người bán và người mua, giá cả hàng hoá Hàng hoá bao gồm hàng tiêu dùng,dịch vụ và yếu tố sản xuất như: lao động, đất đai, tư bản Từ đó hình thànhnên thị trường hàng tiêu dùng và thị trường các yếu tố sản xuất Trong hệthống thị trường mỗi hàng hoá, mỗi loại dịch vụ đều có giá cả của nó Giá cảmang lại thu nhập cho hàng hoá mang đi bán Và mỗi người lại dùng thu nhậpmua cái mình cần Nếu một loại hàng hoá nào đó có nhiều người mua thìngười bán sẽ tăng giá lên để phân phối nội cung hạn chế Giá lên cao sẽ thúcđẩy người sản xuất làm ra nhiều hàng hoá hơn Khi có nhiều hàng hoá, ngườibán muốn bán nhanh để giải quyết hàng của mình nên hạ giá xuống Khi giá
hạ, người mua hàng đó tăng lên Do đó, người bán lại tăng giá lên Như vậy,trong cơ chế thị trường có một hệ thống tự tạo ra sự cân đối giữa giá cả và sảnxuất “Giá cả là phương tiện tín hiệu của xã hội” Nó chỉ cho người ta biết sảnxuất cái gì? sản xuất như thế nào? và cũng thông qua đó nó thực hiện phânphối cho ai
Nói đến cơ chế thị trường là phải nói tới cung - cầu hàng hoá, đó làkhái quát của hai lực lượng người bán và người mua trên thị trường Sự biếnđộng của giá cả làm cho trạng thái cân bằng cung - cầu thường xuyên biến đổi
và đó cũng chính là nội dung quy luật cung - cầu hàng hoá
Nền kinh tế thị trường chịu điều khiển của hai ông vua: người tiêu dùng
và kỹ thuật Người tiêu dùng thống trị thị trường, vì họ là người bỏ tiền ramua hàng hoá do các doanh nghiệp sản xuất ra Hay như ông nói: “Người tiêudùng bỏ phiếu bằng đôla, họ chọn điểm nằm trên ranh giới khả năng sản xuấtsong kỹ thuật hạn chế vì nền sản xuất không thể vượt giới hạn khả năng sảnxuất, do vậy lá phiếu bằng đô la của người tiêu dùng mua, không thể quyếtđịnh vấn đề sản xuất phải sản xuất hàng gì Như vậy, nhu cầu phải chạy theo
Trang 10cung ứng của người kinh doanh Vì người sản xuất phải định giá hàng củamình theo chi phí sản xuất nên họ sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực nhiều lợinhuận hơn Như vậy, thị trường chịu sự chi phối của cả chi phí kinh doanh,lẫn các quyết định cung - cầu của người tiêu dùng quy định Ở đây, thị trườngđóng vai trò mô giới trung gian hoá giải giữa sở thích người tiêu dùng với hạnchế về kỹ thuật.
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là động lực chi phối hoạt độngcủa người kinh doanh Lợi nhuận đưa các doanh nghiệp đến với khu vực sảnxuất hàng hoá mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực có ít ngườitiêu dùng Lợi nhuận cần đưa các nhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuậtsản xuất hiệu quả nhất Như vậy, hệ thống thị trường luôn phải dùng lãi và lỗ
để quyết định ba vấn đề: cái gì, thế nào và cho ai
Kinh tế thị trường phải được hoạt động trong môi trường cạnh tranh docác quy định kinh tế khách quan chi phối Trong “kinh tế học” P.A.Samuelsonvận dụng nguyên lý “bàn tay vô hình” của A.Smith và nguyên lý “cân bằngtổng quát” của Leon Walras để phân tích môi trường hoạt động của kinh tế thịtrường Để phân tích cạnh tranh thị trường, ông đã vận dụng lý thuyết chi phíbất biến của John Maurice Clark, lý thuyết ba nhân tố sản xuất của J.B Say,J.S.Mill, lý thuyết hiệu quả của Pareto nhằm đề ra các chiến lược thị trường,bảo đảm cho các tổ chức độc quyền thu được nhiều lợi nhuận nhất
Nghiên cứu sự hoạt động của cơ chế thị trường, P.A.Samuelson cũngchỉ rõ: Bàn tay vô hình đôi khi cũng đưa nền kinh tế tới những sai lầm Đóchính là những khuyết tật của hệ thống kinh tế thị trường Những khuyết tậtnày có thể là do tác động bên ngoài gây nên như ô nhiễm môi trường màdoanh nghiệp không phải trả cho sự huỷ hoại đó; hoặc là những thất bại thịtrường do tình trạng độc quyền phá hoại cơ chế tự do cạnh tranh; hoặc là các
tệ nạn như khủng hoảng, thất nghiệp Và cuối cùng là sự phân phối thu nhậpbất bình đẳng do hệ thống thị trường mang lại Để đối phó với những khuyết
Trang 11tật của cơ chế thị trường, các nền kinh tế hiện đại phối hợp giữa “bàn tay vô
hình” với “bàn tay hữu hình” như thuế khoá, chi tiêu và luật lệ của Chính
phủ
1.3.2 Vai trò của Chính phủ trong kinh tế thị trường
1.3.2.1 Vai trò của Chính phủ
Chính phủ có 4 chức năng chính trong nền kinh tế thị trường
Chức năng thứ nhất là thiết lập khuôn khổ pháp luật Chức năng này
thực tế vượt ra ngoài khuôn khổ của lĩnh vực kinh tế học Ở đây Chính phủ đề
ra các quy tắc trò chơi kinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cảbản thân Chính phủ cũng phải tuân thủ Điều này bao gồm quy định về tài sản(tài sản tư nhân là như thế nào?, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinhdoanh, các trách nhiệm tương hỗ của các liên đoàn lao động, ban quản lý vànhiều luật để xác định môi trường kinh tế
Chức năng thứ hai là sửa chữa những thất bại của thị trường để thị
trường hoạt động có hiệu quả
Trước hết, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động
của nó không hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền Cần phải nói rằng, lợidụng ưu thế của mình, các tổ chức độc quyền có thể quy định giá cả để thu lợinhuận và do vậy phá vỡ ưu thế của cạnh tranh hoàn hảo Vì vậy, cần thiết phải
có sự can thịêp của Chính phủ để hạn chế độc quyền, đảm bảo tính hiệu quảcủa cạnh tranh thị trường
Thứ hai, là những tác động bên ngoài cũng dẫn đến tính không hiệu
quả của hoạt động thị trường và đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp
Tác động bên ngoài xảy ra khi doanh nghiệp hoặc con người tạo ra chiphí lợi ích cho doanh nghiệp khác Hoặc người khác mà các doanh nghiệphoặc con người đó không phải trả hoặc được nhận đúng những lợi ích mà họcần phải trả hay được nhận
Thứ ba, Chính phủ phải đảm nhiệm việc sản xuất hàng hoá công cộng.
Trang 12Theo các các nhà kinh tế, hàng hoá tư nhân là một loại hàng hoá mà nếu nhưmột người đã dùng thì người khác không thể dùng được nữa Còn hàng côngcộng là một loại hàng hoá mà khi một người đã dùng thì người khác vẫn cóthể dùng được
Ích lợi giới hạn của hàng hoá công cộng đối với xã hội và tư nhân làkhác nhau Nhìn chung, ích lợi giới hạn mà tư nhân thu được từ hàng hoácông cộng là rất nhỏ Vì vậy, tư nhân thường không muốn sản xuất hàng hoácông cộng Mặt khác, có nhiều hàng hoá công cộng có ý nghĩa quan trọng choquốc gia như: hàng hoá quốc phòng, luật pháp, trật tự trong nước nên khôngthể giao cho tư nhân được Vì vậy, Chính phủ phải đảm nhận sản xuất hànghoá công cộng
Thứ tư, là thuế Trên thực tế, phần chi phí của Chính phủ phải được trả
bằng tiền thuế thu được Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế Sựthực là toàn bộ công dân tự mình lại gánh nặng thuế lên vai mình và mỗi côngdân cũng được hưởng phần hàng hoá công cộng do Chính phủ cung cấp
Chức năng thứ ba là đảm bảo sự công bằng Trong điều kiện hoạt
động hoàn hảo nhất, lý tưởng nhất của cơ chế thị trường thì vẫn thấy rằng sựphân hoá bất bình đẳng sinh ra từ kinh tế thị trường là tất yếu Một hệ thốngthị trường có hiệu quả vẫn có thể gây ra sự bất bình đẳng lớn Vì vậy, Chínhphủ cần thiết phải thông qua những chính sách để phân phối thu nhập Công
cụ quan trọng nhất của Chính phủ là thuế luỹ tiến, đánh thuế người giàu tỷ lệthu nhập lớn hơn người nghèo Thông thường thuế luỹ tiến áp dụng cho thuếthu nhập và thuế thừa kế Bên cạnh thuế phải có hệ thống hỗ trợ thu nhập đểgiúp cho người già, người mù, người tàn tật, người phải nuôi con và bảo hiểmthất nghiệp không có công ăn việc làm Hệ thống thanh toán chuyển nhượngnày tạo ra mạng lưới an toàn bảo vệ những người không may khỏi bị huỷ hoại
về kinh tế
Trang 13Cuối cùng, Chính phủ đôi khi phải trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm
dân cư có thu nhập thấp bằng cách phát tem phiếu thực phẩm, trợ cấp y tế,cho thuê nhà rẻ…
Chức năng thứ tư: là ổn định kinh tế vĩ mô Từ khi ra đời, CNTB đã
từng gặp những thăng trầm chu kỳ của lạm phát (giá cả tăng) và suy thoái(nạn thất nghiệp rất cao) đôi khi thời kỳ siêu lạm phát ở Đức trong những năm
20, thời kỳ đại suy thoái ở Mỹ trong những năm 30 của thế kỷ XX
Chính phủ thực hiện các chức năng trên đây thông qua ba công cụ làcác loại thuế, các khoản chi tiêu lãi suất, thanh toán chuyển nhượng, khốilượng tiền tệ và những quy định hay kiểm soát Thông qua thuế, Chính phủđiều tiết tiêu dùng, đầu tư của tư nhân khuyến khích hoặc hạn chế hoạt độngkinh doanh của doanh nhân Các khoản chi tiêu của Chính phủ sẽ thúc đẩy cácdoanh nghiệp hay công nhân sản xuất ra một số hàng hoá hay dịch vụ và cảnhững việc chuyển tiền nhằm hỗ trợ cấp thu nhập (như bảo hiểm, trợ cấp thấtnghiệp…) Những quy định hay kiểm soát của Chính phủ cũng là nhằmhướng nhân dân đi vào hoặc từ bỏ những hoạt động kinh doanh
Khi thực hiện các chức năng kinh tế, Chính phủ đưa ra quyết định vềphương án lựa chọn Từ đó, hình thành nên lý thuyết lựa chọn công cộng Sựlựa chọn công cộng là một sự tập hợp các ý thức cá nhân thành một sự lựachọn tập thể Theo quy tắc nhất trí tất cả các quyết định đều phải nhất tríthông qua Công cụ để phân tích sự lựa chọn công cộng là đường giới hạn khảnăng - giá trị sử dụng Ở đây, các nhà kinh tế học sử dụng lý thuyết giới hạn
và hiệu quả Pareto
1.3.2.2 Hạn chế của Chính phủ
Cũng như “bàn tay vô hình”, “bàn tay hữu hình” hay sự can thiệp của
Nhà nước cũng có những hạn chế và khuyết tật chẳng hạn như:
- Có nhiều vấn đề Nhà nước lựa chọn không đúng