1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu các nội dung, đặc điểm của học thuyết nền kinh tế hỗn hợp Paul A. Samuelson

22 4,5K 28
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 200,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1. Mục đích, mục tiêu đề tài 2 2. Tính cấp thiết 2 3. Phương pháp nghiên cứu 2 PHẦN NỘI DUNG I. Nội dung Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp 3 1.1 Bối cảnh ra đời 3 1.2 Nội dung lý thuyết 4 1.2.1 Cơ chế thị trường 5 1.2.2 Vai trò chính phủ trong kinh tế thị trường 8 1.2.3 Lý luận về giới hạn “khả năng sản xuất” và “sự lựa chọn” 11 1.2.4 Lý luận về thất nghiệp 14 1.2.5 Lý luận về lạm phát 16 II. Liên hệ với thực tiễn Việt Nam 17 2.1 Bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi 17 2.1.1 Trước năm 1986 17 2.1.2 Sau năm 1986 18 2.2 Đặc điểm mô hình nền kinh tế tổng quát của Việt Nam 18 2.3 Quan điểm và kiến nghị liên hệ tới mô hình kinh tế Việt Nam 19 PHẦN KẾT LUẬN 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỮ VIẾT TẮT CNXH chủ nghĩa xã hội CNTB chủ nghĩa tư bản TBCN tư bản chủ nghĩa XHCN xã hội chủ nghĩa Mở đầu 1. Mục đích, mục tiêu của đề tài: Tìm hiểu các nội dung, đặc điểm của học thuyết nền kinh tế hỗn hợp Paul A. Samuelson, từ đó rút ra ý nghĩa về mặt phương pháp luận và thực tiễn khi vận dụng các luận điểm của học thuyết vào các nền kinh tế nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng. 2. Tính cấp thiết của đề tài: Khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra năm 20082009, hậu quả của nó làm tê liệt nhiều nền kinh tế, nhiều quốc gia vẫn chưa thoát khỏi thảm trạng phát triển âm trong năm 2010. Kéo theo sự khủng hoảng kinh tế là sự khủng hoảng của kinh tế học, các trường đại học danh tiếng và những nhà kinh tế học khắp toàn cầu cũng đã đặt vấn đề phải xem lại vai trò của kinh tế học đối với khả năng ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Các học thuyết kinh tế, với nhiều trường phái khác nhau được đem ra mổ xẻ. P.A. Samuelson – nhà kinh tế học đạt giải Nobel kinh tế năm 1970 từng nói trước khi mất tháng 12 năm 2009 như sau trong một buổi phỏng vấn: “Khủng hoảng đã được báo trước, chỉ cần đọc lại lịch sử các học thuyết kinh tế…”. Thậm chí nhiều nơi, các trang sách về học thuyết kinh tế của Marx cũng được tìm đọc và nghiên cứu trở lại. Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ, mức độ giao thương với thế giới chưa cao, nhưng cũng không tránh khỏi tác động của cuộc khủng hoảng. Năm 2009, tăng trưởng GDP chỉ đạt 5,3% thấp hơn mức 6,7% năm 2008. Tiếp tục phát triển kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam với mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, chắc chắn rằng sẽ còn bị ảnh hưởng không ít trong năm 2010. Vì vậy, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế học như hiện nay thì việc nghiên cứu, tham khảo các học thuyết kinh tế, đặc biệt là học thuyết nền kinh tế hổn hợp là rất cần thiết để góp phần củng cố, điều chỉnh và vận dụng sáng tạo vào mô hình kinh tế tổng quát Việt Nam đã lựa chọn. 3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu: Để nghiên cứu một cách sâu sắc học thuyết nền kinh tế hỗn hợp, các tác giả đã sử dụng một hệ thống tổng hợp các phương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp; phương pháp lịch sử và đối chiếu; phương pháp luận duy vật biện chứng; phương pháp khoa học và tổng hợp các quan điểm kinh tế, các xu hướng, các trường phái kinh tế học khác nhau. Phạm vi nghiên cứu bao gồm hầu hết các nội dung của học thuyết: về cơ chế thị trường, vai trò chính phủ trong nền kinh tế thị trường, về giới hạn khả năng sản xuất và sự lựa chọn, về thất nghiệp và lạm phát. Và nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là sự vận dụng của học thuyết tại hầu hết các quốc gia TBCN những năm 5060. Nội dung I. Nội dung lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp 1.1 Bối cảnh ra đời Sau thế chiến thứ II, do nhu cầu cần phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh, nên tại hầu hết các quốc gia đều có sự tham gia trực tiếp của nhà nước vào các hoạt động kinh tế đồng thời phải đảm bảo tính thị trường và tôn trọng các quy luật kinh tế khách quan nhằm khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư. Do đó, cần phải có một trường phái kinh tế học làm kim chỉ nam và cơ sở lý luận cho các chính sách và quyết định của nhà nước trong quá trình điều hành nền kinh tế.

Trang 2

Mở đầu

1 Mục đích, mục tiêu của đề tài:

Tìm hiểu các nội dung, đặc điểm của học thuyết nền kinh tế hỗn hợp - Paul A.Samuelson, từ đó rút ra ý nghĩa về mặt phương pháp luận và thực tiễn khi vận dụng cácluận điểm của học thuyết vào các nền kinh tế nói chung và nền kinh tế Việt Nam nóiriêng

2 Tính cấp thiết của đề tài:

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra năm 2008-2009, hậu quả của nó làm tê liệtnhiều nền kinh tế, nhiều quốc gia vẫn chưa thoát khỏi thảm trạng phát triển âm trong năm

2010 Kéo theo sự khủng hoảng kinh tế là sự khủng hoảng của kinh tế học, các trường đạihọc danh tiếng và những nhà kinh tế học khắp toàn cầu cũng đã đặt vấn đề phải xem lạivai trò của kinh tế học đối với khả năng ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trong tương lai

Các học thuyết kinh tế, với nhiều trường phái khác nhau được đem ra mổ xẻ P.A.Samuelson – nhà kinh tế học đạt giải Nobel kinh tế năm 1970 từng nói trước khi mấttháng 12 năm 2009 như sau trong một buổi phỏng vấn: “Khủng hoảng đã được báo trước,chỉ cần đọc lại lịch sử các học thuyết kinh tế…” Thậm chí nhiều nơi, các trang sách vềhọc thuyết kinh tế của Marx cũng được tìm đọc và nghiên cứu trở lại

Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ, mức độ giao thương với thế giớichưa cao, nhưng cũng không tránh khỏi tác động của cuộc khủng hoảng Năm 2009, tăngtrưởng GDP chỉ đạt 5,3% thấp hơn mức 6,7% năm 2008 Tiếp tục phát triển kinh tế trong

xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam với mô hình kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, chắc chắn rằng sẽ còn bị ảnh hưởng không ít trong năm 2010 Vì vậy,trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế học như hiện nay thì việc nghiên cứu, tham khảo cáchọc thuyết kinh tế, đặc biệt là học thuyết nền kinh tế hổn hợp là rất cần thiết để góp phầncủng cố, điều chỉnh và vận dụng sáng tạo vào mô hình kinh tế tổng quát Việt Nam đã lựachọn

3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu:

Để nghiên cứu một cách sâu sắc học thuyết nền kinh tế hỗn hợp, các tác giả đã sửdụng một hệ thống tổng hợp các phương pháp như: phương pháp duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử; phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp; phương pháp lịch sử vàđối chiếu; phương pháp luận duy vật biện chứng; phương pháp khoa học và tổng hợp cácquan điểm kinh tế, các xu hướng, các trường phái kinh tế học khác nhau

Phạm vi nghiên cứu bao gồm hầu hết các nội dung của học thuyết: về cơ chế thịtrường, vai trò chính phủ trong nền kinh tế thị trường, về giới hạn khả năng sản xuất và sựlựa chọn, về thất nghiệp và lạm phát Và nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là sựvận dụng của học thuyết tại hầu hết các quốc gia TBCN những năm 50-60

Trang 3

Trong quá trình phê phán học thuyết Keynes, những nhà kinh tế học “ Tân cổđiển” không thể phủ nhận vai trò ngày càng tăng của nhà nước tư bản trong điều chỉnhkinh tế, mặc dù họ chỉ thừa nhận sự can thiệp đó trong phạm vi hạn chế Đồng thời nhữngngười “Keynes mới”, “Keynes chính thống” cũng nhận thấy những khuyết điểm trong họcthuyết Keynes về vai trò của cơ chế tự điều chỉnh trong phát triển kinh tế Vì vậy, trongnhững năm 60 – 70 của thế kỷ 20, diễn ra sự xích lại giũa hai trường phái “ Keynes chínhthống ” và “ tân cổ điển” hình thành “ kinh tế học của trường phái chính hiện đại”

Đặc điểm cơ bản về phương pháp luận của trường phái chính hiện đại là: trên cơ sởkết hợp các lý thuyết của trường phái Keynes mới và trường phái tân cổ điển Họ sử dụngmột cách tổng hợp các quan điểm kinh tế của các xu hướng, trường phái kinh tế học khác

để đưa ra các lý thuyết kinh tế của mình, nhằm làm cơ sở lý thuyết cho hoạt động của cácdoanh nghiệp và chính sách kinh tế của nhà nước tư sản

Sự thể hiện rõ ràng nhất của đặc điểm này được trình bày trong cuốn Kinh tế họccủa Paul A Samuelson Ông là người sáng lập ra Khoa Kinh tế học của Trường Đại học

kỹ thuật Massachusetts dành cho những người đã tốt nghiệp Đại học Chicago vàHarvrand Ông là cố vấn lý thuyết cho Ngân hàng dự trữ liên bang, ngân khố Hoa Kỳ vànhiều tổ chức tư nhân Năm 1970, ông được nhận giải thuởng Nobel về kinh tế Ông là tácgiả của cuốn Kinh tế học xuất bản lần đầu tiên năm 1984 tại New York (đến năm1985được tái bản lần thứ 12, năm 1989 được dịch ra tiếng Việt)

Đặc điểm nổi bật trong Kinh tế học là đã vận dụng một cách tổng hợp phươngpháp và nội dung của các trường phái trong lịch sử Cụ thể là sự kết hợp hết sức hài hòagiữa trường phái kinh tế tự do “bàn tay vô hình” của Adam Smith và trường phái “bàn tayhữu hình” của J.M Keynes

Trường phái đạt đến thời kỳ hoàng kim trong thập niên 1960 Nó là phái chủ lưutrong tư tưởng kinh tế học vĩ mô lúc đó Chính quyền Kennedy ở Mỹ và chính quyềnnhiều nước phương Tây khác đã tích cực áp dụng học thuyết của trường phái này

Sang thập niên 1970, liên tiếp những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn nổ ra, thấtnghiệp và lạm phát cùng gia tăng (đình lạm) Ngoài ra, thâm hụt ngân sách và thâm hụt

Trang 4

thương mại xảy ra đồng thời (thâm hụt kép) Các lý luận của kinh tế học vĩ mô tổng hợpkhông giải thích nổi những hiện tượng kinh tế nói trên, nên bắt đầu thoái trào.

1.2 Nội dung Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp

Đây là tư tưởng trung tâm của kinh tế học trường phái chính hiện đại Nó được

trình bày rất rõ trong Kinh tế học của P.A Samuelson Mầm mống của quan điểm “Kinh

tế hỗn hợp” có từ những năm cuối của thế kỷ XIX Sau thời kỳ chiến tranh, nó được cácnhà kinh tế học Mỹ, như A Haxen, tiếp tục nghiên cứu Tư tưởng này được phát triển

trong Kinh tế học của P.A Samuelson.

Trường phái này hình thành trước tiên ở Mỹ vào thập niên 1950, với các đại biểunhư Paul Anthony Samuelson, James Tobin và Franco Modigliani Song, chính Hicks làngười sử dụng phân tích IS-LM để diễn giải lý luận của Keynes dưới hình thức cân bằngtổng thể đã mở đầu trường phái này Tuy nhiên, phân tích IS-LM mới đầu của Hickskhông làm được một việc theo ý Keynes là gắn khu vực kinh tế thực với khu vực tiền tệ.Trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp đã giải quyết được thiếu sót này của Hicks bằngđường cong Phillips Đường này cho thấy khi việc làm tăng lên (nghĩa là thất nghiệpgiảm) thì lạm phát cũng gia tăng

Nếu các nhà kinh tế học phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với “ban tay vô hình”

và “cân bằng tổng quát”, trường phái Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay nhànước”, thì quan điểm của trường phái nền kinh tế hỗn hợp là cơ chế thị trường để pháttriển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay” đó là cơ chế thị trường và nhà nước Ông cho

rằng “điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ lẫn thị trường thì cũng như định vỗ tay chỉ bằng một bàn tay” để phân tích những vấn đề của kinh tế hàng hoá phát

triển Chịu ảnh hưởng của tư tưởng “giới hạn”, ông cho rằng, việc tổ chức nền kinh tếphải tuân theo các qui luật khan hiếm, phải lựa chọn các khả năng sản xuất, phải tính tớiqui luật năng suất giảm dần và chi phí tương đối ngày càng tăng Ông sử dụng cả phươngpháp phân tích vĩ mô và phân tích vi mô để trình bày các vấn đề kinh tế học

1.2.1 Cơ chế thị trường

Theo P.A.Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó,

cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau thị trường để xác định

ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là: Cái gì? Như thế nào? Cho ai? Cơ chế thịtrường “Không phải là sự hỗn hợp mà là trật tự kinh tế” “Một nền kinh tế thị trường làmột cơ chế tinh vi để phối hợp một cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệp thôngqua hệ thống giá cả thị trường Nó là một phương tiện liên thông để tập hợp trí thức vàhành động của hàng triệu cá nhân khác nhau, không có bộ não trung tâm nó vẫn giải đượcbài toàn mà máy tính lớn nhất ngày nay không thể giải nổi Không ai thiết kế ra nó, nó tựnhiên xuất hiện, và cũng như xã hội loài người, nó đang thay đổi”

Thị trường là một quá trình mà trong đó, người mua và người bán một thứ hànghoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá Như vậy, nói đếnthị trưòng và cơ chế thị trường là phải nói tới hàng hoá, người bán và người mua, giá cả

Trang 5

và sản lượng hàng hoá Hàng hoá bao gồm hàng tiêu dùng, dịch vụ và yếu tố sản xuất nhưlao động, đất đai, tư bản Từ đó, hình thành nên thị trường hàng tiêu dùng và thị trườngcác yếu tố sản xuất

Trong hệ thống thị trường, mỗi hàng hoá, mỗi loại dịch vụ đều có giá cả của nó.Giá cả mang lại thu nhập cho hàng hoá mang đi bán Và mỗi người lại dùng thu nhập đómua cái mình cần Nếu một loại hàng hoá nào đó có nhiều người mua, thì người bán sẽtăng giá lên để phân phối một lượng cung hạn chế Giá lên cao sẽ tăng giá lên để phânphối một lượng cung hạn chế Giá lên cao sẽ thúc đẩy người sản xuất làm ra nhiều hànghoá hơn Khi có nhiều hàng hoá, người bán muốn mua nhanh để giải quyết hàng của mìnhnên hạ giá xuống Khi giá hạ, số người mua hàng đó tăng lên Do đó, người bán lại giálên Như vậy, trong cơ chế thị trường có một hệ thống tự tạo ra sự cân đối giữa giá cả vàsản xuất “Giá cả là phương tiện phát tín hiệu của xã hội” Nó chỉ cho người sản xuất biếtsản xuất cái gì và sản xuất như thế nào và cũng thông qua đó nó thực hiện phân phối choai

Nói đến cơ chế thị trường là phải nói tới cung - cầu hàng hoá, đó là khái quát củahai lực lượng người bán và người mua trên thị trường Sự biến động của giá đã làm chotrạng thái cân bằng cung - cầu thường xuyên biến đổi và đó cũng chính là nội dung luậtcung - cầu hàng hoá

Nền kinh tế thị trường chịu điều khiển của hai ông vua: người tiêu dùng và kỹthuật Người tiêu dùng thống trị thị trường, vì họ là người bỏ tiền để mua hàng hoá do cácdoanh nghiệp sản xuất ra Hay như ông nói, người tiêu dùng bỏ phiếu bằng đôla Họ chọnđiểm nằm trên ranh giới khả năng sản xuất Song, kỹ thuật hạn chế người tiêu dùng dùnền sản xuất không vượt giới hạn khả năng sản xuất Do vậy, lá phiếu bằng đôla củangười mua, không thể quyết định vấn đề phài sản xuất hàng gì Như vậy, nhu cầu phảichịu theo cung ứng của người kinh doanh Vì người sản xuất phải định giá hàng hóa củamình theo chi phí sản xuất Nên họ sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực nhiều lợi nhuận hơn,

bỏ các khu vực không có lợi Như vậy, sản xuất cái gì là phải do cả chi phí kinh doanh,lẫn các quyết định cung và cầu của người tiêu dùng quy định Ở đây, thị trường đóng vaimôi giới trung gian hoà giải sở thích người tiêu dùng và sự hạn chế kỹ thuật

Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là động lực chi phí phối hoạt động củangười kinh doanh Lợi nhuận đưa nhà doanh nghiệp đến các khu vực sản xuất hàng hoá

mà người tiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực có ít người tiêu dùng Lợi nhuận đưanhà doanh nghiệp đến việc sử dụng kỹ thuật sản xuất quả nhất Như vậy, hệ thống thịtrường luôn phải dùng lãi và lỗ để quyết định ba vấn đề: cái gì, thế nào và cho ai

Kinh tế thị trường phải được hoạt động trong môi trường cạch tranh do các qui luậtkinh tế khách quan chi phối Trong kinh tế học, Samuelson vận dụng nguyên lý “bàn tay

vô hình”, “không can thiệp”của A Smith và nguyên lý “thăng bằng tổng quát” của LeonWalras để phân tích môi trường hoạt động của kinh tế thị trường Để phân tích cạnh tranhthị trường, ông đã vận dụng lý thuyết chi phí bất biến, khả biến của John Maurice Clark,

lý thuyết ba nhân tố sản xuất của J B Say J S Mill, lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo

Trang 6

của Jean Robinson, lý thuyết hiệu quả của Pareto Nhằm đề ra các chiến lược thị trường,bảo đảm cho các tổ chức độc quyền thu được nhiều lợi nhuận nhất.

Tổng hợp sự phân tích cơ chế thị trường được thể hiện trong hình vẽ hệ thống giá

cả cạnh tranh sử dụng thị trường cung - cầu để giải quyết ba vấn đề kinh tế: cái gì, thế nào

và cho ai

Trong sơ đồ này, các nhà kinh tế học trường phái chính đã phân phối chia thịtrường thành hai loại thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ hay thị trường đầu ra và thịtrường yêu tố sản xuất hay thị trường đầu vào Hai thị trường này tách biệt với nhau, song

có quan hệ với nhau qua hoạt động của doanh nghiệp và hộ gia đình Doanh nghiệp là nơisản xuất hàng hoá để bán trên thị trường hàng hoá và dịch vụ, vì vậy, trên thị trường nàydoanh nghiệp là sức cung, cung hàng hoá của doanh nghiệp hoạt động tuân theo nguyên

lý chi phí sản xuất, điều này có nghĩa, khi giá cả hàng hoá trên thị trường càng cao thìdoanh nghiệp càng bán ra một khối lượng hàng hoá lớn hơn Để có thể tiến hnàh sản xuất,doanh nghiệp phải mua yếu tố sản xuất (lao động, đất đai, vốn) trên thị trường yếu tố sảnxuất Do vậy, trên thị trường này, doanh nghiệp là sức cầu Cầu của doanh nghiệp về cácyếu tố sản xuất được tuân theo nguyên tắc ích lợi giới hạn Điều này có nghĩa là doanhnghiệp sẽ mua khối lượng yếu tố sản xuất lớn hơn khi giá cả của các yếu tố sản xuất giảmxuống

Hộ gia đình là những người triêu dùng hàng hoá và dịch vụ Vì vậy, trên thị trường

“đầu ra”, hộ gia đình là sức cầu Cầu về hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ của hộ gia đìnhcũng tuân theo nguyên tắc ích lợi giới hạn Để có tiền mua hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ,

hộ tiêu dùng phải xuất hiện trên thị trường “đầu vào” để bán yêu tố sản xuất nào đó hoặc

là lao động nếu anh ta công nhân, hoặc là đất đai nều anh ta là địa chủ, hoặc là tư bản nếu

là người có vốn, có tư bản Vì vậy, trên thị trường “đầu vào” hộ gia đình là sức cung, sứccung của hộ gia đình được xác định theo nguyên tắc thích nghỉ ngơi hay thích làm việc,thích tiêu dùng hiện tại hay thích tiêu dùng tương lai hoặc là sở hữu đất đai Chẳng hạn,nếu hộ gia đình thích nghỉ ngơi thì họ chỉ bán lao động khi có tiền lương cao và ngược lại.Nếu vốn được dùng cho mục đích tiêu dùng tương lai thì lãi suất thấp, người có vốn vẫncho vay vốn…

Đồng tiền được vận động theo qui trình vòng tròn, khép kín Nó đi từ hộ tiêu dùng

ra thị trường hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ để mua hàng hoá Thông qua giá cả quan hệcung cầu, tiền trở về tay các doanh nghiệp Doanh nghiệp lại dùng tiền đó mua các yếu tốsản xuất Thông qua quan hệ cung cầu và giá trị cả, nó lại trở về với hộ gia đình

Với cớ chế vận động như vậy của thị trường, khi diễn ra sự thay đổi giá cả trên thịtrường đầu vào sẽ làm cho giá cả ở đây thay đổi Vì vậy, nền kinh tế sẽ đạt được một cânđối chung Sự phát triển diễn ra nhịp nhàng trôi chảy

Bàn tay vô hình đôi khi cũng đưa nên kinh tế tới những sai lầm Đó chính là nhữngkhuyết tật của hệ thống kinh tế thị trường Những khuyết tật này có thể là do tác động bênngoài gây nên, như ô nhiễm môi trường mà doanh nghiệp không phải trả cho sự huỷ hoạiđó; hoặc là những thất bại thị trường do tình trạng độc quyền phá hoại cơ chế tự do cạnh

Trang 7

tranh; hoặc là các tệ nạn như khủng hoảng, thất nghiệp Và cuối cùng là sự phân phối thunhập bất bình đẳng do hệ thống thị trường mang lại Để đối phó với những khuyết tật của

cơ chế thị trường, các nền kinh tế hiện đại phối hợp giữa “bàn tay vô hình” với “bàn tayhữu hình” như thuế khoá, chi tiêu và luật lệ của chính phủ

1.2.2 Vai trò chính phủ trong kinh tế thị trường

Chính phủ có 4 chức năng chính trong nền kinh tế thị trường

Chức năng thứ nhất là thiết lập khuôn khổ pháp luật Chức năng này thực tế vượt

ra ngoài khuôn khổ của lĩnh vực kinh tế học Ở đây, chính phủ đề ra các qui tắc trò chơikinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân chính phủ cũng tuân thủ.Điều này bao gồm qui định về tài sản (tài sản tư nhân là như thế nào?), các qui tắc về hợpđồng và hoạt động kinh doanh, các trách nhiệm tương hỗ của các liên đoàn lao động, banquản lý và nhiều các luật lệ để xác định môi trường kinh tế

Về nhiều mặt, các quyết định của khuôn khổ pháp luật xuất phát từ những mốiquan hệ vượt ra ngoài lĩnh vực kinh tế đơn thuần Các luật lệ đưa ra nhằm đáp ứng nhữnggiá trị và quan điểm được đồng tình rộng rãi về sự công bằng hơn là qua một sự phân tíchkinh tế được mài dũa cẩn thận về chi phí và lợi lộc Nhưng khuôn khổ pháp luật có thể tácđộng sâu sắc tới các ứng xử kinh tế của con người

Chức năng thứ hai là sửa chữa những thất bại của thị trường để thị trường hoạt

động có hiệu quả

Trước hết, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động của nó khônghiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền Cần phải nói rằng, lợi dụng ưu thế của mình, các tổchức độc quyền có thể quy định giá cả thu lợi nhuận và do vậy, phá vỡ ưu thế của cạnhtranh hoàn hảo Vì vậy, cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ để hạn chế độcquyền, đảm bảo tính hiệu quả của cạnh tranh thị trường Như đã biết, cạnh tranh hoàn hảo

là tình trạng thị trường có đủ một số lượng doanh nghiệp hoặc mức độ cạnh tranh màkhông có một doanh nghiệp nào có thể ảnh hưởng đến giá cả hàng hoá đó Điều đó đảmbảo được ganh đua của những người sản xuất, đảm bảo tính hiệu quả của nền kinh tế

Song, cạnh tranh không hoàn hảo hay độc quyền thì một người cạch tranh khônghoàn hảo có thể làm thay đổi giá trị cả của mặt hàng nào đó Vì người độc quyền trên thực

tế là người duy nhất cấp một mặt hàng cụ thể đó, vì vậy, có khả năng qui định giá cả cao

để thu siêu lợi nhuận Tình trạng đó làm cho giá cả cao hơn mức hiệu quả, làm biến dạng

về cầu và sản xuất, xuất hiện siêu lợi nhuận Những lợi nhuận này có thể được sử dụngnhững hoạt động vô ích như quảng cáo lừa dối, mua ảnh hưởng và bảo hộ của ngành lậppháp

Vì vậy, chính phủ không thể coi mọi hoạt động của độc quyền là tất yếu Chínhphủ cần đưa ra các luật chống độc quyền và luật lệ kinh tế để làm tăng hiệu quả của hệthống thị truờng cạnh tranh không hoàn hảo

Thứ hai, những tác động bên ngoài cũng dẫn đến tính không hiệu quả của hoạtđộng của thị trường và đòi hỏi nhà nước phải can thiệp “Tác động bên ngoài xảy ra khi

Trang 8

doanh nghiệp hoặc con người tạo ra chi phí - lợi ích cho doanh nghiệp khác, hoặc ngườikhác mà các doanh nghiệp hoặc con người đó không được nhận đúng những lợi ích mà họcần được nhận hoặc không phải trả đúng số chi phí mà họ phải trả”.

Ví dụ, doanh nghiệp A sử dụng tài nguyên hiếm như không khí hay nước sạch màkhông phải trả tiền cho những người sống trong bầu không khí ô nhiễm hay nước bẩn.Hoặc doanh nghiệp B đóng ở khu dân cư thuê người bảo vệ mặt mũi dữ tợn để cach gácnhà máy của mình, vì vậy, làm cho bạn lưu manh sợ, phải tránh hành nghề ở những nhàdân lân cận mà các hộ gia đình này không phải trả tiền về việc được sống yên ổn chodoanh nghiệp

Những tác động bên ngoài như vậy làm cho hoạt động kinh tế không hiệu quả Vìvậy, chính phủ phải sử dụng đến luật lệ để điều hành kinh tế như là một phương pháp đểngăn chặn những tác động bên ngoài như ô nhiễm nước và không khí, khai thác đến cạnkiệt khoáng sản, chất thải gây nguy hiểm cho thức ăn, đồ uống, thiếu an toàn vì các chấtphóng xạ…

Thứ ba, chính phủ phải đảm nhiệm việc sản xuất các hàng hoá công cộng Theocác nhà kinh tế, hàng hoá tư nhân là một loại hàng hoá mà nếu như một người đã dùng thìngười khác không thể dùng được nữa Còn hàng công cộng là một loại hàng hoá mà khimột người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được Ví dụ, không khí trong sạch vàquốc phòng là hàng hoá công cộng Đặc trưng của hàng hoá công cộng là:

• Về mặt kỹ thuật, một người tiêu dùng mà không làm giảm số lượng sẵn có đốivới người khác

• Không thể loại trừ bất cứ ai ra khỏi việc tiêu dùng này, trừ khi phải trả giá quáđắt

Ích lợi giới hạn của hàng hoá công cộng đối với xã hội và tư nhân là khác nhau.Nhìn chung, ích lợi giới hạn mà tư nhân thu được từ hàng hoá công cộng là rất nhỏ, vìvậy, tư nhân thường không muốn sản xuất hàng hoá công cộng Mặt khác, có nhiều hànghóa công cộng có ý nghĩa quan trọng cho quốc gia như quốc phòng, luật pháp trật tự trongnước nên không thể giao cho tư hân được, vì vậy, chính phủ phải nhảy vào sản xuất hànghoá công cộng

Thứ tư, trên thực tế, phần chi phí của chính phủ phải được trả bằng tiền thuế thuđược, Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế Sự thực là toàn bộ công dân tư mìnhlại đặt gánh nặng thuế lên vai mình, và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng côngcộng do chính phủ cung cấp

Như vậy, chính phủ phải can thiệp vào thị trường để nâng cao hiệu quả của thịtrường Chính phủ đề ra luật lệ đi đường và mua hnàg công cộng như đường sá, do đó, tạođiều kiện dễ dàng cho tư doanh hoạt động trôi chảy, ngăn cản sự lạm dụng của các doanhnghiệp, khi họ trở thành những kẻ tham lam, độc quyền chiếm đường và kiềm chế hoạtđộng của các doanh nghiệp khác

Trang 9

Chức năng thứ ba là đảm bảo sự công bằng trong điều kiện hoạt động hoàn hảo

nhất, lý tưởng nhất của cơ chế thị trường, thì vẫn phải thấy rằng sự phân hoá, bất bìnhđẳng sinh ra từ kinh tế thị trường là tất yếu Một hệ thống thị trường có hiệu quả vẫn cóthể gây ra sự bất bình đẳng lớn Vì vậy, chính phủ cần thiết phải thông qua những chínhsách để phân phối thu nhập Công cụ qua trọng nhất của chính phủ này là thuế luỹ tiến,đánh thuế người giàu theo tỷ lệ thu nhập lớn hơn người nghèo Thông thường, thuế luỹtiến áp dụng cho thuế thu nhập và thế thừa kế Bên cạnh thuế, phải có hệ thống hỗ trợ thunhập để giúp người cho người già, người mù, người tàn tật, người phải nuôi con và bảohiểm thất nghiệp cho nhười không có công việc làm Hệ thống thanh toán chuyển nhượngnày tạo ra mạng lưới an toàn bảo vệ những người không may khỏi bị huỷ hoại về kinh tế

Cuối cùng, chính phủ đôi khi phải trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm có thu nhậpthấp bằng cách phát tem phiếu thực phẩm, trợ cấp y tế, cho thuê nhà rẻ…

Chức năng thư tư là ổn định kinh tế vĩ mô Từ khi ra đời, chủ nghĩa tư bản đã từng

gặp những thăng trầm chu kỳ của lạm phát (giá cả tăng) và suy thoái (nạn thất nghiệp rấtcao) Đôi khi những hiện tượng này rất dữ dội, như thời kỳ siêu lạm phát ở Đức trongnhững năm 20, thời dại suy thoái ở Mỹ trong những năm 30

Nhờ có sự đóng góp trí tuệ của John Maynard Keynes và những người theo ông,

mà chúng ta hiểu rõ nhiều cách làm thế nào để kiểm soát những thăng trầm của chu kỳkinh doanh Giờ đây ta hiểu rằng, việc sử dụng một cách thận trọng quyền lực về tiền tệ

và tài chính của chính phủ có thể ảnh hưởng đến sản lượng, việc làm và lạm phát Quyềnlực về tài chính của chính phủ là quyền đánh thuế và chi tiêu Quyền lực về tiền tệ baohàm quyền điều tiết về tiền tệ và hệ thống ngân hàng để xác định mức lãi suất và điềukiện tín dụng Bằng hai công cụ trung tâm này của chính sách kinh tế vĩ mô, chính phủ cóthể tác động đến sản lượng, công ăn việc làm và giá cả một nền kinh tế và phần nào docác chính sách như vậy, đã thúc đẩy nền kinh tế thị trường trên thế giới mở mang chưatừng có kể từ chiến tranh thế giới lần thứ II đến đầu những năm 70

Nhưng, trong thành công lại có hạt giống của thất bại Bằng cách bảo đảm một thời

kỳ nhiều công ăn, việc làm và tăng trưởng nhanh, nhiều nước đã vô tình nuôi dưỡng mộtnền kinh tế, trong đó, con người bắt đầu cho rằng phồn vinh là lẽ đương nhiên Nhiềunước đảm bảo cho công nhân và người hưởng thu nhập định kỳ mức sống trong điều kiệnthời tiết xấu cũng như thời tiết tốt Trong các hệ thống giá cả, tiền lương và hỗ trợ thunhập có những điểm cứng nhắc Khi những rối loạn của những năm 70 xảy ra như hai lầntăng giá dầu, mất mùa, trục trặc trong hệ thông tài chính quốc tế, chính phủ đã không giữđược lời hứa Trong cuộc đấu tranh về thu nhập, lạm phát tăng vọt và thất nghiệp lên tớimức chưa từng thấy kể từ thời kỳ đại suy thoái

Ngày nay, những người đề ra chính sách nhận thấy rằng một nền kinh tế hiện đạiđứng trước một vấn đề nan giải cơ bản của kinh tế vĩ mô đó là: không nước nào trong mộtthời gian dài có thể có được kinh doanh tự do, lạm phát thấp và việc làm đầy đủ Cũngnhư nền kinh tế thị trường ngày nay không thể có một lượng tối đa vừa thép vừa bơ, mộtnền kinh tế vĩ mô không thể nào vừa đủ công ăn việc làm vừa không có lạm phát

Trang 10

Chính phủ thực hiện các chức năng trên đây thông qua ba công cụ là các loại thuế,các khoản chi tiêu, lãi suất, thanh toán chuyển nhượng, khối lượng tiền tệ và những quiđịnh hay kiểm soát Thông qua thuế, chính phủ điều tiết tiêu dùng, đầu tư của tư nhânkhuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nhân Các khoản chi tiêu củachính phủ sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hay công nhân sản xuất ra một số hàng hoá haydịch vụ, và cả những việc chuyển tiền nhằm trợ cấp thu nhập (như bảo hiểm, phụ cấp thấtnghiệp…) Những qui định hay kiểm soát của chính phủ cũng là nhằm hướng nhân dân đivào hoặc từ bỏ những hoạt động kinh doanh.

Khi thực hiện chức năng kinh tế, chính phủ phải đưa ra quyết định về phương pháplựa chọn Từ đó, hình thành nên lý thuyết lựa chọn công cộng Sự lựa chọn công cộng làmột sự tập hợp các ý thích cá nhân thành một sự lựa chọn tập thể Theo qui tắc nhất trí, tất

cả các quyết định đều phải nhất trí thông qua Công cụ để phân tích sự lựa chọn côngcộng là đường giới hạn khả năng – giá trị sử dụng: ở đây, các nhà kinh tế học sử dụng lýthuyết giới hạn và hiệu quả Pareto để phân tích

Cũng như “ban tay vô hình”, bàn tay hữu hình cũng có khuyết tật, có nhiều vấn đềnhà nước lựa chọn không đúng Ví dụ: một cơ quan lập pháp rơi vào tay những thiểu số;cách vận động hậu trường có nhiều tiền Chính phủ tài trợ cho các chương trình quá lớntrong thời gian dài… Những khuyết tật đó gây ra tính không hiệu quả của sự can thiệpcủa chính phủ Họ đưa ra nhiều quyết định sai, không phản ảnh vận động của thị trường

Do vậy, phải kết hợp các cơ chế thị trường và vai trò của chính phủ trong điều hành nềnkinh tế hiện đại, hình thành nên một “nền kinh tế hỗn hợp” Trong “nền kinh tế hỗn hợp”

có cả cơ chế thị trường và chính phủ Cơ chế thị trường xác định giá cả và sản lượngtrong nhiều lĩnh vực, trong khi đó, chính phủ điều tiết thị trường bằng các chương trìnhthuế, chi tiêu và luật lệ Cả hai bên thị trường và chính phủ đều có tính chất thiết yếu

1.2.3 Lý luận về giới hạn “khả năng sản xuất” và “sự lựa chọn”

Các nhà kinh tế học cho rằng, mọi nền sản xuất đều phải giải quyết ba vấn đề cơbản là: sản xuất cái gì, với số lượng bao nhiêu; sản xuất như thế nào, bằng những côngnghệ và tài nguyên nào; hàng hoá được sản xuất như thế nào, bằng những công nghệ vàtài nguyên nào; hàng hoá được sản xuất ra cho ai

“Do tính chất hạn chế của toàn bộ tài nguyên có thể sản xuất ra hàng hoá, buộc xãhội chỉ được lựa chọn trong số hàng hoá tương đối khan hiếm”

Về thực chất, lý thuyết “lựa chọn” nhằm đưa ra được mô hình số lượng cho ngườitiêu dùng trong điều kiện kinh tế thị trường và trên cơ sở đó, dự đoán được sự thay đổicủa nhu cầu xã hội

Mô hình tiêu biểu là sản xuất ra bơ và thép Trong mô hình này, đường ABCDE(xem hình 7.4) gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất Toàn bộ nền kinh tế, giả sử, sảnxuất ra bơ và thép Với một số lượng lao động, tài nguyên, tư bản nhất định nếu sản xuất15.000 tấn thép thì không sản xuất bơ và ngược lại, nếu sản xuất 5 triệu kg bơ thì khôngsản xuất thép Giữa hai thái cực này có nhiều phương án lựa chọn

Trang 11

Từ sự phân tích trên, các nhà kinh tế học đưa ra quan điểm về hiệu quả sử dụng tàinguyên Theo họ, một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sảnxuất.

Các điểm bên trong đường giới hạn U biểu hiện tài nguyên chưa được sử dụng hết,công nhân không có việc làm, nhà máy bỏ không, ruộng đất hoang hoá, tiền tệ để rỗi.Điều đó thể hiện tính thiếu hiệu quả

Các điểm nằm ngoài đường giới hạn I là không thể có trong điều kiện không có sựbiến đổi nào về nguồn lực: tài nguyên, lao động, vốn, công nghệ

1.2.4 Lý luận về thất nghiệp.

Thất nghiệp là vấn đề trung tâm của các xã hội hiện đại, khi mức thất nghiệp cao,tài nguyên bị lãng phí, thu nhập của nhân dân bị giảm sút Về mặt kinh tế, mức thấtnghiệp cao là thời kỳ GNP thực tế thấp hơn mức tiềm năng của nó Mức thất nghiệp cao

đi liền với mức cao của sản lượng bị bỏ đi hoặc không sản xuất

C

I

Ngày đăng: 12/06/2014, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 7.5 Thất nghiệp tự nguyện - Tìm hiểu các nội dung, đặc điểm của học thuyết nền kinh tế hỗn hợp  Paul A. Samuelson
Hình 7.5 Thất nghiệp tự nguyện (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w