Điều 1. Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt. Bình luận: Nhiệm vụ của BLHS rất nhiều nhưng có thể khái quát ở 2 nhiệm vụ chính. Một là nhiệm vụ bảo vệ, bảo vệ gì? Chính là bảo vệ những mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Trong xã hội có rất nhiều những quan hệ cần được điều chỉnh, tuy nhiên do tính chất, mức độ và tầm quan trọng khác nhau nên sẽ được điều chỉnh bởi những nhóm quy phạm pháp luật khác nhau.....
Trang 1BÌNH LUẬN BỘ LUẬT HÌNH SỰ HỢP NHẤT 2017
Chương IĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN
Điều 1 Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự
Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật
tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt.
Bình luận:
Nhiệm vụ của BLHS rất nhiều nhưng có thể khái quát ở 2 nhiệm vụ chính
Một là nhiệm vụ bảo vệ, bảo vệ gì? Chính là bảo vệ những mối quan hệ xã hội đượcpháp luật hình sự bảo vệ Trong xã hội có rất nhiều những quan hệ cần được điềuchỉnh, tuy nhiên do tính chất, mức độ và tầm quan trọng khác nhau nên sẽ được điềuchỉnh bởi những nhóm quy phạm pháp luật khác nhau Luật hình sự chọn nhữngquan hệ xã hội trọng tâm, gần như là quan trọng nhất, ưu tiên hàng đầu để điều chỉnhnhư chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,quyền con người, quyền công dân v.v…
Hai là giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranhchống tội phạm Bản chất của pháp luật hình sự không phải là để trừng phạt ngườiphạm tội giống như hệ thống pháp luật thời phong kiến Điều này dễ dàng nhìn thấyqua các hình phạt cổ như lăng trì, tùng xẻo, ngũ mã phanh thây v.v…hình phạt trong
Bộ Luật hình sự ngày nay đang đi theo xu hướng càng ngày càng giảm án tử hìnhthay bằng hình thức chung thân và thi hành án tử cũng trở nên nhân đạo hơn để tử tùđược ra đi một cách nhẹ nhàng, ít đau đớn nhất
Trang 2Để thực hiện 2 nhiệm vụ trên thì BLHS quy định xung quanh 2 vấn đề và cũng làxuyên suốt qua các thời kỳ đó là Tội phạm và Hình phạt Nói đến hình sự người tanghĩ ngay đến tội phạm và hình phạt và ngược lại Đó là đặc trưng cơ bản và rất dễnhận thấy ở pháp luật hình sự so với các ngành luật khác như dân sự, hành chính.Tuy nhiên, cũng cần lưu ý giữa vi phạm hành chính (xử phạt vi phạm hành chính) vàtội phạm (xử lý hình sự) có một mối quan hệ khá mật thiết, chúng khá tương đồngtrong nhiều mặt và ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự đôi khi rất mongmanh phụ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm và đôi khi
là cách nhìn nhận chủ quan của người xử phạt vi phạm hành chính và cơ quan công
tố Do đó, trong thực tế không hiếm những trường hợp hồ sơ vi phạm hình sự nhưngsau đó chuyển sang xử lý hành chính và hồ sơ xử lý hành chính chuyển sang xử lýhình sự do có dấu hiệu của tội phạm
Điều 2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
1 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của
Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình luận:
Đây là quy định chỉ rõ khi nào thì một cá nhân hay một pháp nhân thương mại phảichịu trách nhiệm hình sự và đó là khi cá nhân, pháp nhân thương mại đó phạm mộttội đã được BLHS quy định Riêng đối với pháp nhân thương mại do tính đặc thùcủa chủ thể mà giới hạn những điều luật có thể phạm phải chỉ bao gồm: Điều 188,
189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225,
226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300, 324
Cách hành văn của quy định trên làm nhiều người có thể hiểu sai lệch (phi logic)rằng nếu một người, pháp nhân thương mại nào đó phạm từ 2 tội trở lên thì khôngphải chịu trách nhiệm hình sự vì quy định chỉ nêu “khi phạm một tội” chứ khôngphải “vi phạm ít nhất một tội” Tuy nhiên nếu nghiên cứu theo những nguyên tắc của
bộ môn logic học thì cách diễn đạt như vậy hoàn toàn logic Nhưng cũng cần nhấnmạnh rằng không phải ai cũng có thể hiểu và am tường về bộ môn logic học này,hơn nữa luật pháp là nhằm mục đích phổ biến áp dụng trong thực tế vì vậy nó càng
Trang 3phổ thông càng dễ hiểu càng tốt Hiện quy định như vậy không sai nhưng để đảmbảo bớt tính hàn lâm và tránh những sự nhầm lẫn không đáng có thì nên diễn đạt lại
theo hướng “…phạm ít nhất một tội…”(cách hành văn mới này cũng hoàn toàn
không sai nhưng lại dễ hiểu hơn)
Điều 3 Nguyên tắc xử lý
1 Đối với người phạm tội:
a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;
c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;
d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;
e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
2 Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:
Trang 4a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;
b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;
c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.
Bình luận:
Nguyên tắc là những thứ bắt buộc phải tuân thủ, nguyên tắc được lập ra để đảm bảotính thống nhất và cho thấy được phần nào chính sách của BLHS nói riêng và chínhsách của nhà nước nói chung đối với tội phạm Đó là phân định rõ nhóm đối tượng
sẽ được hưởng chính sách khoan hồng, thể hiện sự nhân đạo của nhà nước và nhómchính sách cứng rắn thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với nhóm đối tượng
có khả năng và đã hoặc sẽ thực hiện những hành vi gây nguy hại lớn đến xã hội.Nguyên tắc thì nhiều nhưng nếu phân chia theo cách BLHS làm thì có nhóm nhữngnguyên tắc đối với người phạm tội và nhóm nguyên tắc đối với pháp nhân thươngmại Tuy nhiên có thể nhìn thấy rất rõ ràng ở điều luật trên là 2 nhóm nguyên tắc nàykhông có gì khác nhau về bản chất và nhóm nguyên tắc của pháp nhân thương mại íthơn nhiều với nguyên tắc của người phạm tội (có thể gọi đó là tập hợp con trongtrường hợp này) Những khác biệt rất ít cũng chỉ xuất phát từ những đặc trưng củatừng loại chủ thể Điều này có thể dễ hiểu vì trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân
là một chế định rất mới mẻ và BLHS 2015 là Bộ luật đầu tiên ghi nhận chế định này
Do đó không tránh khỏi việc nêu ra những nguyên tắc trên cũng cơ bản là dựa trênnguyên tắc dành cho người phạm tội và theo đánh giá chủ quan của tác giả, nguyêntắc đối với pháp nhân thương mại vẫn còn thiếu nhiều và có thể sẽ phải bổ sungtrong tương lai không xa Đơn cử như không có nguyên tắc về việc tạo điều kiện chopháp nhân tái hoạt động sau khi chấp hành xong hình phạt hay nguyên tắc về xóađiểm đen lý lịch pháp nhân (tương tự như xóa án tích) v.v…
Trang 5Điều 4 Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
1 Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.
2 Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.
3 Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Bình luận:
Điều luật này cho thấy rằng trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm làcủa toàn xã hội mà không chỉ bị giới hạn bởi trách nhiệm của các cơ quan, tổ chứcthuộc bộ máy nhà nước Tuy vậy nghĩa vụ này không được đánh đồng đối với tất cảcác chủ thể Điều này thể hiện ở quy định tại Khoản 3: Mọi công dân có nghĩa vụtích cực tham gia phòng, chống tội phạm Cấu trúc của quy định này cho thấy sựkhuyến khích hơn là bắt buộc Hoàn toàn khác với quy định tại Khoản 1 khi quyđịnh rằng: Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơquan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của mình
Quy định này thể hiện sự rõ ràng, tách bạch giữa nghĩa vụ mang tính bắt buộc vànghĩa vụ mang tính khích lệ, khuyến khích Chính xác là nghĩa vụ chính trong việcđấu tranh phòng chống tội phạm phải thuộc về các cơ quan nhà nước Nhiệm vụ bảo
vệ bình yên cho cuộc sống của người dân là nhiệm vụ thuộc về nhà nước Hiến pháp
đã trao quyền tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống quyền lực công và sử dụng công
cụ hệ thống quân đội, nhà tù, công an, cảnh sát v.v…để thực hiện mục tiêu gìn giữhòa bình, ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội Trong mối quan hệ nàyngười dân phải thực hiện nghĩa vụ về thuế và những nghĩa vụ khác để tạo nguồn thungân sách duy trì hoạt động của hệ thống trên Mỗi bên đều có những nghĩa vụ rất rõràng của mình được quy định trong Hiến pháp Do vậy nhiệm vụ cùng tham gia đấu
Trang 6tranh phòng chống tội phạm của công dân là để đảm bảo được tính toàn diện và tínhnhanh chóng kịp thời trong việc xử lý tội phạm, nó là một nghĩa vụ phái sinh vàmang tính chất khuyến khích là chính, làm cho mọi công dân thấy được bổn phậncủa mình đối với công tác phòng chống tội phạm.
Chương II HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Điều 5 Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành
vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
2 Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh
sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc
tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc
tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Bình luận:
Về nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì đều
áp dụng BLHS Việt Nam Lãnh thổ Việt Nam ở đây phải được hiểu bao gồm: Vùngđất, vùng biển và vùng trời được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam vàluật pháp quốc tế Riêng đối với phần lãnh thổ di động (tàu bay, tàu biển) thì phạm vi
áp dụng của BLHS còn được mở rộng hơn ở chỗ không chỉ hành vi phạm tội đượcthực hiện trên các phương tiện đó mà nếu hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trênphương tiện đó thì vẫn áp dụng quy định của BLHS Việt Nam mặc dù hành vi phạmtội có thể xảy ra ngoài tàu bay, tàu biển
Tuy nhiên, nguyên tắc trên có một ngoại lệ duy nhất là đối với những người phạmtội được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự Những đối tượng này được
Trang 7xác định căn cứ vào quy định của pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà ViệtNam là thành viên hoặc tập quán quốc tế Trường hợp này sẽ không áp dụng quyđịnh của BLHS mà trách nhiệm hình sự của họ sẽ được giải quyết theo quy định tạicác Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế hoặc bằng con đường ngoại giao.
Như vậy có thể thấy hiệu lực về không gian của BLHS là rất rộng và áp dụng đối vớitất cả các đối tượng kể cả là người nước ngoài, người không quốc tịch Chỉ một phầnrất nhỏ những đối tượng được hưởng quyền miễn trừ như đã nêu mới không chịu sựđiều chỉnh của Bộ luật này
Điều 6 Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định
là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.
Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.
2 Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3 Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
có quy định.
Bình luận:
Trang 8Điều luật này bao gồm 3 Khoản và cả 3 Khoản này đều có một điểm chung là có thể
áp dụng BLHS chứ không phải là sẽ áp dụng BLHS Kỹ thuật lập pháp tại điều nàyhoàn toàn khác với quy định tại Điều 5 Vấn đề cốt lõi là ở chỗ những hành vi phạmtội tại điều này đều là những hành vi nằm ngoài lãnh thổ của nước CHXHCN ViệtNam Bởi vì nằm ngoài nên khả năng áp dụng BLHS để giải quyết cũng cực kỳ hạnchế vì khả năng cao hành vi đó sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật hình sự của mộtquốc gia nào đó nếu hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia vì quốc gianào cũng đề cao chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đối với lãnh thổ củamình
Như vậy tóm tắt lại những trường hợp có thể áp dụng BLHS trong Điều luật này nhưsau:
- Chủ thể phạm tội là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam
- Hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặccủa nước CHXHCN Việt Nam
- Theo quy định của điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên
Điều 7 Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian
1 Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.
2 Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội
đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.
3 Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng
án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.
Trang 9Bình luận:
Nguyên tắc, chỉ áp dụng quy định của pháp luật đang có hiệu lực thi hành tại thờiđiểm mà hành vi phạm tội được thực hiện Nguyên tắc này hoàn toàn đúng bởi vìchúng ta không thể bắt buộc một cá nhân nào đó phải biết được hành vi của mình làphạm tội hay không cho đến khi chúng ta chỉ ra được hành vi đó đã được quy địnhtại Điều, Khoản, Điểm, Tiết… nào của BLHS và quy định đó đang có hiệu lực thihành (có giá trị áp dụng)
Xã hội luôn biến động và cách nhìn nhận của nhà lập pháp, của xã hội cũng sẽ thayđổi theo thời gian Do đó, trong một số trường hợp sự nguy hiểm của hành vi phạmtội sẽ giảm dần theo thời gian nhưng trong những trường hợp ngược lại tính chấtnguy hiểm của hành vi nào đó sẽ tăng dần theo thời gian Vì vậy cho nên các quyphạm pháp luật hình sự cũng không ngừng biến động theo, một số tội phạm sẽkhông còn (mất hẳn hoặc chuyển xuống xử lý vi phạm hành chính), một số loại tôiphạm mới sẽ phát sinh
Nhằm đảm bảo pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội để quan hệ đó ổn định
và phát triển theo đúng định hướng, nguyên tắc trên cũng phải tồn tại ngoại lệ (nhưmột lẽ tất yếu), thể hiện tính mềm dẻo và chính sách nhân đạo của nhà nước
Ngoại lệ này cho phép áp dụng những quy định mà tại thời điểm thực hiện hành vi,quy định đó vẫn chưa có hiệu lực thi hành, cụ thể trong các trường hợp sau:
- Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng,
- Quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới
- Mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệmhình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa ántích
- Quy định khác có lợi cho người phạm tội
Đặc điểm chung của các quy định trên là nếu áp dụng các quy định mới (chưa cóhiệu lực vào thời điểm xảy ra hành vi phạm tội nhưng đã có hiệu lực tại thời điêmxét xử) thì sẽ có lợi hơn cho người phạm tội Người phạm tội có thể sẽ không cònphạm tội hoặc phải chịu một mức hình phạt nhẹ hơn
Trang 10Trong trường hợp ngược lại thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đãthực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành (Khoản 2).
- Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăngnặng mới
- Hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệmhình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích
- Quy định khác không có lợi cho người phạm tội
Thực ra quy định này có vẻ hơi thừa vì nó không hề khác với nguyên tắc điều luậtđược áp dụng phải là điều luật đang có hiệu lực pháp luật vào thời điểm thực hiệnhành vi phạm tội quy định tại Khoản 1 Tuy vậy, việc hơi thừa này thực ra cũng xuấtphát từ sự cẩn trọng của nhà lập pháp Quy định rõ ràng nhưng nhiều khi những cơquan tiến hành tố tụng lại không áp dụng một cách chính xác, đúng đắn và thốngnhất Hiện tượng oan sai vẫn còn diễn ra nhiều Cho nên việc tái khẳng định rằngnhững quy định theo hướng bất lợi cho người phạm tội thì không được phép áp dụngkhi hành vi xảy ra trước thời điểm quy định đó có hiệu lực vẫn rất có giá trị thựctiễn
Chương III: TỘI PHẠM
Điều 8 Khái niệm tội phạm
1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải
bị xử lý hình sự.
2 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
Bình Luận:
Trang 11Từ khái niệm nêu trên ta xác định được các yếu tố cấu thành của tội phạm, bao gồm:
1 Hành vi nguy hiểm cho xã hội
2 Yếu tố có lỗi
3 Do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện
4 Xâm phạm các mối quan hệ được qui định tại Bộ luật hình sự
Do vậy không phải mọi hành vi đều cấu thành tội phạm mà chỉ khi hành vi đó thỏamãn đồng thời 4 yếu tố nêu trên thì mới xác định có tội phạm xảy ra
Khái niệm tội phạm theo qui định trên có nhiều điểm mới so với khái niệm tội phạmđược qui định trong Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Bộluật hình sự 1999) Cụ thể:
- Tăng cường chủ thể chịu trách nhiệm hình sự Nếu trước đây chủ thể của tội phạmchỉ có thể là cá nhân thì hiện nay đã có thêm chủ thể mới là các pháp nhân thươngmại Hai chủ thể này có đặc điểm hoàn toàn khác nhau, chính vì vậy mà trách nhiệmhình sự của họ cũng khác nhau Điều này thể hiện ở chỗ, cá nhân khi thực hiện hành
vi phạm tội thì các loại hình phạt được áp dụng theo qui định tại Điều 32 (cảnh cáo,phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình….), phápnhân thương mại khi phạm tội thì được áp dụng một số loại hình phạt mang tínhriêng biệt phù hợp với đặc điểm chủ thể qui định tại Điều 33 (phạt tiền, đình chỉ hoạtđộng có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm huy độngvốn….) và tất nhiên phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mạicũng chỉ giới hạn ở các loại tội phạm được qui định tại Điều 76, cụ thể Điều 188(Tội buôn lậu), Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới),Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm), Điều 191 (Tội tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm), Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả), Điều 193 (Tội sản xuất,buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), Điều 194 (Tội sảnxuất, buôn bán hàng giả là thuộc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 195 (Tội sảnxuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệthực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), Điều 196 (Tội đầu cơ), Điều 200 (Tội trốnthuế), Điều 203 (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộpngân sách nhà nước), Điều 209 (Tội cố ý công bố thông tin sai lệch, hoặc che dấuthông tin trong hoạt động chứng khoán), Điều 210 (Tội sử dụng thông tin nội bộ đểmua bán chứng khoán), Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán), Điều 213(Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm), Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội,
Trang 12bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động), Điều 217 (Tội vi phạm quiđịnh về cạnh tranh), Điều 225 (Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan), Điều
226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp), Điều 227 (Tội vi phạm qui định vềnghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên), Điều 232 (Tội vi phạm qui định về khaithác, bảo vệ rừng và lâm sản), Điều 234 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ động vậthoang dã), Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường), Điều 237 (Tội vi phạm qui định
về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường), Điều 238 (Tội vi phạm quiđịnh về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê diều và phòng chống thiên tai; vi phạmqui định về bảo vệ bờ, bãi sông), Điều 239 (Tội đưa chất thải vào lãnh thổ ViệtNam), Điều 242 (Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản), Điều 243 (Tội hủy hoại rừng),Điều 244 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm), Điều 245(Tội vi phạm qui định về bảo tồn thiên nhiên), Điều 246 (Tội nhập khẩu, phát tán cácloài ngoại lai xâm hại), Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố), Điều 324 (Tội rửa tiền).Xem xét các loại tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại,chúng ta dễ dàng nhận thấy chỉ đối với một số hành vi liên quan đến hoạt động sảnxuất, kinh doanh, thương mại, thuế, tài chính, môi trường … thì mới qui định tráchnhiệm hình sự
- Tinh gọn các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Cụm từ “xâm phạmquyền con người” đã thay thế cho “xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm, tự do, tài sản” Cách qui đinh này trước hết làm cho khái niệm tội phạm đảmbảo được tính ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn khái quát được toàn bộ các quan hệ màpháp luật hình sự phải can thiệp Thay vì theo cách liệt kê, dự liệu chi tiết từng mốiquan hệ thì đến đây các nhà làm luật đã nhìn nhận một cách tổng thể hơn, khái quáthơn, khắc phục nhược điểm, tư tưởng liệt kê mà bấy lâu nay vẫn áp dụng Phươngpháp liệt kê trong Bộ luật hình sự 1999 có ưu điểm là chỉ điểm cụ thể các quan hệhay nói cách khác là xác định đích danh, tuy nhiên phương pháp này không mangtính bao quát Việc qui định cụm từ quyền con người là phù hợp với hiến pháp 2013của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sửchúng ta ghi nhận một cách trân trọng về quyền con người tại một văn bản có giá trịpháp lý cao nhất Tiếp nối sự khẳng định trong việc tôn trọng, thừa nhận và bảo vệquyền con người mà Bộ luật hình sự sửa đổi đã có cách ghi nhận mới Do vậy việcghi nhận như hiện nay là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn trong tiến trình hội nhập quốc
tế, Nhà nước đã sử dụng công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ quyền con người
- Xác định lại phạm vi chịu trách nhiệm hình sự: Khái niệm tội phạm thể hiện rất rõmột chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi xâm phạm các mối
Trang 13quan hệ mà theo qui định Bộ luật hình sự hành vi đó phải bị xử lý Chính vì vậy màkhi một hành vi xảy ra trên thực tế, bên cạnh xác định các yếu tố cấu thành khác thìchúng ta phải xác định hành vi đó có cấu thành một trong các loại tội phạm được thểhiện trong Bộ luật này hay không Mặc dù một hành vi có xâm phạm đến một mốiquan hệ xã hội nhất định nhưng không thuộc phạm trù được liệt kê tại phần các tộiphạm thì đương nhiên hành vi này không phải chịu trách nhiệm hình sự, có chăng nó
sẽ cấu thành một trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hành chính, dân sự Bộluật hình sự 1999 chưa thực hiện được điều này và từ đó tạo ra sự nhầm lẫn, mâuthuẫn trong chính khái niệm cũng như trong từng loại tội phạm nhất định
Một hành vi khi thỏa mãn được 4 yếu tố nêu trên thì cấu thành tội phạm Tuy nhiênxét yếu tố về tính nguy hiểm cho xã hội mà pháp luật có thể loại trừ nó ra khỏi cácbiện pháp chế tài của Bộ luật hình sự hay nói cách khác hành vi đó không phải chịutrách nhiệm hình sự, nó sẽ được xem xét ở các trách nhiệm pháp lý khác như hànhchính hay dân sự Như vậy một câu hỏi được đặt ra là mức độ nguy hiểm của mộthành vi được xác định như thế nào? Đây là một vấn đề rất quan trọng vì nó ảnhhưởng trực tiếp đến tính phải chịu trách nhiệm hình sự của một hành vi
Để đánh giá một cách chính xác tính nguy hiểm của hành vi cần phải xem xét mộtcách tổng thể, đối chiếu qua lại giữa nhiều yếu tố khác nhau như: chủ thể thực hiện
là ai, hoàn cảnh khi nào, ở đâu, hậu quả mà hành vi đó gây ra…có như vậy mới đưa
ra được nhận định đúng đắn Không có một khuôn mẫu, chuẩn mực nào để chúng ta
có thể xác định ngay lập tức mức độ nguy hiểm của hành vi mà phải phụ thuộc nhiềuvào sự đánh giá của các cơ quan điều tra, tố tụng Để đảm bảo tính công bằng, đòihỏi các cá nhân, cơ quan chức trách khi xem xét hành vi phải thật sự khách quan
Điều 9 Phân loại tội phạm
1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:
a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là
từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
Trang 14c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
2 Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản
1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.
Việc phân loại tội phạm được xem xét dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi Theo đó tùy vào mức độ mà áp dụng loại hình phạt tương thích,đảm bảo được tính răn đe cũng như yếu tố giáo dục Ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sựhiện hành, chúng ta đã nhận thức rõ được chức năng, nhiệm vụ của luật hình sự Nó
là công cụ hữu hiệu của giai cấp cầm quyền trong việc bảo vệ chế độ, bảo vệ cácmối quan hệ trong xã hội, được sử dụng để nhằm răn đe, ngăn chặn, uốn nắn cũngnhư trừng phạt và giáo dục đối với các hành vi xâm phạm Chính vì vậy mà việcphân loại tội phạm có ý nghĩa to lớn trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử.Trách nhiệm hình sự của các chủ thể vi phạm được xác định ngay tại giai đoạn đầu
và từ đó định hướng được các chế tài xử lý phù hợp
Tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà tội phạm đượcpháp luật hình sự phân thành 4 loại như sau:
Trang 15Sự phân hóa các loại tội phạm được thực hiện theo tính chất nghiêm trọng tăng dần
và tương ứng với đó là loại hình phạt và mức khung hình phạt cũng tăng dần Nếutrước đây việc phân loại hình phạt và khung hình phạt để áp dụng cho mỗi loại tộiphạm được thực hiện theo phương thức áp mức tối đa thì hiện nay các nhà làm luật
đã liệt kê một cách chi tiết, rõ ràng giúp việc vận dụng luật được thuận tiện hơn.Tương tự chủ thể là cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, pháp nhân thương mại khi
có các hành vi xâm phạm các mối quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ cũng phảichịu những chế tài tương ứng với từng loại tội phạm nhất định
Điều 10 Cố ý phạm tội
Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
2 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Bình Luận
Chương III chủ yếu tập trung làm rõ các thành tố cấu thành tội phạm, như đã phântích tại khái niệm tội phạm thì lỗi là một trong 4 yếu tố được đưa ra để xem xét đánhgiá một hành vi đã xảy ra có phải là tội phạm hay không, nếu có thì mức độ như thếnào Chính vì vậy mà việc nghiên cứu, phân loại các bản dạng lỗi đóng vai trò quantrọng trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử
Điều này, các nhà làm luật đưa ra khái niệm về lỗi cố ý cũng như căn cứ để phân loạilỗi cố ý Cụ thể:
Lỗi cố ý trực tiếp: được xác định dựa trên mức độ nhận thức của người thực hiệnhành vi Trong các loại lỗi thì lỗi cố ý trực tiếp thể hiện sự nhận thức và mức độquyết tâm cao nhất của người thực hiện Sự nhận thức được thể hiện dưới ba góc độkhác nhau, thứ nhất đó là nhận thức được mức độ nguy hiểm, nghĩa là người phạmtội nhận diện được hành vi mà mình đang hoặc sắp thực hiện sẽ gây ra nguy hiểmcho xã hội, sự nguy hiểm thể hiện ở chỗ nếu hành vi được thực hiện là nó sẽ xâmphạm đến một đối tượng cụ thể nào đó Thứ hai nhận thức được hậu quả, người thựchiện hành vi bên cạnh nhận diện được mức độ nguy hiểm thì họ còn thấy được hậucủa nó như thế nào, dự liệu được một cách chính xác và đúng đắn những hậu quả màhành vi mang lại Và không có việc người thực hiện hành vi sẽ mơ hồ, không xác
Trang 16định được hậu quả là gì, khi trong suy nghĩ người phạm tội nghĩ về một hành vi mà
họ sẽ thực hiện thì đồng thời họ cũng đã thấy trước được hậu quả xảy ra, hai vấn đềnày tiếp diễn liên tục, liền kề nhau và nhiều trường hợp thậm chí người phạm tộinghĩ đến hậu quả trước và tìm cách thực hiện hành vi tương ứng để hậu quả xảy ranhư mong muốn Thứ ba là nói đến tính quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng củangười phạm tội “mong muốn hậu quả đó xảy ra”, sự mong muốn này biểu hiện rabên ngoài dưới dạng các đặc điểm như: không chấm dứt hành vi, thực hiện hành vicho đến khi nào hậu quả xảy ra hay nói cách khác hậu quả chính là mục đích cuốicùng Như vậy trong chuỗi nhận thức của người thực hiện hành vi với lỗi cố ý trựctiếp chính là biểu hiện của ý chí và quyết tâm cao nhất trong các loại lỗi, đi từ suynghĩ và hiện thực hóa đến hành động
Lỗi cố ý gián tiếp: sự khác biệt cơ bản giữa lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp đượcthể hiện ở khía cạnh tâm lý người phạm tội Hai loại lỗi này các chủ thể đều nhậnthức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đều nhận thức được hậu quả màhành vi mang lại Tuy nhiên với lỗi cố ý gián tiếp thì cần phải khẳng định, ngườiphạm tội không hề mong muốn hậu quả đó xảy ra trên thực tế hay nói cách khác hậuquả không nằm trong kế hoạch hành động của họ Việc hậu quả có xảy ra hay khôngkhông phải là đích đến cuối cùng Sự bỏ mặc thể hiển ở việc người phạm tội khôngquan tâm, hậu quả xảy ra cũng được hoặc không xảy ra cũng được Mục đích củangười phạm tội đã có thể đạt được ở giai đoạn trước đó hoặc thực hiện hành vinhưng lại hướng đến một mục đích khác
Tuy nhiên khi xem xét, nghiên cứu về lỗi cố ý, nhiều quan điểm cho rằng việc phânloại lỗi cố ý thành lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp là không cần thiết Bởi lẽ mộtngười khi họ đã nhận thức được một cách đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội củahành vi và thấy trước hậu quả xảy ra mà vẫn thực hiện thì cho dù họ có mong muốnhay không mong muốn thì hậu quả cũng đã xảy ra trên thực tế Việc nhận thức đầy
đủ nhưng vẫn thực hiện hành vi đã chứng tỏ một quyết tâm và ý chí của người phạmtội Pháp luật hình sự nghiêm cấm các chủ thể xâm phạm đến các mối quan hệ đượcqui định trong bộ luật này, do vậy việc không hành động hoặc hành động để tránhxâm hại và bảo vệ các mối quan hệ đó là nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức Chính
vì vậy, việc cho rằng không mong muốn hậu quả xảy ra trong khi đã nhận thức và dựliệu một cách chính xác hậu quả mà vẫn thực hiện hành vi là hoàn toàn không có cơsở
Điều 11 Vô ý phạm tội
Trang 17Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;
2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Bình Luận
Vô ý phạm tội gồm hai loại sau:
Thứ nhất: Vô ý phạm tội do quá tự tin
Biểu hiện: Người phạm tội nhận thức và dự liệu được hậu quả do hành vi của mìnhgây ra nhưng xét về mặt ý chí lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc nếu xảy
ra thì có biện pháp ngăn ngừa được Tuy nhiên cần phân tích rõ mức độ nhận thứchậu quả của người thực hiện hành vi Nếu xem xét lại các lỗi về cố ý thì việc nhậnthức và xác định, dự liệu hậu quả là điều tất yếu, hiển nhiên, pháp luật hình sự buộcngười phạm tội phải nhận thức rõ vấn đề này Hậu quả xảy ra nếu thực hiện hành vi
là một điều chắc chắn, còn đối với lỗi vô ý do quá tự tin thì hậu quả có thể xảy rahoặc không xảy ra trên thực tế Người phạm tội nhận thức được hành vi mà mìnhđang hoặc sắp thực hiện có thể dẫn đến một hậu quả nào đó nhưng lại cho rằng hậuquả đó không có cơ sở để xảy ra hoặc nếu xảy ra sẽ được ngăn chặn một cách ngaylập tức Trong ý chí khi thực hiện hành vi, người phạm tội hoàn toàn không mongmuốn hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra như biểu hiện củatrường hợp phạm tội cố ý gián tiếp nhưng trong nhận thức, người phạm tội tự tinngăn chặn được hậu quả, tuy nhiên sự tự tin không tương đồng với thực tế, khônggiải quyết được vấn đề
Thứ hai: Vô ý phạm tội do cẩu thả
Biểu hiện: Xét về mặt nhận thức thì người phạm tội hoàn toàn không thấy được hậuquả do hành vi của mình mang lại mặc dù pháp luật buộc người phạm tội phải thấytrước được điều đó Việc đánh giá khả năng thấy trước hậu quả cũng cần phải xemxét trên nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau, cụ thể dựa vào chính khả năng củangười phạm tội như trình độ, lứa tuổi, kinh nghiệm sống ; dựa vào hoàn cảnh kháchquan về không gian, thời gian, vị trí địa lý Việc buộc chủ thể thực hiện hành viphạm tội phải thấy trước được hậu quả chỉ có thể áp dụng đối với những mối quan
hệ chung, phổ biến mà ở đó đã hình thành một quy tắc xử sự, ai cũng phải tuân theo
Trang 18Ví dụ: Bác sĩ tiêm nhầm thuốc cho bệnh nhân và hậu quả là bệnh nhân chết Trongtrường hợp này chính sự cẩu thả của bác sĩ đã dẫn đến hậu quả là cái chết của bệnhnhân, trong quy tắc xử sự hành nghề y buộc bác sĩ phải là một người cẩn trọng trongviệc sử dụng các loại thuốc và đồng thời họ cũng phải nhận thức được hậu quả sẽnhư thế nào nếu có sự nhầm lẫn, sử dụng không chính xác.
Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
2.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều
- Khi thực hiện hành vi phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệtnghiêm trọng cho dù với lỗi cố ý hay vô ý thì người phạm tội đều phải chịu tráchnhiệm hình sự Tuy nhiên trách nhiệm này được giới hạn trong những tội phạm nhấtđịnh Cụ thể Điều 123 (Tội giết người), Điều 134 (Tội có ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 141 (Tội hiếp dâm), Điều 142 (Tội hiếpdâm người dưới 16 tuổi), Điều 143 (Tội cưỡng dâm), Điều 144 (Tội cưỡng dâmngười từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi), Điều 150 (Tội mua bán người), Điều 151 (Tộimua bán người dưới 16 tuổi), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướpgiật tài sản), Điều 173 (Tội trộm cắp tài sản), Điều 178 (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản), Điều 248 (Tội sản xuất trái phép chất ma túy), Điều 249 (Tội tàngtrữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều
251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy), Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy),Điều 265 (Tội tổ chức đua xe trái phép), Điều 266 (Tội đua xe trái phép), Điều 286
Trang 19(Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạngviễn thông, phương tiện điện tử), Điều 287 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt độngcủa mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử), Điều 289 (Tội xâm nhậptrái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của ngườikhác), Điều 290 (Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tửthực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản), Điều 299 (Tội khủng bố), Điều 303 (Tội pháhủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia), Điều 304 (Tộichế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khíquân dụng, phương tiện kỹ thuật quận sự).
Ngoài các tội phạm được liệt kê nêu trên thì nhóm đối tượng này khi thực hiện hành
vi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với các loại tội phạm khácthì không phải chịu trách nhiệm hình sự
Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được khái quát như sau:
- Từ đủ 16 tuổi trở lên: chịu trách nhiệm hình sự mọi loại tội phạm
- Từ đủ 14 tuổi đến dưới16 tuổi:
+ Tội ít nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự
+ Tội nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự
+ Tội rất nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được qui định
+ Tội đặc biệt nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được qui định
Việc phân loại và giới hạn tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên phần nào đã đápứng được nhu cầu thực tiễn, góp phần ngăn chặn, răn đe tội phạm vị thành niên.Nhìn lại khoảng thời gian gần đây, chúng ta không khỏi rùng mình trước các vụ ánđặc biệt nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận, người phạm tội còn tuổi đời rất trẻnhưng lại thực hiện hành vi với tính chất côn đồ, tàn bạo thể hiện sự xem thườngpháp luật, bất chấp mọi khuôn khổ, chuẩn mực để xâm phạm các mối quan hệ xãhội Trong một môi trường với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ,
du nhập văn hóa, đề cao lối sống hưởng thụ, thích thể hiện… đã dẫn đến việc xuốngcấp đạo đức nghiêm trọng trong bộ phận giới trẻ và từ đó dẫn đến hành vi phạm tội
là điều tất yếu
Điều 13 Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác
Trang 20Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình Luận
Nếu trước đây Điều 14 Bộ luật hình sự 1999 chỉ thể hiện: “Người phạm tội trongtình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu tráchnhiệm hình sự”, thì đến nay, qui định này đã được điều chỉnh Cụ thể: Phù hợp vềcách gọi tên, loại khái niệm về tình trạng say khi sử dụng rượu vì khi qui định nhưvậy, chúng ta cần phải làm rõ khái niệm say và khi nào người sử dụng rượu rơi vàotình trạng say hay ngoài rượu thì các loại nước uống nào có thể gây ra tình trạngtương tự Rõ ràng qui định như vậy hoàn toàn không phù hợp về khái niệm khoa họccũng như chưa tương thích với các thuật ngữ, ý nghĩa trong các thành tố cấu thànhtội phạm được qui định tại khái niệm tội phạm Bởi lẽ khi nói đến tội phạm, chúng ta
đề cập ngay đến năng lực trách nhiệm hình sự, trong khi đó năng lực trách nhiệmhình sự được xem xét trên ba yếu tố:
- Khả năng nhận thức
- Khả năng điều khiển hành vi
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác chỉ tác động đến khảnăng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, chính vì vậy vấn đề về tuổi chịutrách nhiệm hình sự sẽ không được đề cập ở đây Do vậy chúng ta không cần quantâm đến tình trạng say hay không say của người sử dụng mà chỉ xem xét, đánh giákhả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi là chuẩn mực nhất, phù hợp với nội hàmcủa khái niệm tội phạm
Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác có thể làm người sử dụngrơi vào trạng thái hạn chế hoặc mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năngđiều khiển hành vi của mình Trong trường hợp này, pháp luật qui định rất rõ ngườithực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đến cùng nếu có hành vi phạmtội Tuy nhiên tại Điều 8 về khái niệm tội phạm thì hành vi phạm tội phải được thựchiện bởi người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng xét về bản chấtthì trước khi sử dụng rượu, bia hoặc các chất kich thích mạnh khác, người phạm tộihoàn toàn có đủ khả năng nhận thức của mình, việc làm mất hoặc hạn chế là do lỗicủa người sử dụng hay nói cách khác là họ tự mình tước đoạt đi khả năng đó và vì có
Trang 21lỗi nên họ buộc phải chịu trách nhiệm hình sự Vậy đây có được xem là tình tiếtgiảm nhẹ khi áp dụng hình phạt hay không? Tất nhiên việc tự mình tước đoạt điquyền của mình và xâm hại đến các quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hoàntoàn không có cơ sở để xem xét giảm trách nhiệm Thậm chí trong nhiều trường hợp,việc phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác được xemxét là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Cụ thể:
- Điều 260: Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ
- Điều 267: Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt
…
Tuy nhiên cũng cần phải làm rõ nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất khả năng nhậnthức hoặc điều khiển hành vi của người phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chấtkích thích mạnh khác Sở dĩ, hành vi này có thể do người phạm tội tự thực hiện hoặc
bị buộc phải sử dụng các chất kích thích để rơi vào trạng thái như vậy Trong trườnghợp bị ép buộc mà không còn cách nào khác hoặc bị lừa dối, đe dọa thì trách nhiệmhình sự sẽ không được đặt ra
Trang 22Qui định này mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đốitượng lợi dụng việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thựchiện hành vi phạm tội
Điều 14 Chuẩn bị phạm tội
1 Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
2 Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112,
113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301,
302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
3 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
mà khi tội phạm chỉ mới dừng ở suy nghĩ, chưa bộc lộ bằng hành vi, động thái thìhoàn toàn không có căn cứ xác định trách nhiệm hình sự Việc biểu hiện từ suy nghĩđến hành động được thể hiện dưới các dấu hiệu như:
- Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội
- Thành lập băng nhóm, tổ chức tội phạm
- Tham gia vào các băng, nhóm tội phạm sẵn có
Đây chính từ sự chuyển tiếp từ suy nghĩ đến hành động của người phạm tội, biểuhiện dưới các dạng vật chất, hành động nhất định mà thông qua việc xem xét, chúng
Trang 23ta có căn cứ xác đáng để cho rằng có hành vi phạm tội chuẩn bị xảy ra trên thực tế
và từ đó có các biện pháp ngăn chặn, xử lý tội phạm hiệu quả Mặc dù tại giai đoạnnày, hành vi phạm tội chưa thật sự diễn ra, chưa tác động, chưa làm biến đổi bất kỳmột mối quan hệ nào dù được luật hình sự bảo vệ hay các qui phạm pháp luật khác.Tuy nhiên nó đang đe dọa gây ra các thiệt hạị và việc xâm hại trực tiếp đến các chủthể mà tội phạm hướng đến chắc chắn sẽ diễn ra trong khoảng thời gian sắp tới.Các biểu hiện của một tội phạm cụ thể tại giai đoạn chuẩn bị phạm tôi, ví dụ Tội giếtngười qui định tại Điều 123: Sau khi có suy nghĩ giết Ông A để trả thù vì tranh chấpđất đai với mình, Ông B bắt đầu tìm hiểu thông tin về gia đình nạn nhân (có baonhiêu người, lịch trình làm việc của từng người….), mua dao, chuẩn bị vật dụngcứng khác để đoạt mạng nạn nhân, chuẩn bị bao tải, cuốc nhằm phi tang xác, vì biếtnạn nhân hay lên làm rẫy một mình nên Ông B đã chuẩn bị nơi phục kích… tất cảcác thông tin tìm hiểu hay công cụ, phương tiên nêu trên mà Ông B thực hiện lànhằm tiến tới thực hiện hành vi giết Ông A Và xem xét trong tổng thể các giai đoạncủa tội phạm thì việc làm của Ông B là đang trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội.Chuẩn bị phạm tội chỉ xảy ra đối với các loại tội phạm thực hiện với lỗi cố ý vì vậy
dù chưa diễn ra nhưng đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải chịu trách nhiệmhình sự Tuy nhiên, khi xem xét chi tiết vào từng loại tội danh được nêu tại Bộ luậthình sự cũng như căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh, độ tuổi của người thực hiện màkhông phải giai đoạn chuẩn bị phạm tội của bất kỳ tội danh nào cũng được đưa ra đểxem xét trách nhiệm hình sự Khoản 2 Điều 14 đã chỉ đích danh các trường hợp cụthể phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội như Điều 108 (Tộiphản bộ tổ quốc), Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều
110 (Tội gián điệp), Điều 111 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ), Điều 112 (Tội bạoloạn), Điều 113 (Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 114 (Tộiphá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam),Điều 115 (Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội), Điều 116 (Tộiphá hoại chính sách đoàn kết), Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyêntruyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam), Điều 118 (Tội phá rối an ninh), Điều 119 (Tội chống phá nơi giamgiữ), Điều 120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặctrốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 121 (Tội trốn đingước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân), Điều
123 (Tội giết người), Điều 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe củ người khác), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm
Trang 24chiếm đoạt tài sản), Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả),Điều 299 (Tội khủng bố), Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố), Điều 301 (Tội bắt cóccon tin), Điều 302 (Tội cướp biển), Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phươngtiện quan trọng về an ninh quốc giá), Điều 324 (Tội rửa tiền).
Đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu tráchnhiệm hình sự cho một trong các tội danh đã liệt kê bên trên, trường hợp chuẩn bịphạm tội cho các tội danh khác thì trách nhiệm hình sự không được đặt ra Riêng đốitượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự cho hai tội danhduy nhất là tội giết người qui định tại Điều 123 và tội cướp tài sản qui định tại Điều168
Điều 15 Phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng
vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.
Bình Luận
Tội phạm sau khi hoàn tất các hoạt động cần thiết tại giai đoạn chuẩn bị thì sẽchuyển tiếp đến việc thực hiện hành vi trên thực tế Tuy nhiên không phải mọitrường hợp tội phạm đều được thực hiện hoàn thành mà trong giai đoạn này tộiphạm đã hoặc đang thực hiện nhưng vì một lý do nào đó mà không đạt được mụcđích hay nói cách khác hậu quả xảy ra ngoài mong muốn của người phạm tội TạiĐiều này, chúng ta sẽ xem xét các dấu hiệu cấu thành hành vi phạm tội chưa đạt.Thứ nhất: Hành vi đã hoặc đang thực hiện
Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp, nếu việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, thu thậpthông tin…tại giai đoạn chuẩn bị phạm tội là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa cho cácsuy nghĩ, ý định phạm tội thì đến giai đoạn này lại là biểu hiện cho quyết tâm đếncùng của tội phạm Ví dụ: Tội phạm giết người tại Điều 123 Bộ luật hình sự, ngườiphạm tội đã dùng dao đâm nạn nhân hoặc dùng vật cứng đánh mạnh vào đầu nạnnhân….tất các các hành động này thể hiện tội phạm đang diễn ra, người phạm tộiđang tác động, xâm phạm đến quyền con người được pháp luật hình sự bảo vệ Tộicướp tài sản tại Điều 168, người phạm tội đã dùng dao khống chế hoặc dùng dây tróinạn nhân hoặc các hành vi khác bằng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực làm nạn nhânkhông thể chống cự Tất cả các hành động nói trên của người phạm tội nhằm đạtđược mục đích cuối cùng của mình (ở tội giết người, người phạm tội đã dùng dao
Trang 25đâm hoặc dùng vật cứng đánh mạnh vào đầu nhằm gây cái chết cho nạn nhân; ở tộicướp tài sản, người phạm tội dùng dao khống chế, đe dạo nạn nhân…nhằm mục đíchchiếm đoạt tài sản của nạn nhân).
Thứ hai: Mục đích người phạm tội chưa đạt được
Sở dĩ ở đây chúng ta không sử dụng cụm từ hậu quả để nói lên rằng tội phạm chưađạt do hậu quả chưa xảy ra là hoàn toàn không chính xác Có nhiều trường hợp hậuquả chính là mục đích, là cái mong muốn đạt được của người phạm tội khi thực hiệnhành vi và ngược lại có khi hậu quả không phải là đích cuối cùng mà người phạm tộihướng đến Trong bất kỳ trường hợp nào, một hành vi phạm tội dù chưa đạt hoặchoàn thành đều để lại những hậu quả nhất định, tội giết người nêu trên hậu quả cóthể là nạn nhân chết (phù hợp với mong muốn của người phạm tội) hoặc hậu quả làgây thương tích, ảnh hưởng đến đời sống bình thường sau này của nạn nhân như gây
ra cảm giác sợ hãi, lo lắng…Do vậy ở mọi khía cạnh, góc độ dù hành vi phạm tộihoàn thành hay chưa đạt đều gây ra hậu quả cho nạn nhân, gia đình và xã hội
Dấu hiệu của tội phạm chưa đạt thể hiện rõ nét ở mục đích phạm tội Và rõ ràng mộtkhi chưa đạt được mục đích thì tội phạm đó đã cấu thành dấu hiệu tội phạm chưađạt Các trường hợp chưa đạt bao gồm:
- Hậu quả trên thực tế không đồng thời là hậu quả mong muốn của người phạm tội(đã thực hiện tất các hành vi)
- Hành vi khách quan đang diễn ra nhưng chưa dẫn đến hậu quả
Thứ ba: Tội phạm chưa đạt là ngoài ý muốn
Xét về ý chí thì hành vi của người phạm tội phải được diễn ra theo đúng những gì họmong muốn Tức là hậu quả xảy ra trên thực tế phải khớp với hậu quả mong muốncủa họ.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vì một lý do nào đó (có thể là nạn nhânchống cự, phát hiện và hỗ trợ của mọi người xung quanh, sự cố của công cụ, phươngtiện… ) mà mục đích của người phạm tội vẫn chưa đạt được Để phân biệt với hành
vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội qui định tại Điều 16 thì chúng ta phải xácđịnh và làm rõ rằng tội phạm chưa đạt là ngoài mong muốn, còn biểu hiện về ý chí,quyết tâm thì người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng
Tại giai đoạn này, chúng ta cũng cần phải làm rõ thêm các hành vi trên thực tế củangười phạm tội, biểu hiện ở việc thực hiện các hành vi khách quan Xem xét ngườiphạm tội đã thực hiện hết các hành vi được cho là cần thiết để tội phạm hoàn thànhhay chưa Để có đánh giá chính xác thì phải nhìn nhận vào từng tội danh cho từng
Trang 26hoàn cảnh, điều kiện nhất định Ví dụ Tội giết người: trường hợp người phạm tội đãdùng súng bắn nhưng súng kẹt cò không nổ hoặc đã bắn nhưng đạn không trúng nạnnhân hoặc trường hợp đạn trúng nạn nhân nhưng nạn nhân không chết vì được pháthiện và cấp cứu kịp thời Rõ ràng ví dụ nêu trên có hai trường hợp khác biệt:
Thứ nhất: chưa thực hiện hết các hành vi khách quan
Thứ hai: đã thực hiện toàn bộ các hành vi khách quan cần thiết được cho là sẽ dẫnđến hậu quả như mong muốn của người phạm tội
Sự phân loại nêu trên là cần thiết và có ý nghĩa trong hoạt động truy tố, xét xử tộiphạm, có liên quan và quyết định mức khung hình phạt phù hợp
Không giống giai đoạn chuẩn bị phạm tội, pháp luật hình sự qui định người phạm tộichưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội phạm chưa đạt Không có bất kỳ sựgiới hạn tội danh bởi lẽ phạm tội chưa đạt là ngoài mong muốn của người phạm tội,
và trên thực tế nó đã gây ra những hậu quả nhất định
Điều 16 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.
Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
Bình Luận
Xét về bản chất thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nét tương đồng
so với qui định về phạm tội chưa đạt ở điểm hậu quả mong muốn của người phạmtội không xảy ra Tuy nhiên hậu quả không xảy ra là xuất phát từ ý chí từ bỏ thựchiện hành vi của người phạm tội chứ không phải là do những nguyên nhân kháchquan lẫn chủ quan như chế định phạm tội chưa đạt Dấu hiệu của việc tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội được thể hiện đầy đủ qua các đặc điểm dưới đây:Thứ nhất: Người phạm tội tự mình chấm dứt hành vi phạm tội
Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để nhận biết, người phạm tội phải tự mình, bằng ýchí của mình chấm dứt không thực các hành vi khách quan ở giai đoạn tiếp theo giaiđoạn chuẩn bị phạm tội hoặc các hành vi khách quan khác cần thiết cho hậu quả xảy
ra Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội còn được xem xét ở cả giai đoạn chuẩn
Trang 27bị phạm tội hay nói cách khác là ở tất cả các khâu, quá trình trước khi hậu quả xảyra.
Nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hành vi phạm tội: Phải xuất phát tự sự tựnguyện và kiên quyết của người thực hiện hành vi mà không phải bị tác động bởi cácbên thứ ba hay chủ thể, nguyên nhân nào khác Ví dụ Tội giết người qui định tạiĐiều 123 Bộ luật hình sự, để giết Ông A, Ông B đã chuẩn bị đầy đủ các phương tiện,công cụ, nắm bắt được lịch trình, thời gian lên rẫy của Ông B Tuy nhiên sau đó Ông
B suy nghĩ lại chỉ vì tranh chấp đất mà mình lại ra tay giết người, cảm thấy cắn rứtlương tâm nên đã dừng không thực hiện tiếp Việc không tiếp tục thực hiện hành vicủa Ông B trong trường hợp này được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạmtội
Thứ hai: Không bị ngăn cản thực hiện hành vi
Điều này có nghĩa, ngoài việc tự mình từ bỏ ý định thực hiện hành vi phạm tội thìkhông có bất kỳ điều gì có thể ngăn cản người phạm tội nếu họ quyết tâm thực hiệntội phạm đến cùng Nếu trong phạm tội chưa đạt thì ta có thể dễ dàng nhận thấyngười phạm tội luôn tìm mọi cách, tạo mọi cơ hội điều kiện, vượt qua các rào cản đểthực hiện hành vi của mình nhưng trong chế định này người phạm tội không hềmong muốn hậu quả xảy ra nên dừng hoặc tìm mọi cách để dừng hành vi phạm tội.Loại bỏ việc ngăn cản, hay dừng thực hiện hành vi là do tác động bởi yếu tố khác
Cụ thể nếu do người khác khuyên răn, ngăn cản, do bị phát hiện kịp thời, do vậtcản…thì không được xem xét là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà đâyđược xem là phạm tội chưa đạt Ví dụ: đêm khuya Ông A đang lẻn vào nhà giết Ông
B nhưng chó sủa làm mọi người thức giấc…Đây là chúng ta xem xét hành vi phạmtội không có đồng phạm, vậy trường hợp có đồng phạm với tư cách là người tổ chức,xíu giục, thực hành, giúp sức thì mỗi đồng phạm được xem là tự ý nửa chừng chấmdứt việc phạm tội khi nào trong khi các đồng phạm khác vẫn cố tình thực hiện tộiphạm đến cùng Trong đồng phạm, việc đánh giá hành vi được thể hiện ở chỗ bảnthân mỗi đồng phạm phải ngay lập tức tự chấm dứt vai trò của mình, đồng thời tìmmọi cách để ngăn chặn vai trò của đồng phạm khác
Trách nhiệm hình sự: về nguyên tắc người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽđược miễn trách nhiệm hình sự cho tội danh định phạm Tuy nhiên nếu các yếu tốcấu thành một tội danh khác thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự chotội danh đó Ví dụ: Để giết Ông B, Ông A đã mua một khẩu súng tuy nhiên sau đókhông thực hiện hành vi nữa do nhận thấy cảm giác có lỗi, ray rứt lương tâm nếu
Trang 28giết Ông B Việc tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội, Ông A không phải chịutrách nhiệm hình sự cho Tội giết người theo Điều 123, tuy nhiên với việc mua mộtkhẩu súng, Ông A sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh “Tội chế tạo, tàngtrữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,phương tiện kỹ thuật quân sự” hoặc “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, muabán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ
hỗ trợ” tùy thuộc vào loại súng mà Ông A đã mua
Việc đưa ra chế định “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” cùng với miễn tráchnhiệm hình sự cho tội định phạm, thật sự là chính sách khoan hồng của Nhà nước,bao dung với người biết hối lỗi, nhận thức được sai lầm của mình
Điều 17 Đồng phạm
1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
2 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
3 Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.
4 Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.
Bình Luận
1 Đồng phạm: Khái niệm đồng phạm được hiểu là việc thực hiện hành vi phạm tộikhi có từ hai chủ thể trở lên và tất nhiên các chủ thể này phải có năng lực tráchnhiệm hình sự Các chủ thể cùng nhau thực hiện tội phạm một cách cố ý Tuy nhiênvới khái niệm cùng nhau thực hiện một tội phạm có thể dẫn đến nhiều cách hiểu gâynhầm lẫn mà phổ biến là cho rằng các chủ thể chỉ được xem là đồng phạm khi và chỉkhi cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp cùng thực hiện từ hai tội phạm trở lênthì không thỏa mãn yếu tố đồng phạm Với cách hiểu như vậy là hoàn toàn chưa phùhợp với tinh thần pháp luật bởi lẽ một hành vi phạm tội chỉ được xem xét có đồng
Trang 29phạm hay không khi có ít nhất từ hai chủ thể trở lên cùng thực hiện một tội phạm.Các chủ thể này thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng giữa họ chỉ có duy nhấtmột tội phạm cùng thực hiện thì tất nhiên các hành vi phạm tội còn lại sẽ không tồntại yếu tố đồng phạm Chính vì vậy mà việc xem xét có tồn tại đồng phạm hay khôngphải được cân nhắc xem xét trên từng tội danh một để xác định và từ đó pháp luậtmới đưa ra khái niệm: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ýthực hiện một tội phạm”.
Về ý chí: các chủ thể đều nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội,thấy trước được hậu quả xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc tuy khôngmong muốn nhưng có ý thức để mặt cho hậu quả đó xảy ra Như vậy giữa các chủthể đều thống nhất và quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng
Xét về tính chất nguy hiểm giữa cùng một tội danh có đồng phạm và không đồngphạm thì tính chất, mức độ của hành vi phạm tội có đồng phạm gây nguy hiểm caocho xã hội cũng như các hậu quả mà nó gây ra không hề nhỏ Các tội phạm nàythường được thực hiện một cách tinh vi, khó phát hiện cũng như ngăn chặn… vì vậy
mà khi xét xử các tội danh có đồng phạm thì trách nhiệm hình sự của các chủ thểđược xem xét ở mức tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn so với cùng một tội danhđược thực hiện riêng lẽ
“Điều 52 qui định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
1 Chỉ các tình tiết sau đây mới được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sựa) Phạm tội có tổ chức"
2 Phạm tội có tổ chức là hình thức phạm tội có đồng phạm nhưng nguy hiểm hơnbởi có sự cấu kết chặt giữa những người đồng phạm Tính cấu kết chặt chẽ biểu hiện
ở việc phân hóa rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi đồng phạm từ khi tội phạmđược hình thành cho đến khi kết thúc Tính tổ chức của tội phạm được thể hiện:Biến tổ chức thành môi trường, vỏ bọc, công cụ cho việc thực hiện tội phạm Tổchức được các đồng phạm tạo lập ra khi bắt đầu thực hiện tội phạm hoặc các đồngphạm tham gia vào một tổ chức, băng nhóm sẵn có Ví dụ: các băng nhóm tội phạmhình thành chuyên đi cướp giật tại các khu vực trung tâm thành phố hoặc việc gianhập vào băng đảng bảo kê, đòi nợ tại các quán bar, nhà hàng, khách sạn Thông qua
lý luận cũng như thực tiễn phòng chống tội phạm, các băng nhóm tội phạm hoạtđộng rất công khai, táo tợn, sẵn sàng tấn công bất kỳ ai có ý định can thiệp, chốngtrả, luôn có đầy đủ công cụ, phương tiện phạm tội…thậm chí có chủ trương, kế
Trang 30hoạch hoạt động Tội phạm có tổ chức không chỉ tác động đến quan hệ bị xâm hại
mà còn gây ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý xã hội
3 Các loại chủ thể trong đồng phạm: Với tính chất của đồng phạm là có sự tham giacủa nhiều người, phân hóa nội dung công việc nên vai trò của các chủ thể được biểuhiện thông qua các đối tượng cụ thể sau đây:
- Người tổ chức: đây là chủ thể có vai trò quan trọng, khơi mào cho tội phạm đượcthực hiện Thể hiện ở việc khởi xướng, lập ra kế hoạch, đường lối, tập hợp, lôi kéo
và phân công các thành viên hay nói cách khác người tổ chức là kim chỉ nam chomọi hoạt động trong tội phạm
- Người xúi giục là người tác động lên nhận thức hoặc ý chí của người khác nhằmtìm mọi cách để tội phạm được thực hiện, hiện thực hóa tội phạm trên thực tế
- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan của tội phạm
Ví dụ: là người dùng dao đâm, dùng súng bắn, đẩy nạn nhân xuống nước… đối vớitội giết người; là người dùng vũ lực như đánh, đấm, đâm nạn nhân, trói nạn nhân…đối với tội cướp tài sản…Chủ thể là người thực hành, chúng ta xem xét dưới hai khíacạnh hành động trực tiếp hoặc hành động thông qua một người khác:
+ Hành động trực tiếp: Người hành động tự chính mình thực hiện các hành vi kháchquan trong cấu thành tội phạm như tự mình cầm dao đâm, tự mình dùng súng bắnnạn nhân…
+ Hành động thông qua người khác: Người khác được đề cập ở đây chính là các chủthể không có năng lực trách nhiệm hình sự Chẳng hạn dụ dỗ trẻ em dưới 14 tuổi vậnchuyển heroin, lừa người khác đưa đồ ăn có chứa chất độc nhằm mục đích giếtngười Trong trường hợp này, người xíu giục trẻ en vận chuyển heroin, người lừađưa đồ ăn là người thực hành cho các tội danh liên quan
- Người giúp sức là người hỗ trợ tích cực, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tội phạmđược diễn ra, biểu hiện:
+ Giúp sức về vật chất: Như chuẩn bị sẵn công cụ, phương tiện phạm tội, thăm dòtrước hiện trường, lập sơ đồ vị trí hướng dẫn, chỉ điểm, thông tin về đối tượng, quan
hệ chuẩn bị xâm hại…
+ Giúp sức về tinh thần: Như động viên người thực hành (gợi ý mức lợi nhuậnkhổng lồ khi vận chuyển thành công heroin với số lượng lớn), hứa hẹn về việc chegiấu tội phạm, các lợi ích…
Trang 31Điều 18 Che giấu tội phạm
1 Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.
2 Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.
Bình Luận
Che dấu tội phạm có được xem là đồng phạm hay không? Xem xét qui định tại Điều
17 về đồng phạm và các yếu tố cấu thành đồng phạm, chúng ta đã được hiểu rõ cácdấu hiệu của nó Tuy nhiên đối với hành vi che dấu tội phạm có sự khác biệt cơ bản
ở những đặc điểm sau:
- Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên trừ đối tượng che dấu tội phạm là ông, bà, cha,
mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phảichịu trách nhiện hình sự, đây là các đối tượng có mối quan hệ mật thiết với ngườiphạm tội về huyết thống, hôn nhân mà pháp luật hình sự đã loại họ ra khỏi chủ thểcủa tội danh này Việc loại bỏ xuất phát từ văn hóa, truyền thống của dân tộc ViệtNam chúng ta Tuy nhiên đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặcbiệt nghiêm trọng qui định tại Điều 389 thì các chủ thể đặc biệt này vẫn phải chịutrách nhiệm hình sự mà không có bất kỳ sự ngoại lệ nào
- Sau khi một tội phạm khác đã hoàn thành: có sự tách biệt rõ ràng giữa các tội danhvới các chủ thể độc lập Đây chính là đặc điểm để phân biệt sự khác nhau giữa hành
vi che dấu tội phạm và đồng phạm Người phạm tội sau khi biết được một tội phạm
đã được thực hiện, thay vì tố giác thì họ lại thực hiện các hành vi với mục đích nhằmche dấu tội phạm Đây chính là sự giúp sức để một tội phạm né tránh việc bị pháthiện và xử lý theo qui định của pháp luật và tất nhiên việc giúp sức này không phảixuất phát do sự hứa hẹn trước đó mà nó chỉ xuất hiện vào thời điểm tội phạm đãđược thực hiện Nếu có sự hứa hẹn hoặc phân công trước đó thì đây là đồng phạmvới vai trò giúp sức của tội phạm đã thực hiện
- Biểu hiện của hành vi:
Trang 32+ Che dấu người phạm tội: cho người phạm tội ẩn náu trong nhà mình hoặc một nơinào khác hoặc biết người phạm tội đang ở đâu nhưng không khai báo và tìm mọicách che dấu để người khác không biết được.
+ Che dấu dấu vết, tang vật của tội phạm: tương tự việc che dấu người phạm tội thìchủ thể của tội danh này cũng tìm mọi cách để ngăn chặn sự tiếp xúc của đối tượngthứ ba
+ Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm: thể hiện ở các hành vi như cố tìnhcung cấp các thông tin sai sự thật, xóa bỏ dấu vết của tội phạm, tiêu hủy các công cụ,phương tiện tội phạm…
Hành vi đồng phạm của người phạm tội là thể hiện sự xem thường pháp luật, chủ thểcủa hành vi không đấu tranh chống tội phạm mà lại góp phần che dấu, khuyến khíchtội phạm thực hiện trên thực tế Do vậy phải chịu trách nhiệm hình sự tương thích vàmột phần răn đe những ai có định ý bao che cho tội phạm
Điều 19 Không tố giác tội phạm
1 Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.
2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3 Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.
Bình Luận
Nếu che dấu tội phạm chỉ được thực hiện sau khi một tội phạm đã được thực hiệntrên thực tế thì hành vi không tố giác tội phạm xảy ra tại bất kỳ giai đoạn nào của tộiphạm từ giai đoạn chuẩn bị cho đến đang thực hiện hoặc đã thực hiện Để phân biệtđược với đồng phạm, che dấu tội phạm thì hành vi cấu thành tội danh này hoàn toànđược biểu hiện dưới dạng không hành động
Trang 33Chủ thể: bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên Chủ thể là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anhchị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm hình sự khikhông tố giác tội phạm được qui định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninhquốc gia) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Biểu hiện: ở dạng không hành động Ví dụ: mặc dù trước đó A đã được B thông báorằng B sẽ giết C vào tối mai (A hoàn toàn có cơ sở để xác định lời nói của B là cóthật, hành vi của B chắc chắn sẽ diễn ra vì trước đó giữa B và C đã có cuộc ẩu đã,tạo tư thù cộng với bản tính giang hồ của B), tuy nhiên A đã không thông báo cho cơquan chức năng về hành động sắp diễn ra của B và hậu quả là B đã giết C Sự khônghành động thể hiện sự phó mặc cho hậu quả xảy ra của người phạm tội, thể hiện sự
vô tâm, hờ hững trước các quan hệ xã hội chuẩn bị bị hành vi phạm tội xâm hại.Không phải trong mọi trường hợp, việc không hành động của một người đều cấuthành và bị bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh không tố giác tội phạm theoĐiều 390 Bộ luật hình sự Chỉ cấu thành tội danh khi thỏa mãn đồng thời các yếu tốsau:
- Phải biết rõ tội phạm đang diễn ra: Việc biết không vẫn chưa đủ mà điều luật quiđịnh một người phải biết rõ, nghĩa là họ hoàn toàn có cơ sở để xác định rằng có tộiphạm nếu không ngăn chặn kịp thời thì sẽ gây ra các hậu quả trên thực tế Ví dụ: Anghe thông tin từ B nói rằng hình như thằng C đang nhận vận chuyển ma túy với sốlượng lớn từ Lào vào Việt Nam Trong khi đó từ trước đến giờ, C là một thanh niênchăm chỉ, sống tình cảm với mọi người xung quanh, hiếu thảo với cha mẹ và đang
có công việc ổn định với vị trí nhân viên văn phòng… thì không có lý do gì mà A lẫn
B tin rằng C sẽ thực hiện công việc nguy hiểm này để đánh đổi cả mạng sống củamình Nhưng trên thực tế C lại thực hiện theo đúng những gì mà A và B biết được,tuy nhiên trong trường hợp này hoàn toàn không có căn cứ để cho rằng A, B không
tố giác tội phạm
- Có điều kiện để thực hiện hành động tố giác tội phạm: Điều này có nghĩa việc tốgiác tội phạm không bị cản trở, ngăn cản Nếu một người sau khi nắm bắt chắc chắnthông tin hoặc có căn cứ xác đáng tội phạm đang diễn ra nhưng không có điều kiện,
cơ hội để tố giác thì hành vi của họ cũng không đủ yếu tố cấu thành tội danh tạiĐiều 390 Trở lại ví dụ trên, mặc dù C là con người như thế nhưng A và B đều cócăn cứ chính xác cho hành vi sắp tới của C như nghe trộm được thông tin trao đổicủa C với bên giao ma túy và biết được số lượng, địa điểm giao hàng…nhưng C lẫnbên giao hàng đe dọa sẽ giết A, B và người thân của họ nếu như A, B tố giác hành vi
Trang 34Do vậy việc không hành động của A, B nếu có cũng không được xem xét là hành vikhách quan của tội phạm.
Điểm mới của Bộ luật hình sự hiện hành so với Bộ luật hình sự 1999 là việc bổ sungthêm một đối tượng là chủ thể của hành vi không tố giác tội phạm Chủ thể này cóđiểm đặc biệt chính là người bào chữa, pháp luật qui định trong quá trình thực hiệnviệc bào chữa mà phát hiện hoặc có căn cứ xác đáng cho rằng người được bào chữachuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội tại chương III(các tội xâm phạm an ninh quốc gia) hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng mà ngườibào chữa không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên cũng cần xemxét qui định này đã thực sự phù hợp hay chưa? Việc các nhà làm luật viện dẫn quiđịnh cho rằng mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, và dẫn chiếu đến vấn đềbình đẳng trong việc tố giác tội phạm là thật sự chưa phù hợp Xuất phát từ đặcthù của luật sư với tư cách là người bào chữa cho thân chủ của mình và đây cũngchính là nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề luật nên việc buộc luật sưphải tố giác ngược lại thân chủ là một điểm thụt lùi trong chính sách cho dù tội danhcủa thân chủ được xem xét dưới khía cạnh nào, xâm phạm đến các mối quan hệ nào
đi nữa Có hay chăng chỉ qui định quyền được cung cấp, tiết lộ thông tin khi có căn
cứ cho rằng thân chủ mình đang bào chữa chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hoặc đãthực hiện các hành vi phạm tội nêu trên Luật sư chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ
và cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự cho các trường hợp này Chúng ta chỉđặt ra nghĩa vụ tố giác tội phạm của luật sư là bình đẳng với mọi công dân khác khi
và chỉ khi đối tượng đó không phải là thân chủ/người được bào chữa của Luật sư
Điều 20 Sự kiện bất ngờ
Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình luận
Trong Điều luật này chính mặt khách quan đã không được thỏa mãn Cụ thể mặtkhách quan bao gồm các yếu tố: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vinguy hiểm đó và mối quan hệ nhân quả giữa chúng Trong đó, hành vi nguy hiểm
là bắt buộc phải có ở tất cả các loại tội phạm
Điều luật này có thể được phân tích như sau để dễ dàng nắm bắt nội dung hơn:
Trang 35Điều kiện giả định bao gồm:(1) hành vi gây hậu quả nguy hại + (2) không thể thấy
trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả
Hệ quả: Không phải chịu trách nhiệm hình sự
Phần hệ quả đã quá rõ ràng nên sau đây tác giả chỉ tập trung phân tích (1) (2)
(1) Hành vi gây hậu quả nguy hại
Lưu ý rằng đây là hành vi gây hậu quả nguy hại chứ không phải là hành vi nguyhiểm như trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm Tác giả nhấn mạnh nộidung này vì bản chất của chúng là khác nhau và hậu quả pháp lý cũng vậy Hành vigây hậu quả nguy hại, tức nhà làm luật chú trọng và tập trung vào cái hậu quả nguyhại chứ không phải là hành vi Hành vi gây nguy hại có thể là những hành vi hợppháp hoặc hành vi bất hợp pháp Nghe có vẻ phi lý vì sao hành vi hợp pháp nhưnglại có thể gây nguy hại được và sự kiện bất ngờ là một minh chứng rõ ràng nhất
Ví dụ: A đang lưu thông trên đường đúng quy định của pháp luật giao thông đường
bộ (làn đường, tốc độ di chuyển và các biện pháp an toàn khác…) (hành vi hợppháp), bỗng nhiên có 1 người xuất hiện đột ngột trước đầu xe với khoảng cách gầnđến mức không thể xử lý việc dừng xe, do đó đã tông người này và người này tửvong ngay lập tức (hậu quả nguy hại) Như vậy chúng ta có thể thấy rất rõ ngườiđiều khiển phương tiện đã thực hiện một hành vi hợp pháp nhưng lại gây ra một hậuquả nguy hại cho xã hội
Như vậy một câu hỏi đặt ra nếu hành vi đó phạm pháp gây hậu quả nguy hại và thỏamãn điều kiện (2) thì có loại trừ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi haykhông? Câu trả lời là không Bởi lẽ, không có hành vi phạm pháp luật hình sự nào
mà chủ thể đó không nhận thấy trước được hậu quả có thể xảy ra và pháp luật cũngkhông bắt buộc họ phải nhìn thấy trước, bản chất của hành vi vi phạm đã hàm chứatrong nó về một hậu quả nguy hại cho xã hội Vì thế có thể hiểu hành vi trong trườnghợp trên là hành vi hợp pháp
(2)Không thể thấy trước hậu quả hoặc không bắt buộc phải nhìn thấy trước hậu quả.Vẫn với ví dụ trên, chúng ta thấy rằng việc người điều khiển phương tiện tham giagiao thông đúng với các quy định của pháp luật giao thông thì không có lý do gì đểanh ta có thể thấy hậu quả của việc chết người xảy ra từ việc lái xe đúng quy địnhcủa mình và pháp luật cũng không bắt buộc anh ta phải thấy, lường trước hậu quả cómột người nào đó lại bỗng nhiên xuất hiện trước đầu xe để rồi gây ra hậu quả chếtngười
Trang 36Phân tích thêm một chút để chúng ta hiểu thêm về trường hợp pháp luật bắt buộcphải nhìn thấy trước hậu quả:
Trong một số trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hộinhưng ý chí chủ quan của người đó không nhận thấy trước hậu quả có thể xảy ra từhành vi nguy hiểm của mình Ví dụ: B giăng bẫy điện dân dụng để diệt chuột tại nơiđông dân cư qua lại thường xuyên Trong trường hợp này có thể B không thấy trướcđược hậu quả chết người có thể xảy ra khi bị giật điện nhưng pháp luật bắt buộc Bphải thấy được điều này Nếu hậu quả chết người xảy ra thì đã thỏa mãn yếu tố mặtkhách quan (hành vi nguy hiểm), nếu thỏa mãn các yếu tố cầu thành còn lại thì Bphải chịu trách nhiệm hình sự của hành vi giăng điện bẫy chuột này
Điều 21 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình luận
Điều luật trên được trình bày giản tiện lại để dễ phân tích:
Điều kiện giả định:(1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội +(2) mắc bệnh tâm thần, một
bệnh khác =>(3) làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
Hậu quả:Không phải chịu trách nhiệm hình sự
Dễ dàng để nhận thấy đây là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự do không thỏamãn được yếu tố mặt chủ thể trong cấu thành tội phạm Cụ thể là chủ thể đã khôngđáp ứng được điều kiện “ do người có năng lực trách nhiệm hình sự thựchiện…” Cụ thể:
(1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội: Hành vi nguy hiểm ở đây được hiểu là nhữnghành vi có thể hoặc đã gây tổn hại đến các mối quan hệ xã hội được Luật hình sựbảo vệ Nói cách khác, hành vi đó phải là hành vi thuộc mặt khách quan của ít nhấtmột tội được quy định cụ thể trong Bộ Luật này Đây là tiền đề để dẫn nhập vào cácnội dung sau, bản thân nó không có giá trị trong việc có loại trừ trách nhiệm hình sựcủa chủ thể thực hiện hành vi hay không và dấu hiệu hành vi khách quan này khôngphải là mấu chốt của vấn đề
(2)Trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác: Đầu tiên cần phải chú ý đếncụm “trong khi đang” Trước tiên cần xác định như thế nào là đang mắc bệnh tâm
Trang 37thần hoặc bệnh khác Cơ sở nào để xác định một ai đó có đang mắc bệnh tâm thầnhay không? Có 2 trường hợp có thể xảy ra
Trường hợp 1: Người đó đã có Giấy xác nhận của cơ quan Y tế có thẩm quyền vềbệnh tâm thần đang mắc phải và (hoặc) tuyên bố mất năng lực hành vi của Tòa án.Trường hợp 2: Chưa có bất kỳ một giấy tờ nào từ cơ quan có thầm quyền chứngminh tình trạng bệnh lý của người thực hiện hành vi
Trường hợp 1 thông thường sẽ rất dễ dàng trong việc xác định người đó có bị mắcbệnh tâm thần hay không, tuy nhiên trong trường hợp 2 thì việc này sẽ trở nên khókhăn hơn khi phải tiến hành việc giám định bệnh tâm thần sau khi hành vi đã đượcthực hiện trong thực tế Và cái khó khăn nhất là làm rõ được 2 chữ “trong khi”.Ngành Y học đã chứng minh có một số bệnh tâm thần mà biểu hiện của bệnh lýkhông diễn ra một cách liên tục, cái mà nhân gian hay gọi 3 hồi tỉnh 3 hồi say nghĩa
là mặc dù bị mắc bệnh nhưng tỉnh thoảng họ vẫn tỉnh táo nhận thức một cách bìnhthường Đối chiếu theo đúng quy định của điều luật trong trường hợp đó họ sẽ khôngđược loại trừ trách nhiệm hình sự Tuy nhiên thực tế để xác định việc có loại trừ haykhông trong những trường hợp này rất khó khăn Và điều luật này cũng nhiều lần bịlợi dụng nhằm trốn tránh trách nhiệm bằng cách xin giấy chứng nhận bị bệnh tâmthần mà báo chí hay gọi là kim bài miễn tử
(3)Làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi:mục (2) chỉ làđiều kiện cần mà thôi, để đảm bảo điều kiện đủ, bệnh tâm thần hay bệnh khác nào đóphải dẫn đến mất khả năng nhận thức (không thể biết được hành vi của mình lànguy hiểm cho xã hội) hoặc mất khả năng điều khiển hành vi (vẫn ý thức đượcnhưng không thể điều khiển được do bệnh lý – thông thường là các bệnh liên quanđến hệ thần kinh vận động) Lưu ý ở đây là mất chứ không phải là hạn chế, nghĩa làtrường hợp hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi thìvẫn không thuộc trường hợp được loại trừ theo quy định tại điều luật này mà hạn chế
đó có thể được dùng làm căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Điều 22 Phòng vệ chính đáng
1 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Trang 382 Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Bình luận
Trước tiên cần làm rõ như thế nào là phòng vệ chính đáng theo định nghĩa tại Khoản
1 của Điều luật Ngay tên của Điều luật cũng đã cho chúng ta thấy rằng có 2 vấn đềlớn ở đây đó là Phòng vệ và Chính đáng Vì sao nhà làm luật không dùng từ Tự vệ
mà là Phòng vệ? Tự vệ có nghĩa là tự bản thân bảo vệ cho chính mình, tự vệ chỉdùng trong trường hợp bản thân người đang có hành vi chống trả bị xâm phạm.Trong trường hợp lợi ích của người khác bị xâm hại mà một cá nhân nào đó thựchiện hành vi chống trả thì hành vi này không còn được xem là tự vệ nữa mà nó đãchuyển sang phòng vệ (phòng ngừa và bảo vệ), nội hàm của hành vi phòng vệ rộnghơn tự vệ rất nhiều Quyền và lợi ích chính đáng đang bị xâm hại mà nhà làm luậtkhuyển khích bảo vệ vượt ra ngoài phạm vi của một cá nhân nào đó, nghĩa là phápluật không chỉ khuyến khích tự bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của mình mà cònkhuyến khích bảo vệ quyền và lợi ích của người khác Vậy nên dùng từ phòng vệ ởđây là chính xác và nội hàm đủ rộng để thể hiện tính mục đích của điều luật
Tiếp theo chúng ta cùng tìm hiểu như thế nào là chính đáng, điều luật không địnhnghĩa như thế nào là chính đáng mà chỉ mô tả như thế nào là phòng vệ chính đáng.Tách câu chữ ra, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ý chí của nhà làm luật thông quacách hành văn và có thể hiều chính đáng = cần thiết.Tuy nhiên có một vấn đề rấtđáng để chúng ta và những người áp dụng luật pháp phải lưu tâm đó là chính đáng
và cần thiết đều là những yếu tố mang tính chất định tính, nó phụ thuộc rất lớn vào ýchỉ chủ quan của người nhận diện và đánh giá tình huống Có thể theo người có hành
vi chống trả thì cho rằng nó cần thiết nhưng người bị chống trả và cơ quan xét xửkhông cho là như vậy và ngược lại
Khoản 2 quy định thêm 2 yếu tố, tạm gọi là 2 căn cứ để góp phần “định lượng” được
sự cần thiết đó là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vixâm hại.Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì phần nào chúng
ta có thể xác định được dựa vào phân loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng,rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) Việc này giúp cho việc định tính sự cầnthiết trở nên giảm định tính hơn nhưng không thể giải quyết triệt để vấn đề Do vậy
Trang 39nhà làm luật đã rất cẩn trọng và quy định trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệchính đáng là “rõ ràng” vượt quá mức cần thiết Nghĩa là việc nhận thấy sự quá mức
đó rất dễ nhận ra và tuyệt đại đa số đều thấy được điều đó
Thoáng nhìn chung ta sẽ cảm nhận rằng Khoản 1 và Khoản 2 bổ trợ cho nhau (nếukhông thuộc Khoản 1 thì thuộc Khoản 2 và ngược lại) Tuy vậy phân tích kỹ chúng
ta sẽ thấy có một phần khá nhập nhằng ở 2 Khoản này
Khoản 1:…một cách cần thiết…
Khoản 2:…rõ ràng quá mức cần thiết…
Như vậy đối với trường hợp vượt quá mức cần thiết nhưng chưa đến mức rõ ràng (dễdàng) nhận ra thì sẽ áp dụng Khoản 1 hay Khoản 2, bởi lẽ ranh giới giữa phạm tộitrong lúc này là rất mong manh.Và theo quan điểm của tác giả trong trường hợp nàychúng ta sẽ áp dụng Khoản 1 theo nguyên tắc có lợi hơn cho người phạm tôi Nghĩa
là cơ quan công tố buộc tội phải có nghĩa vụ chứng minh sự rõ ràng quá mức cầnthiết này, nếu không chứng minh được thì bắt buộc phải hiểu người có hành vi chốngtrả đã chống trả một cách cần thiết
Một vấn đề nữa cũng cần phải chú ý đó là đối tượng chịu tác động phải là ngườiđang có hành vi xâm phạm.Đây không phải là sự cẩn thận quá thừa của nhà lập phápkhi ai cũng biết rằng chống trả thì đương nhiên là chống trả lại người đang thực hiệnhành vi vi phạm Tuy nhiên trong thực tế hành vi chống trả này có thể ảnh hưởngđến nhiều người khi sử dụng công cụ, phương thức có phạm vi tác động rộng, hoặc
có thể chống trả nhầm đối tượng
Ví dụ 1: Vì muốn chống trả lại người đang hiếp dâm mình, C đã thực hiện hành vi
xả bình khí độc ngay cạnh đó và cách làm này đã gây thương vong nghiêm trọng chomột số người khu vực xung quanh Hành vi chống trả này đã vượt ra ngoài chủ thểthực hiện hành vi xâm hại, đã gây phương hại đến các chủ thể khác
Ví dụ 2: Thấy D đang bị bọn cướp tấn công bằng dao và không có khả năng chốngtrả, E đã rút súng nhằm vào bọn cướp mà bắn, tuy nhiên do trong bối cảnh hoảnloạn, E đã bắn đúng vào D gây tử vong tại chỗ Trường hợp này E đã không chốngtrả lại người đang xâm hại mà đã chống trả nhầm vào nạn nhân bị xâm hại do đókhông thỏa mãn điều kiện phòng vệ chính đáng
Điều 23 Tình thế cấp thiết
1 Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ
Trang 40chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
2 Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bình luận
Về cấu trúc điều luật cách sắp xếp quy phạm của Điều luật này khá tương đồng với
Điều luật về phòng vệ chính đáng Chúng ta sẽ cùng phân tích điều luật này Tình thế + cấp thiết:
Nếu như Điều luật về phòng vệ chính đáng chú trọng đến tính chính đáng và giớihạn của sự cần thiết thì điều luật về tình thế cấp thiết này lại chú trọng đến tính cấpthiết và thiệt hại gây ra của hành vi Cụ thể, sự cấp thiết ở đây đã đến mức đưa ngườithực hiện hành vi vào tình thế - đúng nghĩa đen – không còn sự lựa chọn nào khácngoài việc phải gây ra một thiệt hại Thông thường việc gây ra thiệt hại là một hành
vi vi phạm pháp luật có thể là hình sự, nhẹ hơn là hành chính hay nhẹ hơn nữa là dân
sự nhưng trong trường hợp này hành vi gây thiệt hại đó không phải là hành vi viphạm NẾU thiệt hại đã gây ra nhỏ hơn thiệ hại cần ngăn ngừa
Như vậy điều kiện cần (1) chủ thể thực hiện hành vi đã không còn sự lựa chọn nàokhác ngoài việc phải gây thiệt hại và điều kiện đủ (2) thiệt hại đó phải nhỏ hơn thiệthại cần ngăn ngừa thì khi đó chủ thể sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự (thôngthường là các tội phạm liên quan đến khách thể là quan hệ sở hữu như tội hủy hoạihoặc cố ý làm hỏng tài sản, chiếm hữu sử dụng tài sản trái phép v.v…)
Ví dụ: Vì muốn ngăn chặn đám cháy đang lây lan trong dãy dân cư liền nhau F bắtbuộc phải đập nhà anh G để ngăn đám cháy lại Trường hợp này có thể thấy F đãkhông còn sự lựa chọn nào khác và thiệt hại xảy ra đối với nhà anh G rõ ràng nhỏhơn thiệt hại của cháy nhà của cả khu dân cư do đó hành vi của F thỏa dấu hiệu củatình thế cấp thiết và sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này
Tuy nhiên 2 Khoản trên của điều luật đã bỏ ngỏ trường hợp thiệt hại đã gây ra bằngvới thiệt hại cần ngăn ngừa
Khoản 1 “…gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa…”
Khoản 2 “…thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết…”