Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong áp dụng biện pháp 78tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ 81 BI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ PHƯỢNG
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP: TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ PHƯỢNG
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP: TRẢ LẠI TÀI SẢN,
SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo
độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Vũ Thị Ph-ợng
3
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
"TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
17
1.1 cơ sở lý luận về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa 7
hoặc bồi thường thiệt hại"
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của biện pháp tư pháp "Trả lại tài 12
sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
1.2 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi 17
thường thiệt hại" với hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản
và với biện pháp tư pháp tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan
đến tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
1.2.1 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi 17
thường thiệt hại" với hình phạt tiền
1.2.2 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi 20
thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
1.2.3 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi 22
thường thiệt hại" với biện pháp tư pháp "Tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm"
Trang 51.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định biện 25
pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước 25
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến 27
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
1.4 Nghiên cứu so sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa 29
chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong pháp luật hình sự Việt
Nam với biện pháp cưỡng chế hình sự tương đương trong luật
hình sự của Liên bang Nga và Cộng hòa dân chủ nhân dân
Trung Hoa
1.4.2 Luật hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa 32
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP TƢ PHÁP "TRẢ 36
LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
2.1 Những quy định về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa 36
hoặc bồi thường thiệt hại" trong Bộ luật hình sự năm 1999
2.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa 65
hoặc bồi thường thiệt hại" trên địa bàn tỉnh Thái Bình
2.2.2 Một số tồn tại, hạn chế trong áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản, 69
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trên địa bàn tỉnh Thái Bình
5
Trang 62.3 Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong áp dụng biện pháp 78
tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ 81
BIỆN PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
3.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp 81
dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại"
3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về 82
biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
3.2.1 Hoàn thiện quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 823.2.2 Hoàn thiện một số quy định pháp luật hình sự có liên quan 86
đến áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại"
3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp "Trả lại 91
tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong thực tiễn
3.3.1 Nâng cao năng lực, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và đạo
đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tư pháp 91
3.3.2 Tăng cường hoạt động hướng dẫn bảo đảm thực hiện áp dụng 93
biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường
thường thiệt hại" đạt hiệu quả
3.3.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 963.3.4 Tăng cường hợp tác quốc tế trong việc thu hồi tài sản bị chiếm 97
đoạt hoặc sử dụng trái phép
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
9899
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sựTNHS : Trách nhiệm hình sự
7
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
bảng
1.1 So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc 18
bồi thường thiệt hại" với hình phạt tiền
1.2 So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc 21
bồi thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
1.3 So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc 24
bồi thường thiệt hại" với biện pháp tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm
2.1 Thống kê xét xử các loại tội phạm của ngành Tòa án Thái 66
Bình từ năm 2009 đến năm 2013
2.2 Thống kê xét xử 3 nhóm tội phạm có khả năng áp dụng 68
cao biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại
3.1 Đề nghị sửa đổi khoản 2 Điều 41 BLHS và khoản 1 Điều 42 84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình hình tội phạm ở nước ta thời gian qua ngày càng gia tăng khôngchỉ về số lượng mà cả về các loại tội phạm, đặc biệt là các loại tội xâm phạmtính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạmquyền sở hữu; các tội phạm về chức vụ cũng như các tội phạm kinh tế Để
xử lý các tội phạm này các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng nhiều biệnpháp xử lý khác nhau, trong đó có việc áp dụng biện pháp tư pháp Theo báocáo của Bộ Tư pháp năm 2012 "Thực tiễn 11 năm thi hành Bộ luật hình sựcho thấy, các biện pháp tư pháp thường được áp dụng nhiều nhất là tịch thuvật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41); trả lại tài sản, sửa chữahoặc bồi thường thiệt hại (Điều 42)" [1]
Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, biện pháp tư pháp "Trả lại tàisản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" không có ý nghĩa quyết định nhưhình phạt nhưng trong giới hạn tác động của nó đã phát huy được vai trò tíchcực, là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong hệ thống các biện pháptác động của Nhà nước và xã hội đến tội phạm Vai trò nổi bật của biện pháp
tư pháp này khi áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội là nhằm loại bỏ những điều kiện phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội trongtương lai và khi áp dụng cùng hình phạt nó có vai trò hỗ trợ cho hình phạt
Tuy nhiên, việc nhận thức cũng như áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản,sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" một cách chính xác, trên cơ sở đó đưa raphán quyết công bằng và thống nhất chung cho mọi trường hợp không phải làviệc dễ dàng, đơn giản đối với những người tiến hành tố tụng Vì thế có nhiềutrường hợp đã dẫn đến tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng trong ápdụng các điều luật có nội dung liên quan đến vấn đề xử lý tài sản là đối tượngchiếm đoạt hoặc bị sử dụng trái phép, còn tồn tại việc xác định thiệt hại cũng
9
Trang 10như đánh giá các chứng cứ liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại chưa triệt
để dẫn đến Tòa án đưa ra quyết định về việc bồi thường thiệt hại chưa thỏa đáng,
có trường hợp bồi thường thấp có trường hợp bồi thường cao;… Đây cũng là mộttrong những lý do dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất và tìnhtrạng kháng cáo, kháng nghị, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng lợiích của những người bị hại thậm chí của cả người phạm tội
Bản chất của biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệthại" mang tính dân sự và giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự làmột trong những nguyên tắc quan trọng đã được quy định tại Điều 28 Bộ luật
tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 Trong thời gian qua, các quy định củapháp luật hình sự về biện pháp tư pháp này đã có những sửa đổi, bổ sung đểphù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Tuy nhiên trongquá trình áp dụng cũng như nghiên cứu vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, cách hiểu
và áp dụng khác nhau
Việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Namhiện hành và thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữahoặc bồi thường thiệt hại" để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra nhữnggiải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định đó không chỉ
có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng
cho việc lựa chọn đề tài: Biện pháp tư pháp: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc
bồi thường thiệt hại theo Bộ luật hình sự năm 1999 làm luận văn thạc sĩ luật
học Đây là một đề tài khá mới và phức tạp, tuy nhiên với phạm vi luận vănthạc sĩ, tác giả chỉ nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đếnbiện pháp tư pháp này trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tiễn xét xử 5 năm(2009 - 2013) địa bàn tỉnh Thái Bình
2 Tình hình nghiên cứu
Từ khi Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 có hiệu lực, các biện pháp
tư pháp cũng đã được một số tài liệu, bài viết tạp chí đề cập đến và cũng đãđược các nhà nghiên cứu chọn làm đề tài luận văn, luận án
Trang 11Trước tiên, phải kể đến là Giáo trình của một số cơ sở đào tạo Luật
trong nước, như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007; Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, 2010; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Học viện Tư pháp,
PGS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2011
Thứ hai, ở cấp độ luận văn thạc sĩ thực hiện ở Trường Đại học Luật
Hà Nội có đề tài của Lê Thị Bích Lan, "Một số vấn đề trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm"; cấp độ đề tài luận án
tiến sĩ của Nguyễn Thanh Hồng, "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ
án tai nạn giao thông đường bộ".
Thứ ba, một số sách chuyên khảo như: Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), của
GS.TSKH Lê Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; "Những vấn đề
lý luận và thực tiễn về hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam",
PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2011;"Cơ sở lý luận
và thực tiễn nâng cao hiệu quả của các biện pháp tư pháp và các hình phạt không phải là tù và tử hình", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; "Tìm hiểu hình phạt và các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam: những văn bản hướng dẫn thi hành hình phạt trong bộ luật hình sự 1999", Trần Minh
Hưởng, Nxb Lao động, Hà Nội, 2007; "Hoàn thiện các quy định chung của
phần chung Bộ luật hình sự trong yêu cầu mới của đất nước", TS Trịnh Tiến
Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012
Thứ tư, một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập
đến đối tượng nghiên cứu của luận văn này, như: "Trách nhiệm bồi thường
thiệt hại do hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe con người" của ThS Đinh
Văn Quế (Tạp chí Tòa án, số 10/2004); "Quy định của Bộ luật hình sự và Bộ
luật tố tụng hình sự về việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu và thực tiễn áp
11
Trang 12dụng" của ThS Nguyễn Văn Trượng (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2005);
"Thực trạng quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp" của TS.
Trương Quang Vinh (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2010)
Tình hình nghiên cứu cho thấy, trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận vềvấn đề này, các nhà nghiên cứu luật học đã đề cập đến một mức độ nào đó vềbiện pháp tư pháp Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu riêng về biệnpháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" mà chỉ đơn
lẻ nghiên cứu đề cập về vấn đề bồi thường thiệt hại
Để việc đưa biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồithường thiệt hại" áp dụng vào thực tiễn được chính xác, cụ thể hơn đòi hỏivấn đề lý luận về loại biện pháp tư pháp này phải được nghiên cứu sâu hơn,toàn diện, có hệ thống và chính thống hơn Do vậy, việc nghiên cứu đề tài nàymang ý nghĩa lý luận và thực tiễn Xây dựng và hoàn thiện biện pháp tư phápnày nói riêng và BLHS, BLTTHS nói chung là đáp ứng một trong những yêucầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận
về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" cũngnhư thực tiễn pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp này trên địabàn tỉnh Thái Bình trong 5 năm từ năm 2009 đến năm 2013, luận văn đề xuấtnhững kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự vềbiện pháp tư pháp này và nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của biện pháp tư pháp
"Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"như: khái niệm, đặc điểm,
Trang 13vai trò của biện pháp tư pháp này; phân biệt biện pháp này với biện pháp tưpháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" và với một số hìnhphạt mang tính kinh tế.
- Nghiên cứu so sánh với pháp luật hình sự Liên bang Nga và Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa
- Phân tích làm sáng tỏ những quy định biện pháp tư pháp "Trả lại tàisản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1945đến nay;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp này trên địa bàn tỉnhThái Bình từ năm 2009 đến năm 2013 để chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyênnhân của nó
- Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một
số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế định biện pháp tư pháp "Trả lại tàisản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong pháp luật hình sự Việt Nam và nângcao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về Nhà nước vàpháp luật, logic học, triết học, tội phạm học, luật hình sự, tố tụng hình sự
Luận văn được hình thành dựa trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứucủa các nhà khoa học và các tài liệu đã được công bố, dựa trên cơ sở nghiêncứu các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản áp dụng pháp luật, bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân, phân tích thực tiễn trên địa bàn tỉnh TháiBình đồng thời sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp logic lịch sử,phân tích, thống kê và phương pháp tổng hợp để chọn lọc, trình bày nội dungluận văn
13
Trang 145 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận
và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận vănthạc sĩ luật học về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồithường thiệt hại" mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận vàthực tiễn liên quan đến loại biện pháp tư pháp thường xuyên được áp dụngtrong thực tiễn của luật hình sự Việt Nam
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn có đềxuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định để nâng cao hiệu quả ápdụng biện pháp tư pháp này trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
và cải cách tư pháp hiện nay
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiêncứu, đào tạo, các cơ quan bảo vệ pháp luật có thể dùng để rút kinh nghiệmtrong công tác điều tra, truy tố, xét xử
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nộidụng của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản,
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" theo luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Những quy định về biện pháp tư pháp: "Trả lại tài sản, sửa
chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn
áp dụng trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về biện pháp
"Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong pháp luật hình sựViệt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
"TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI"
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI"
1.1.1 Quan niệm chung về các biện pháp tư pháp
Nhà nước quản lý xã hội bằng nhiều phương tiện khác nhau trong đóphương tiện hữu hiệu nhất là pháp luật, với mỗi loại vi phạm pháp luật cónhững chế tài riêng để xử lý và đưa các quan hệ xã hội trở về trật tự cần phải
có Khi cá nhân thực hiện tội phạm thì sẽ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợithông qua các chế tài hình sự được quy định trong BLHS hay nói cách khácngười phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) do hành vi phạm tộicủa mình Hệ thống các dạng của TNHS gồm:
15
Trang 16+ Các biện pháp tư pháp quy định riêng đối với người chưa thành niênphạm tội: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào trường giáo dưỡng.
Nghiên cứu luật hình sự nước ngoài cho thấy, ít có nước nào chỉ thiếtlập riêng hoặc là hệ thống các hình phạt hoặc là hệ thống các biện pháp cưỡngchế hình sự khác trong luật hình sự, mà phần lớn các nước chấp nhận sự songsong tồn tại hai hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự: Hình phạt và biệnpháp cưỡng chế hình sự khác Tuy nhiên, biện pháp cưỡng chế hình sự khác ởmỗi nước khác nhau có tên gọi khác nhau, chẳng hạn, BLHS của Cộng hòaLiên bang Đức quy định từ Điều 61 đến Điều 72 về các biện pháp cải biến và
an toàn; luật hình sự của Cộng hòa Pháp và BLHS năm 1995 của Tây BanNha đều gọi các biện pháp này với tên gọi là biện pháp an ninh Chính quyềnSài Gòn cũ đưa các biện pháp này vào Chương II BLHS năm 1972 với tên gọi
là các biện pháp phòng vệ Còn BLHS năm 1999 của Việt Nam đặt tên cácbiện pháp cưỡng chế hình sự này là các biện pháp tư pháp
Trong luật hình sự Việt Nam, chế định hình phạt được BLHS năm
1999 ghi nhận đầy đủ từ khái niệm, mục đích đến các loại hình phạt cụ thể.Trong khi đó, Pháp luật hình sự nước ta từ năm 1945 đến nay chưa có ghinhận khái niệm pháp lý cũng như mục đích của biện pháp tư pháp Định nghĩabiện pháp tư pháp đã được một số nhà hình sự học đề cập đến trong một sốcông trình khoa học luật hình sự như các sách chuyên khảo và giáo trình củacác trường đại học chuyên ngành Luật Chẳng hạn như:
Biện pháp tư pháp là những biện pháp cưỡng chế của Nhànước, được Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng với người phạm tộicũng như người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khimắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhậnthức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình [46, tr 186];
"Các biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được Bộ luật hình sựquy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểmcho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt" [47, tr 249];
Trang 17Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự củaNhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quyđịnh và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vàogiai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với ngườiphạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó hoặc hỗ trợ haythay thế cho hình phạt [7, tr 679].
Trong khoa học luật hình sự nước ngoài, biện pháp cưỡng chế hình sựkhác được hiểu là "Biện pháp tước hoặc hạn chế tự do hoặc quyền, hoặc làbiện pháp về tài sản, chủ yếu có mục đích ngăn ngừa việc thực hiện tội phạmmới" hoặc là "những biện pháp cưỡng chế không có màu sắc luân lý, áp dụngvới các cá nhân nguy hiểm cho trật tự xã hội để phòng ngừa các tội phạm màtình trạng của họ có thể gây ra" Trong các định nghĩa khoa học về các biệnpháp cưỡng chế hình sự khác nêu trên, các học giả đã dựa trên bản chất, đặcđiểm và chức năng của các biện pháp này tuy nhiên chưa khái quát hết cácđặc điểm chủ yếu của loại biện pháp này như về chủ thể áp dụng, hiệu lựcpháp luật và hiệu lực thi hành của nó [40, tr 87]
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích, so sánh, tổng hợp các định nghĩa củacác nhà khoa học trong và ngoài nước, có thể chỉ ra năm đặc điểm cơ bản củabiện pháp tư pháp như sau:
Thứ nhất, biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự của
Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt
"Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nướcnhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội" [27, Điều 26]
do Tòa án quyết định, chính vì vậy khi bị áp dụng hình phạt sẽ để lại án tíchđối với người bị tuyên phạt trong khi đó hậu quả pháp lý đối với người bị ápdụng biện pháp tư pháp không bị coi là có án tích Mặt khác, tính ít nghiêmkhắc hơn hình phạt của biện pháp tư pháp còn thể hiện ở mục đích của hailoại biện pháp cưỡng chế hình sự này Nếu như hình phạt nhằm trừng trị
17
Trang 18người phạm tội, có thể tước đoạt quyền, tự do thậm chí là tính mạng củangười bị kết án thì các biện pháp tư pháp chỉ có thể hạn chế một số quyềnnhân thân của người phạm tội thậm chí một số biện pháp tư pháp xét về mặt
xã hội còn mang lại lợi ích cho người phạm tội Ví dụ: trường hợp áp dụngbiện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năngđiều khiển hành vi của mình; hoặc người phạm tội trước khi bị kết án hoặcđang trong thời gian chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năngnhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình thì biện pháp tư pháp có ý nghĩanhân đạo giúp người này trở lại trạng thái của người bình thường
Thứ hai, biện pháp tư pháp được áp dụng cho chính cá nhân cụ thể
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Trong những trường hợp người thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu TNHShoặc được miễn truy cứu TNHS thì người đó vẫn có thể phải bị áp dụng biệnpháp tư pháp Ví dụ: Giá trị tài sản trộm cắp dưới 2 triệu đồng và người thựchiện chưa có tiền án, tiền sự thì người đó không bị truy cứu TNHS theo khoản
1 Điều 138 BLHS năm 1999 nhưng tài sản thu giữ được sẽ được áp dụng biệnpháp tư pháp trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu có hưhỏng có thể sẽ phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
Thứ ba, biện pháp tư pháp nhằm hạn chế quyền, tự do của người thực
hiện tội phạm, nhằm hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt và nhằm loại bỏ nhữngđiều kiện phạm tội, ngăn ngừa chủ thể bị áp dụng phạm tội trong tương lai
Xét về bản chất, các biện pháp tư pháp hình sự không phải là hìnhphạt nhưng cũng là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nhằm tăng hiệuquả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Vì vậy, các biện pháp tư pháp khi
áp dụng cùng với hình phạt thì chúng có khả năng tác động hỗ trợ cho việc ápdụng và thi hành hình phạt đạt hiệu quả cao hơn hoặc có thể thay thế cho hìnhphạt đối với những trường hợp không áp dụng hình phạt (như miễn hình phạt,miễn TNHS)
Trang 19Ngoài ra, do tính chất được áp dụng trong mọi giai đoạn tố tụng nênngay cả trước khi Tòa án áp dụng hình phạt thì những điều kiện phạm tộicũng sẽ được biện pháp tư pháp loại bỏ cùng với đó sẽ phòng ngừa chủ thể bị
áp dụng phạm tội trong tương lai (ví dụ: việc áp dụng biện pháp tịch thu vật,tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm đối với tiền, tài sản và các công cụ phạmtội trong vụ án bắt quả tang nhiều đối tượng đánh bạc sẽ làm chấm dứt cácđiều kiện phạm tội đang tồn tại và có giá trị phòng ngừa các đối tượng phạmtội tiếp)
Thứ tư, biện pháp tư pháp được áp dụng đối với tất cả các giai đoạn tố
tụng vì vậy chủ thể áp dụng biện pháp tư pháp rộng hơn chủ thể áp dụng hìnhphạt Với tính chất đặc biệt của mình, hình phạt chỉ có thể do Tòa án áp dụngthông qua bản án Trong khi đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa ánđều có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp khi có căn cứ đối với ngườiphạm tội nói chung (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và cả người bị kết án),
riêng đối với biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt chỉ có thể do Tòa án áp
dụng đối với người bị kết án
Thứ năm, biện pháp tư pháp được quy định trong BLHS, phải được cơ
quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự thủ tục chặt chẽ do luật
tố tụng hình sự quy định và phải tuân theo nguyên tắc pháp chế, nguyên tắccông bằng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người
Quy định về việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự trong luậthình sự Việt Nam bảo đảm thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta làmọi hành vi phạm tội đều bị xử lý Đồng thời góp phần giúp cho các cơ quan
tư pháp có thẩm quyền vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và đúng đắn chính sáchhình sự của Nhà nước; đồng thời khẳng định việc áp dụng hình phạt với tưcách là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất không phải là phươngtiện duy nhất trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
19
Trang 201.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
* Khái niệm, đặc điểm của biện pháp " Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Khi điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm có liên quan đến việcchiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép tài sản hoặc những tội phạm xâm phạmtính mạng, sức khỏe, nhân phẩm… Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa ánthường phải áp dụng các quy định của BLHS và BLTTHS để giải quyếtnhững vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại Một trong nhữngbiện pháp giải quyết vấn đề tài sản và trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự
mà cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng hiệu quả là biện pháp tư pháp "Trả lạitài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" được quy định tại Điều 42 BLHSnăm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 quy định biện pháp này tại Điều 34 và đượcgiữ nguyên tên gọi tại Điều 42 BLHS năm 1999 "Trả lại tài sản, sửa chữahoặc bồi thường thiệt hại" là biện pháp tư pháp chung áp dụng đối với người
đã thành niên và người chưa thành niên phạm tội Biện pháp này tuy được quyđịnh thành một điều luật riêng trong BLHS nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nêunội dung của biện pháp Cũng như biện pháp tư pháp, trong luật hình sự củanước ta từ BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999 chưa có khái niệm pháp lýnào về biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" tuynhiên nó được đề cập đến trong giáo trình của một số cơ sở đào tạo Luật
Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1 của Trường Đại họcLuật Hà Nội do Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2010 có đưa ra kháiniệm về biện pháp tư pháp này như sau: "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồithường thiệt hại là biện pháp tư pháp được BLHS quy định, do Tòa án ápdụng đối với người phạm tội khi họ đã gây ra thiệt hại vật chất hoặc tinh thầncho người bị hại" [43, tr 259]
Trang 21Như phần trên đã xác định, một trong những đặc điểm của biện pháp
tư pháp chung là được áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng khác nhau từđiều tra, truy tố đến xét xử vì vậy chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện phápnày không chỉ có Tòa án mà còn cả Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
Mặt khác, theo quy định của biện pháp này không chỉ rõ chủ thể bị thiệthại là "người bị hại" Theo quy định về người tham gia tố tụng của BLTTHSnăm 2003, khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đối với cơquan, đơn vị, tổ chức thì cơ quan, đơn vị, tổ chức tham gia tố tụng với tư cáchnguyên đơn dân sự và họ hoàn toàn có quyền được nhận lại tài sản của mìnhcũng như được sửa chữa tài sản do tội phạm làm hư hỏng hoặc có quyền yêu cầubồi thường thiệt hại đối với các thiệt hại do tội phạm gây ra Như vậy, có thểthấy khái niệm này chưa khái quát hết được nội dung của điều luật
Từ phân tích trên đây, tác giả mạnh dạn đưa ra một khái niệm về biện
pháp tư pháp này như sau: Biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại là biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy định và được
cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng buộc người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Về đặc điểm của biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thườngthiệt hại", đây là biện pháp tư pháp nên nó có đủ năm đặc điểm của biện pháp
tư pháp nói chung Đó là:
Thứ nhất, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơnhình phạt và hậu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp này là người bị ápdụng không bị coi là có án tích nếu như biện pháp này được áp dụng độc lậpvới hình phạt
Thứ hai, biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại" được áp dụng cho chính cá nhân cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội
21
Trang 22Thứ ba, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
nhằm hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt, nhằm loại bỏ những điều kiện phạmtội, ngăn ngừa chủ thể bị áp dụng phạm tội trong tương lai
Thứ tư, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
được áp dụng đối với tất cả các giai đoạn tố tụng vì vậy Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp nàykhi có căn cứ đối với người phạm tội nói chung (người bị tạm giữ, bị can, bịcáo và cả người bị kết án)
Thứ năm, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" là biện pháp cưỡng chế hình sự được quy định trong BLHS, phải được cơquan tư pháp có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ doluật tố tụng hình sự quy định và phải tuân theo nguyên tắc pháp chế, nguyêntắc công bằng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người
Ngoài năm đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp nói chung, biệnpháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" còn có những đặcđiểm riêng sau:
Thứ nhất, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" trong trường hợp được Tòa án áp dụng cùng với hình phạt không chỉnhằm hỗ trợ cho hình phạt mà còn để xử lý vật chứng trong vụ án hình sự
Thứ hai, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" là biện pháp tư pháp hình sự đồng thời mang tính chất dân sự
* Vai trò của biện pháp tư pháp " Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" là bộphận cấu thành của hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự trong luật hình sựViệt Nam Mặc dù là biện pháp tư pháp này là biện pháp hỗ trợ cho hình phạtnhưng không vì thế mà làm nó mất đi vai trò quan trọng trong việc thực hiệnchính sách hình sự và đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trang 23Ở phương diện thực hiện chính sách hình sự, biện pháp "Trả lại tàisản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có vai trò quan trọng trong lĩnh vực xâydựng và áp dụng pháp luật.
Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, cùng với việc quy định tội phạm
luật hình sự quy định một hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự đa dạng để
xử lý các hành vi nguy hiểm cho xã hội là một việc quan trọng để cụ thể hóachính sách hình sự của Nhà nước Việc đa dạng hóa các biện pháp cưỡng chếhình sự là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo tính thống nhất trongthực tiễn áp dụng pháp luật
Mỗi loại biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau được quy định vớinhiều cấp độ và khả năng tác động khác nhau thì việc xử lý hình sự càngchuẩn mực, độ chính xác, công bằng càng cao nghĩa là khả năng phân hóaTNHS càng được bảo đảm tốt hơn Chính vì thế việc quy định biện pháp tưpháp nói chung và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệthại" nói riêng làm cho hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự đa dạng hơn
về thể loại, cân đối hơn về số lượng, tương xứng hơn về tính chất và hoànthiện hơn cho cả hệ thống Để chứng minh cho nhận định này chúng ta có thểđặt vấn đề ngược lại, nếu hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự không tồn tạibiện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" thì sẽ như thếnào? Rõ ràng sẽ là một chỗ trống lớn của pháp luật khi thực tiễn xảy ra những
sự kiện pháp lý hình sự như: hành vi chiếm đoạt tài sản (trộm cắp, cướp, cướpgiật tài sản…) hoặc hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ dẫn đến hậu quả chết người… Lúc này người phạm tội phảichịu một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vitrên cơ sở các quy định về quyết định hình phạt trong BLHS là đương nhiên,nhưng còn các vấn đề về xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường các tổn thất
về vật chất và tinh thần cho người bị hại và một số người tham gia tố tụngkhác do tội phạm gây ra sẽ phải căn cứ vào đâu để giải quyết và giải quyếtnhư thế nào?
23
Trang 24Như vậy, có thể thấy bằng việc ghi nhận biện pháp "Trả lại tài sản,sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" pháp luật đã dự liệu trước những tìnhhuống pháp lý xảy ra trên thực tế để mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội đềuđược giải quyết một cách triệt để, đem lại công bằng cho xã hội và niềm tincho người dân.
Trong lĩnh vực áp dụng pháp luật, việc quy định biện pháp "Trả lại tài
sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong BLHS là căn cứ pháp lý giúpcho cơ quan tư pháp áp dụng pháp luật một cách chủ động, linh hoạt và chínhxác hơn Việc áp dụng biện pháp này sẽ củng cố, hỗ trợ và tăng cường chohiệu quả áp dụng hình phạt điều này thể hiện rõ nhất trong trường hợp ngườiphạm tội bị tuyên phạt các hình phạt chính không tước tự do như cảnh cáo,phạt tiền, cải tạo không giam giữ và còn bị áp dụng kèm theo biện pháp "Trảlại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Có thể nói, hình phạt là biện pháp cưỡng chế hình sự tác động trựctiếp đến quyền, tự do thân thể của người phạm tội còn biện pháp "Trả lại tàisản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tếcủa người này, cùng một lúc người phạm tội phải chịu sự tác động của cácbiện pháp hình sự khác nhau đến các lợi ích khác nhau sẽ có giá trị trừng trị,cải tạo và giáo dục hơn Mặt khác, điều đó cũng làm cho chủ thể bị thiệt hạinhận được sự công bằng, góp phần khắc phục giảm bớt những thiệt hại của họ
do tội phạm gây ra
Ngoài ra, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệthại" còn có vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Từ việc
áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" đối vớichính người phạm tội không chỉ có tác dụng tích cực đến người phạm tội màcòn hướng đến cộng đồng xã hội, có tính chất răn đe và phòng ngừa - cộngđồng xã hội nhìn vào hậu quả pháp lý bất lợi mà người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội phải gánh chịu để có những sự lựa chọn cách xử sự
Trang 25đúng đắn, tôn trọng pháp luật nếu không muốn phải gánh chịu những hậu quảpháp lý hình sự như người phạm tội đã phải chịu.
Mặc dù biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"không có mục đích trừng trị cao như hình phạt nhưng nó thể hiện sự lên ánmạnh mẽ của Nhà nước đồng thời chủ động loại trừ điều kiện tái phạm củangười phạm tội, làm tăng hiệu quả của hình phạt Do đó, sự phối hợp nhịpnhàng giữa hình phạt với các biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp "Trảlại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" nói riêng có giá trị và tầm quantrọng cao trong việc thực hiện chính sách hình sự và công cuộc đấu tranhphòng, chống tội phạm của quốc gia
1.2 PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP TƯ PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" VỚI HÌNH PHẠT TIỀN, HÌNH PHẠT TỊCH THU TÀI SẢN VÀ VỚI BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU TIỀN, VẬT TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tiền
"Phạt tiền được hiểu là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhànước được Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án vềnhững tội phạm do luật hình sự quy định với nội dung là tước một khoản tiềnnhất định của họ sung vào công quỹ của nhà nước" [40, tr 170]
Hình phạt tiền trong luật hình sự của nước ta đã tồn tại từ rất lâu vàluôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống hình phạt Cùng với trục xuất,phạt tiền là loại hình phạt lưỡng tính vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt
bổ sung Việc áp dụng hình phạt tiền phải thỏa mãn các điều kiện nhất định vàchúng ta so sánh với biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồithường thiệt hại" thấy được giữa hai loại biện pháp hình sự này có nhữngđiểm giống nhau và khác nhau như sau:
25
Trang 26Thứ nhất, chúng đều là biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy
định, chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội của cá nhân cụ thể có năng lựcTNHS, đủ tuổi chịu TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội bị luật hình sự cấm
Thứ hai, chúng đều là những biện pháp tác động vào tài sản, kinh tế
của đối tượng bị áp dụng
Thứ ba, chúng đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối với
người bị áp dụng (đó là quyền sở hữu đối với tài sản)
Thứ tư, chúng đều là các dạng, các hình thức thực hiện TNHS, do cơ
quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục đặcbiệt được quy định trong luật tố tụng hình sự
Thứ năm, theo pháp luật hình sự Việt Nam, chúng đều chỉ mang tính
chất cá nhân và chỉ áp dụng đối với thể nhân phạm tội
Sự khác nhau của hình phạt tiền và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữahoặc bồi thường thiệt hại" có thể nhận thấy qua bảng so sánh sau:
Bảng 1.1: So sánh biện pháp tư pháp " Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tiền
TT Tiêu chí Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa Hình phạt tiền
so sánh chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Là biện pháp cưỡng chế hình sự ít Là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc hơn hình phạt tiền nghiêm khắc hơn biện pháp "Trả
1 Mức độ Việc áp dụng biện pháp này sẽ lại tài sản, sửa chữa hoặc bồinghiêm khắc không để lại án tích cho người bị thường thiệt hại" Việc áp dụng
áp dụng hình phạt tiền sẽ để lại án tích cho
người bị áp dụng.
Là biện pháp hỗ trợ cho hình phạt, Là hình phạt được áp dụng độc lập
2 Cách thức có thể được áp dụng độc lập hoặc (khi là hình phạt chính) hoặc áp
áp dụng áp dụng bên cạnh hình phạt dụng bên cạnh hình phạt khác (khi
là hình phạt bổ sung).
Chủ thể có Rộng hơn, bao gồm Cơ quan điều Hẹp hơn, chỉ Tòa án mới có thẩm
Trang 2726
Trang 28TT Tiêu chí Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa Hình phạt tiền
so sánh chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Rộng hơn, là người thực hiện hành Hẹp hơn, là người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội được luật vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm hoặc hình sự quy định là tội phạm Xét không phải là tội phạm (do không về tư cách tố tụng, đối tượng bị áp Đối tượng đủ yếu tố cấu thành tội phạm) Xét dụng chỉ là bị cáo thông qua quyết
4 về tư cách tố tụng, đối tượng bị áp định trong bản án.
áp dụng
dụng có thể là người không bị khởi tố về hình sự hoặc là người bị khởi tố về hình sự (bị can, bị cáo) thông qua quyết định xử lý vật chứng hoặc bản án.
5 Đối tượng Quyền sở hữu hoặc chiếm hữu bất Quyền sở hữu tài sản của ngườichịu tác động hợp pháp tài sản của người phạm tội phạm tội.
Rộng hơn, áp dụng trong mọi tội Hẹp hơn, chỉ một số loại tội phạm phạm ít nghiêm trọng, nghiêm nhất định mới được áp dụng hình trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt phạt tiền Cụ thể:
nghiêm trọng xâm phạm đến - Là hình phạt chính: Chỉ áp dụng quyền sở hữu tài sản, quyền tự do đối với tội phạm ít nghiêm trọng thân thể, sức khỏe, tính mạng, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
6 Phạm vi danh dự, nhân phẩm của con trật tự công cộng, trật tự quản lý
áp dụng người. hành chính hoặc một số tội phạm
khác do BLHS năm 1999 quy định.
- Là hình phạt bổ sung: Chỉ áp dụng đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy, hoặc những tội phạm khác do BLHS năm 1999 quy định.
Áp dụng biện pháp tư pháp nhằm Hình phạt nhằm trừng trị, giáo dục loại bỏ những điều kiện phạm tội, người phạm tội và ngăn ngừa họ
7 Mục đích ngăn ngừa họ phạm tội trong phạm tội mới;
áp dụng tương lai Hình phạt nhằm giáo dục người
khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Hậu quả Khi không kèm theo hình phạt đối Người bị áp dụng phải chịu án tích.
Trang 29Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
27
Trang 301.2.2 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
Hình phạt tịch thu tài sản "là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự do Tòa án tuyên bố trong bản án kết tội đối với người bị kết án về một trong các tội được luật hình sự quy định với nội dung là tước của họ một phần hoặc toàn bộ tài sản sung công quỹ nhà nước" [40, tr 191].
Cũng giống như với hình phạt tiền, biện pháp "Trả lại tài sản, sửachữa hoặc bồi thường thiệt hại" và hình phạt tịch thu tài sản có những đặcđiểm giống nhau sau đây:
Thứ nhất, chúng đều là biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy
định, chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội của cá nhân cụ thể có năng lựcTNHS, đủ tuổi chịu TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội bị luật hình sự cấm
Thứ hai, chúng đều là những biện pháp tác động vào tài sản, kinh tế
của đối tượng bị áp dụng
Thứ ba, chúng đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối với
người bị áp dụng (đó là chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của ngườiphạm tội)
Thứ tư, chúng đều là các dạng, các hình thức thực hiện TNHS, do cơ
quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục đặcbiệt được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự
Thứ năm, theo pháp luật hình sự Việt Nam, chúng đều chỉ mang tính
chất cá nhân và chỉ áp dụng đối với thể nhân phạm tội
Thứ sáu, tài sản mà người phạm tội phải "trả" hoặc bị "tịch thu" đều là
những tài sản do người phạm tội vi phạm pháp luật mà có
Sự khác nhau của hình phạt tịch thu tài sản và biện pháp "Trả lại tài sản,sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có thể nhận thấy qua bảng so sánh sau:
Trang 31Bảng 1.2: So sánh biện pháp tư pháp " Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
TT Tiêu chí Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa Hình phạt tịch thu tài sản
so sánh chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Là biện pháp cưỡng chế hình sự ít Là biện pháp cưỡng chế hình sự Mức độ nghiêm khắc hơn hình phạt tịch thu nghiêm khắc hơn biện pháp "Trả
tài sản Việc áp dụng biện pháp này lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
Cách thức Là biện pháp hỗ trợ cho hình phạt, có Là hình phạt bổ sung được áp dụng
2 thể được áp dụng độc lập hoặc áp bên cạnh hình phạt khác
áp dụng
dụng bên cạnh hình phạt.
Chủ thể có Rộng hơn, bao gồm Cơ quan điềutra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có Hẹp hơn, chỉ Tòa án mới có thẩmquyền áp dụng trong giai đoạn xét xử.
3 thẩm quyền thẩm quyền áp dụng tùy vào giai
4 Đối tượng
phải là tội phạm (do không đủ yếu tố cách tố tụng, đối tượng bị áp dụng cấu thành tội phạm) Xét về tư cách chỉ là bị cáo thông qua quyết định
áp dụng
tố tụng, đối tượng bị áp dụng có thể trong bản án.
là người không bị khởi tố về hình sự hoặc là người bị khởi tố về hình sự (bị can, bị cáo) thông qua quyết định
6 Phạm vi quyền sở hữu tài sản, quyền tự do án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm
Trang 32áp dụng thân thể, sức khỏe, tính mạng, trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
danh dự, nhân phẩm của con người trong trường hợp BLHS quy định
(Ví dụ tội tham ô tài sản Điều 278, tội nhận hối lộ Điều 279 BLHS năm 1999)
29
Trang 33TT Tiêu chí Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa Hình phạt tịch thu tài sản
so sánh chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Không có giới hạn nào về mức bồi Có giới hạn tài sản bị tịch thu: thường hoặc phạm vi sửa chữa tài Trong trường hợp tịch thu toàn bộ Giới hạn sản bị hư hỏng mà mức bồi thường tài sản vẫn để cho người bị kết án
thiệt hại hoặc buộc phải sửa chữa và gia đình họ có điều kiện sinh
Áp dụng biện pháp tư pháp nhằm Hình phạt nhằm trừng trị, giáo dục loại bỏ những điều kiện phạm tội, người phạm tội và ngăn ngừa họ
8 Mục đích ngăn ngừa họ phạm tội trong phạm tội mới;
áp dụng tương lai Hình phạt nhằm giáo dục người
khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Hậu quả Khi không kèm theo hình phạt đối Người bị áp dụng phải chịu án tích.
với người phạm tội, người bị áp dụng
9 pháp lý của
việc áp dụng không bị coi là có án tích (ví dụ:
khi người đó được miễn hình phạt).
Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
1.2.3 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với biện pháp tư pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm"
Biện pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" đượcquy định tại Điều 41 BLHS năm 1999 như sau:
a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
những thứ ấy mà có;
Trang 3430
Trang 352 Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sửdụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lýhợp pháp.
lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì cóthể bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước [27]
Chúng ta có thể hiểu hai biện pháp này là hai trình tự ngược nhautrong quá trình giải quyết vụ án hình sự: đối với vụ án hình sự cụ thể, nếu như
biện pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" nhằm thu hồi
vật chứng thì biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"nhằm xử lý vật chứng đã thu hồi Vì vậy hai biện pháp này có quan hệ chặtchẽ với nhau trong quá trình xử lý vật chứng một vụ án hình sự
Sự giống nhau của hình phạt tịch thu tài sản và biện pháp "Trả lại tàisản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có thể nhận thấy qua một số điểmsau:
Thứ nhất, chúng đều là các biện pháp tư pháp được quy định trong
BLHS năm 1999 Vì vậy, chúng đều mang đặc điểm chung của biện pháp tưpháp như đã trình bày ở trên
Thứ hai, chúng đều là các biện pháp tác động đến tài sản, quyền kinh
tế của người phạm tội
Thứ ba, việc áp dụng chúng đều giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải
quyết vấn đề xử lý vật chứng, xử lý tài sản có liên quan và giải quyết vấn đềdân sự trong vụ án hình sự
Sự khác nhau của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đếntội phạm và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" cóthể nhận thấy qua bảng so sánh sau:
31
Trang 36Bảng 1.3: So sánh biện pháp tư pháp " Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
TT Tiêu chí Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa Biện pháp "Tịch thu vật, tiền trực
so sánh chữa hoặc bồi thường thiệt hại" tiếp liên quan đến tội phạm"
Là tài sản của người bị hại, người Chỉ là vật, tiền có thể là của người bị quản lý hợp pháp và trong trường hại, người quản lý hợp pháp (ví dụ: hợp phải bồi thường thiệt hại thì nó đối tượng tịch thu là tài sản do phạm
có thể là tài sản của người phạm tội mà có…), cũng có thể là của tội Nói đến "tài sản" đây là khái người phạm tội (ví dụ: tiền thu được niệm rộng hơn "vật, tiền" (ngoài trên chiếu bạc của các đối tượng tham
1 Đối tượng vật, tiền còn có các quyền nhân gia đánh bạc…), có thể là của ngườitác động thân gắn liền với tài sản như quyền khác có lỗi trong việc để người phạm
sở hữu trí tuệ, quyền tác giả….) tội sử dụng vào việc phạm tội (ví dụ:
A cho B mượn xe ô tô trong khi biết
B chưa có giấy phép lái xe ô tô dẫn đến B gây tai nạn giao thông….) và
có thể là những vật Nhà nước cấm lưu hành (ví dụ: pháo nổ, ma túy…)
Là biện pháp quy định phương thức Là biện pháp nhằm thu hồi và xử lý
xử lý vật chứng trong vụ án hình sự: vật chứng trong vụ án hình sự: Nếu trong một vụ án hình sự có liên Điều 42 quy định phương thức xử quan đến tài sản thì phương án xử lý: lý đối với tài sản (bao gồm: trả lại, trước tiên là "trả lại" cho chủ sở hữu sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại) hoặc người quản lý hợp pháp, nếu tài thì Điều 41 quy định trường hợp sản bị hư hỏng có thể khắc phục nào "không tịch thu mà trả lại cho
2 Tính chất được thì "sửa chữa" và "trả lại", nếu chủ sở hữu", trường hợp nào thì
tài sản bị hư hỏng đến mức không tịch thu sung công quỹ Nhà nước thể khắc phục được thì phải "bồi
thường thiệt hại" Ngoài ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn đặt ra trong trường hợp tội phạm làm tổn hại đến tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm của con người.
3 Đối tượng Người bị hại, người quản lý hợp Người bị hại, người quản lý hợpthụ hưởng pháp tài sản pháp tài sản và Nhà nước.
Trang 37Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
32
Trang 381.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI"
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, luật hình sự nước ta đã quyđịnh về hình phạt và phân chia hình phạt thành ba loại: chính hình, phụ hình
và bổ túc hình Trong đó, chính hình là hình phạt tuyên độc lập cho mỗi tộiphạm, phụ hình là hình phạt thêm vào hình phạt chính, không cần Tòa ántuyên án Phụ hình là hậu quả tất yếu của chính hình nên Tòa án không cầntuyên phụ hình mà nó vẫn được thi hành theo luật pháp Bổ túc hình theo têngọi cũng là thêm vào hình phạt chính, không có bổ túc hình khi không có hìnhphạt chính Tuy nhiên, khác với phụ hình, bổ túc hình chỉ được áp dụng chotội nhân khi Tòa án có tuyên phạt rõ ràng Bổ túc hình hay còn gọi là hìnhphạt bổ sung trong luật hình sự thời kỳ này gồm: tịch thu tài sản, buộc phảibồi thường chi phí hay tổn hại, tước quyền công dân, lưu xứ, quản thúc, câuthúc thân thể, niêm yết tên tuổi phạm nhân nơi công cộng Thời kỳ này luậthình sự nước ta chưa có quy định về biện pháp tư pháp
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHSnăm 1985 nước ta đã trải qua một thời kỳ lịch sử đầy biến động, xã hội cònnhiều khó khăn nên công tác xây dựng pháp luật nói chung, luật hình sự nóiriêng đặc biệt là các quy phạm pháp luật quy định về biện pháp tư pháp chưathực sự được chú trọng quan tâm, nên pháp luật lúc này còn rất nhiều hạn chế.Mặc dù các biện pháp tư pháp trong thời kỳ này chưa được quy định thànhmột chương riêng với tên gọi là các biện pháp tư pháp như hiện nay nhưngtrong thời kỳ này một số biện pháp tư pháp đã được quy định rải rác trong cácSắc lệnh như: Sắc lệnh số 01/SL ngày 19/4/1957 trừng trị tội đánh bạc tạiĐiều 2 quy định về biện pháp tịch thu tang vật; Sắc lệnh 267/SL ngày15/6/1956 quy định về biện pháp bồi thường thiệt hại
Trang 39Khi người phạm tội chiếm đoạt, sử dụng trái phép tài sản thuộc sở hữu
xã hội chủ nghĩa hay sở hữu của người khác hoặc người phạm tội gây ra thiệthại vật chất cho người khác thì ngoài TNHS họ đồng thời phải chịu tráchnhiệm về dân sự Bắt buộc người phạm tội phải trả lại những vật, tiền đãchiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữahoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây
ra có ý nghĩa như là biện pháp bảo vệ tài sản của công dân cũng như tài sảnthuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa Biện pháp tư pháp này thông thường được ápdụng đối với những người phạm các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâmphạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân Trước đây,trong Sắc lệnh 150/SL ngày 15/4/1953 về việc thành lập các tòa án nhân dânđặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất, Sắclệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 trừng trị những âm mưu và hành động pháhoại tài sản của Nhà nước và nhân dân cản trở việc thực hiện chính sách, kếhoạch nhà nước thì việc bồi thường thiệt hại được xem như hình phạt bổ sung
do Tòa án đặc biệt áp dụng với người phạm tội Quan điểm cho rằng việc bồithường thiệt hại và trả lại tài sản đã bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc ngườiquản lý hợp pháp là hình phạt bổ sung đã hạn chế các cơ quan bảo vệ phápluật vì nó chỉ được áp dụng theo quyết định của Tòa án mà thôi Thế nhưngtrong thực tế, biện pháp này cần được áp dụng với người phạm tội thậm chítrước giai đoạn xét xử nếu Tòa án có đầy đủ các căn cứ để miễn tố hoặc miễnTNHS cho họ Trong các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao saunày, bồi thường thiệt hại không được xem là hình phạt mà được coi là biệnpháp dân sự trong vụ án hình sự
Tuy nhiên, chỉ tới khi Nhà nước ban hành hai pháp lệnh trừng trị cáctội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 thì việc bồi thườngthiệt hại và trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lýhợp pháp được chính thức khẳng định là biện pháp tư pháp chứ không phải làhình phạt Điều 21 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ
34
Trang 40nghĩa ngày 21/10/1970 với tên gọi "Trả lại và bồi thường tài sản xã hội chủnghĩa bị xâm phạm" đã quy định: "Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản xã hội chủnghĩa phải trả lại tài sản đó cho Nhà nước hoặc cho tập thể Nếu tài sản bịxâm phạm không còn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường"
và Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dânngày 21/10/1970 với tên gọi "Trả lại và bồi thường tài sản riêng của công dân
bị xâm phạm" quy định: "Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản riêng của công dânphải trả lại tài sản cho người có tài sản đó Nếu tài sản bị xâm phạm khôngcòn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường"
Như vậy có thể nói biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thườngthiệt hại" trong thời kỳ này được đề cập chủ yếu trong thực tiễn xét xử
1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 là BLHS đầu tiên kể từ khi thống nhất đấtnước đã được kỳ họp thứ IX - Quốc hội khóa VII thông qua ngày 27/6/1985,
có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 Sự ra đời của BLHS năm 1985 đánh dấu mộtbước tiến vượt bậc trong hoạt động lập pháp, thể hiện tập trung chính sáchhình sự của Đảng và Nhà nước, các quy phạm pháp luật hình sự được phápđiển hóa Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của nước ta các biện pháp tưpháp được quy định thành một chương riêng, hoàn chỉnh - Chương V với têngọi "Các biện pháp tư pháp"
Trong BLHS năm 1985, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồithường thiệt hại" được quy định tại khoản 1 Điều 34
Điều 34: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi
đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa