1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bình luận bộ Luật Hình sự năm 2017 phần chung

117 300 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 197,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt.

Trang 1

BÌNH LUẬN BỘ LUẬT HÌNH SỰ HỢP NHẤT 2017

(Nguồn: uselaw.vn)

Chương I ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN

Điều 1 Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự

Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt.

Bình luận:

Nhiệm vụ của BLHS rất nhiều nhưng có thể khái quát ở 2 nhiệm vụ chính

Một là nhiệm vụ bảo vệ, bảo vệ gì? Chính là bảo vệ những mối quan hệ xã hội được pháp luật

hình sự bảo vệ Trong xã hội có rất nhiều những quan hệ cần được điều chỉnh, tuy nhiên do tínhchất, mức độ và tầm quan trọng khác nhau nên sẽ được điều chỉnh bởi những nhóm quy phạmpháp luật khác nhau Luật hình sự chọn những quan hệ xã hội trọng tâm, gần như là quan trọngnhất, ưu tiên hàng đầu để điều chỉnh như chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ

xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân v.v…

Hai là giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Bản chất của pháp luật hình sự không phải là để trừng phạt người phạm tội giống như hệ thốngpháp luật thời phong kiến Điều này dễ dàng nhìn thấy qua các hình phạt cổ như lăng trì, tùng xẻo,ngũ mã phanh thây v.v…hình phạt trong Bộ Luật hình sự ngày nay đang đi theo xu hướng càngngày càng giảm án tử hình thay bằng hình thức chung thân và thi hành án tử cũng trở nên nhân đạohơn để tử tù được ra đi một cách nhẹ nhàng, ít đau đớn nhất

Để thực hiện 2 nhiệm vụ trên thì BLHS quy định xung quanh 2 vấn đề và cũng là xuyên suốt quacác thời kỳ đó là Tội phạm và Hình phạt Nói đến hình sự người ta nghĩ ngay đến tội phạm và hìnhphạt và ngược lại Đó là đặc trưng cơ bản và rất dễ nhận thấy ở pháp luật hình sự so với các ngànhluật khác như dân sự, hành chính Tuy nhiên, cũng cần lưu ý giữa vi phạm hành chính (xử phạt viphạm hành chính) và tội phạm (xử lý hình sự) có một mối quan hệ khá mật thiết, chúng khá tươngđồng trong nhiều mặt và ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự đôi khi rất mong manh phụthuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm và đôi khi là cách nhìn nhận chủquan của người xử phạt vi phạm hành chính và cơ quan công tố Do đó, trong thực tế không hiếmnhững trường hợp hồ sơ vi phạm hình sự nhưng sau đó chuyển sang xử lý hành chính và hồ sơ xử

lý hành chính chuyển sang xử lý hình sự do có dấu hiệu của tội phạm

Điều 2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự

1 Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

2 Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luận:

Trang 2

Đây là quy định chỉ rõ khi nào thì một cá nhân hay một pháp nhân thương mại phải chịu tráchnhiệm hình sự và đó là khi cá nhân, pháp nhân thương mại đó phạm một tội đã được BLHS quyđịnh Riêng đối với pháp nhân thương mại do tính đặc thù của chủ thể mà giới hạn những điều luật

có thể phạm phải chỉ bao gồm: Điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209,

210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300,324

Cách hành văn của quy định trên làm nhiều người có thể hiểu sai lệch (phi logic) rằng nếu mộtngười, pháp nhân thương mại nào đó phạm từ 2 tội trở lên thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

vì quy định chỉ nêu “khi phạm một tội” chứ không phải “vi phạm ít nhất một tội” Tuy nhiên nếunghiên cứu theo những nguyên tắc của bộ môn logic học thì cách diễn đạt như vậy hoàn toàn logic.Nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng không phải ai cũng có thể hiểu và am tường về bộ môn logic họcnày, hơn nữa luật pháp là nhằm mục đích phổ biến áp dụng trong thực tế vì vậy nó càng phổ thôngcàng dễ hiểu càng tốt Hiện quy định như vậy không sai nhưng để đảm bảo bớt tính hàn lâm và

tránh những sự nhầm lẫn không đáng có thì nên diễn đạt lại theo hướng “…phạm ít nhất một tội…”(cách hành văn mới này cũng hoàn toàn không sai nhưng lại dễ hiểu hơn).

Điều 3 Nguyên tắc xử lý

1 Đối với người phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố

ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra; đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt

tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện; g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

2 Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức

sở hữu và thành phần kinh tế;

Trang 3

c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp,

cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

Bình luận:

Nguyên tắc là những thứ bắt buộc phải tuân thủ, nguyên tắc được lập ra để đảm bảo tính thốngnhất và cho thấy được phần nào chính sách của BLHS nói riêng và chính sách của nhà nước nóichung đối với tội phạm Đó là phân định rõ nhóm đối tượng sẽ được hưởng chính sách khoanhồng, thể hiện sự nhân đạo của nhà nước và nhóm chính sách cứng rắn thể hiện sự nghiêm minhcủa pháp luật đối với nhóm đối tượng có khả năng và đã hoặc sẽ thực hiện những hành vi gây nguyhại lớn đến xã hội

Nguyên tắc thì nhiều nhưng nếu phân chia theo cách BLHS làm thì có nhóm những nguyên tắc đốivới người phạm tội và nhóm nguyên tắc đối với pháp nhân thương mại Tuy nhiên có thể nhìn thấyrất rõ ràng ở điều luật trên là 2 nhóm nguyên tắc này không có gì khác nhau về bản chất và nhómnguyên tắc của pháp nhân thương mại ít hơn nhiều với nguyên tắc của người phạm tội (có thể gọi

đó là tập hợp con trong trường hợp này) Những khác biệt rất ít cũng chỉ xuất phát từ những đặctrưng của từng loại chủ thể Điều này có thể dễ hiểu vì trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân làmột chế định rất mới mẻ và BLHS 2015 là Bộ luật đầu tiên ghi nhận chế định này Do đó khôngtránh khỏi việc nêu ra những nguyên tắc trên cũng cơ bản là dựa trên nguyên tắc dành cho ngườiphạm tội và theo đánh giá chủ quan của tác giả, nguyên tắc đối với pháp nhân thương mại vẫn cònthiếu nhiều và có thể sẽ phải bổ sung trong tương lai không xa Đơn cử như không có nguyên tắc

về việc tạo điều kiện cho pháp nhân tái hoạt động sau khi chấp hành xong hình phạt hay nguyêntắc về xóa điểm đen lý lịch pháp nhân (tương tự như xóa án tích) v.v…

Điều 4 Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

1 Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức, cá nhân phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, giám sát và giáo dục người phạm tội tại cộng đồng.

2 Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.

3 Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.

Bình luận:

Điều luật này cho thấy rằng trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm là của toàn xãhội mà không chỉ bị giới hạn bởi trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy nhà nước.Tuy vậy nghĩa vụ này không được đánh đồng đối với tất cả các chủ thể Điều này thể hiện ở quyđịnh tại Khoản 3: Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm Cấu trúccủa quy định này cho thấy sự khuyến khích hơn là bắt buộc Hoàn toàn khác với quy định tạiKhoản 1 khi quy định rằng: Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các cơquan hữu quan khác có trách nhiệm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Trang 4

Quy định này thể hiện sự rõ ràng, tách bạch giữa nghĩa vụ mang tính bắt buộc và nghĩa vụ mangtính khích lệ, khuyến khích Chính xác là nghĩa vụ chính trong việc đấu tranh phòng chống tộiphạm phải thuộc về các cơ quan nhà nước Nhiệm vụ bảo vệ bình yên cho cuộc sống của ngườidân là nhiệm vụ thuộc về nhà nước Hiến pháp đã trao quyền tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thốngquyền lực công và sử dụng công cụ hệ thống quân đội, nhà tù, công an, cảnh sát v.v…để thực hiệnmục tiêu gìn giữ hòa bình, ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội Trong mối quan hệnày người dân phải thực hiện nghĩa vụ về thuế và những nghĩa vụ khác để tạo nguồn thu ngân sáchduy trì hoạt động của hệ thống trên Mỗi bên đều có những nghĩa vụ rất rõ ràng của mình được quyđịnh trong Hiến pháp Do vậy nhiệm vụ cùng tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm của côngdân là để đảm bảo được tính toàn diện và tính nhanh chóng kịp thời trong việc xử lý tội phạm, nó

là một nghĩa vụ phái sinh và mang tính chất khuyến khích là chính, làm cho mọi công dân thấyđược bổn phận của mình đối với công tác phòng chống tội phạm

Chương II HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Điều 5 Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy

ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

2 Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Bình luận:

Về nguyên tắc, mọi hành vi phạm tội được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì đều áp dụng BLHSViệt Nam Lãnh thổ Việt Nam ở đây phải được hiểu bao gồm: Vùng đất, vùng biển và vùng trờiđược xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế Riêng đối với phần lãnhthổ di động (tàu bay, tàu biển) thì phạm vi áp dụng của BLHS còn được mở rộng hơn ở chỗ khôngchỉ hành vi phạm tội được thực hiện trên các phương tiện đó mà nếu hậu quả của hành vi phạm tộixảy ra trên phương tiện đó thì vẫn áp dụng quy định của BLHS Việt Nam mặc dù hành vi phạm tội

có thể xảy ra ngoài tàu bay, tàu biển

Tuy nhiên, nguyên tắc trên có một ngoại lệ duy nhất là đối với những người phạm tội được hưởngquyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự Những đối tượng này được xác định căn cứ vào quy địnhcủa pháp luật Việt Nam, Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế.Trường hợp này sẽ không áp dụng quy định của BLHS mà trách nhiệm hình sự của họ sẽ được giảiquyết theo quy định tại các Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế hoặc bằng con đường ngoại giao.Như vậy có thể thấy hiệu lực về không gian của BLHS là rất rộng và áp dụng đối với tất cả các đốitượng kể cả là người nước ngoài, người không quốc tịch Chỉ một phần rất nhỏ những đối tượngđược hưởng quyền miễn trừ như đã nêu mới không chịu sự điều chỉnh của Bộ luật này

Trang 5

Điều 6 Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1 Công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam có hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Bộ luật này quy định là tội phạm, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật này.

Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam.

2 Người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

3 Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định.

Bình luận:

Điều luật này bao gồm 3 Khoản và cả 3 Khoản này đều có một điểm chung là có thể áp dụngBLHS chứ không phải là sẽ áp dụng BLHS Kỹ thuật lập pháp tại điều này hoàn toàn khác với quyđịnh tại Điều 5 Vấn đề cốt lõi là ở chỗ những hành vi phạm tội tại điều này đều là những hành vinằm ngoài lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam Bởi vì nằm ngoài nên khả năng áp dụng BLHS

để giải quyết cũng cực kỳ hạn chế vì khả năng cao hành vi đó sẽ được điều chỉnh bởi pháp luậthình sự của một quốc gia nào đó nếu hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ của quốc gia vì quốc gianào cũng đề cao chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đối với lãnh thổ của mình

Như vậy tóm tắt lại những trường hợp có thể áp dụng BLHS trong Điều luật này như sau:

- Chủ thể phạm tội là công dân Việt Nam hoặc pháp nhân thương mại Việt Nam

- Hành vi phạm tội xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc của nướcCHXHCN Việt Nam

- Theo quy định của điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên

Điều 7 Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian

1 Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

2 Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3 Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành

vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Trang 6

Xã hội luôn biến động và cách nhìn nhận của nhà lập pháp, của xã hội cũng sẽ thay đổi theo thờigian Do đó, trong một số trường hợp sự nguy hiểm của hành vi phạm tội sẽ giảm dần theo thờigian nhưng trong những trường hợp ngược lại tính chất nguy hiểm của hành vi nào đó sẽ tăng dầntheo thời gian Vì vậy cho nên các quy phạm pháp luật hình sự cũng không ngừng biến động theo,một số tội phạm sẽ không còn (mất hẳn hoặc chuyển xuống xử lý vi phạm hành chính), một số loạitôi phạm mới sẽ phát sinh.

Nhằm đảm bảo pháp luật là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội để quan hệ đó ổn định và phát triểntheo đúng định hướng, nguyên tắc trên cũng phải tồn tại ngoại lệ (như một lẽ tất yếu), thể hiện tínhmềm dẻo và chính sách nhân đạo của nhà nước

Ngoại lệ này cho phép áp dụng những quy định mà tại thời điểm thực hiện hành vi, quy định đóvẫn chưa có hiệu lực thi hành, cụ thể trong các trường hợp sau:

- Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng,

- Quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới

- Mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễnhình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích

- Quy định khác có lợi cho người phạm tội

Đặc điểm chung của các quy định trên là nếu áp dụng các quy định mới (chưa có hiệu lực vào thờiđiểm xảy ra hành vi phạm tội nhưng đã có hiệu lực tại thời điêm xét xử) thì sẽ có lợi hơn chongười phạm tội Người phạm tội có thể sẽ không còn phạm tội hoặc phải chịu một mức hình phạtnhẹ hơn

Trong trường hợp ngược lại thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trướckhi điều luật đó có hiệu lực thi hành (Khoản 2)

- Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới

- Hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễnhình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích

- Quy định khác không có lợi cho người phạm tội

Thực ra quy định này có vẻ hơi thừa vì nó không hề khác với nguyên tắc điều luật được áp dụngphải là điều luật đang có hiệu lực pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội quy định tạiKhoản 1 Tuy vậy, việc hơi thừa này thực ra cũng xuất phát từ sự cẩn trọng của nhà lập pháp Quyđịnh rõ ràng nhưng nhiều khi những cơ quan tiến hành tố tụng lại không áp dụng một cách chínhxác, đúng đắn và thống nhất Hiện tượng oan sai vẫn còn diễn ra nhiều Cho nên việc tái khẳngđịnh rằng những quy định theo hướng bất lợi cho người phạm tội thì không được phép áp dụng khihành vi xảy ra trước thời điểm quy định đó có hiệu lực vẫn rất có giá trị thực tiễn

Chương III: TỘI PHẠM

Điều 8 Khái niệm tội phạm

Trang 7

1 Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế

độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của

tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2 Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng

kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Bình Luận:

Từ khái niệm nêu trên ta xác định được các yếu tố cấu thành của tội phạm, bao gồm:

1 Hành vi nguy hiểm cho xã hội

2 Yếu tố có lỗi

3 Do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện

4 Xâm phạm các mối quan hệ được qui định tại Bộ luật hình sự

Do vậy không phải mọi hành vi đều cấu thành tội phạm mà chỉ khi hành vi đó thỏa mãn đồng thời

4 yếu tố nêu trên thì mới xác định có tội phạm xảy ra

Khái niệm tội phạm theo qui định trên có nhiều điểm mới so với khái niệm tội phạm được qui địnhtrong Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Bộ luật hình sự 1999) Cụ thể:

- Tăng cường chủ thể chịu trách nhiệm hình sự Nếu trước đây chủ thể của tội phạm chỉ có thể là

cá nhân thì hiện nay đã có thêm chủ thể mới là các pháp nhân thương mại Hai chủ thể này có đặcđiểm hoàn toàn khác nhau, chính vì vậy mà trách nhiệm hình sự của họ cũng khác nhau Điều nàythể hiện ở chỗ, cá nhân khi thực hiện hành vi phạm tội thì các loại hình phạt được áp dụng theo quiđịnh tại Điều 32 (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân, tửhình….), pháp nhân thương mại khi phạm tội thì được áp dụng một số loại hình phạt mang tínhriêng biệt phù hợp với đặc điểm chủ thể qui định tại Điều 33 (phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thờihạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm huy động vốn….) và tất nhiên phạm vichịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại cũng chỉ giới hạn ở các loại tội phạm được quiđịnh tại Điều 76, cụ thể Điều 188 (Tội buôn lậu), Điều 189 (Tội vận chuyển trái phép hàng hóa,tiền tệ qua biên giới), Điều 190 (Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm), Điều 191 (Tội tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm), Điều 192 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả), Điều 193 (Tội sản xuất, buôn bánhàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm), Điều 194 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

là thuộc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh), Điều 195 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn chănnuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, giống vật nuôi), Điều 196 (Tộiđầu cơ), Điều 200 (Tội trốn thuế), Điều 203 (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng

từ thu nộp ngân sách nhà nước), Điều 209 (Tội cố ý công bố thông tin sai lệch, hoặc che dấu thôngtin trong hoạt động chứng khoán), Điều 210 (Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứngkhoán), Điều 211 (Tội thao túng thị trường chứng khoán), Điều 213 (Tội gian lận trong kinh doanhbảo hiểm), Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp chongười lao động), Điều 217 (Tội vi phạm qui định về cạnh tranh), Điều 225 (Tội xâm phạm quyềntác giả, quyền liên quan), Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp), Điều 227 (Tội viphạm qui định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên), Điều 232 (Tội vi phạm qui định vềkhai thác, bảo vệ rừng và lâm sản), Điều 234 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ động vật hoang dã),

Trang 8

Điều 235 (Tội gây ô nhiễm môi trường), Điều 237 (Tội vi phạm qui định về phòng ngừa, ứng phó,khắc phục sự cố môi trường), Điều 238 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ an toàn công trình thủylợi, đê diều và phòng chống thiên tai; vi phạm qui định về bảo vệ bờ, bãi sông), Điều 239 (Tội đưachất thải vào lãnh thổ Việt Nam), Điều 242 (Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản), Điều 243 (Tội hủyhoại rừng), Điều 244 (Tội vi phạm qui định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm), Điều 245(Tội vi phạm qui định về bảo tồn thiên nhiên), Điều 246 (Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại laixâm hại), Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố), Điều 324 (Tội rửa tiền) Xem xét các loại tội phạm phảichịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, chúng ta dễ dàng nhận thấy chỉ đối với một

số hành vi liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, thuế, tài chính, môi trường

… thì mới qui định trách nhiệm hình sự

- Tinh gọn các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Cụm từ “xâm phạm quyền conngười” đã thay thế cho “xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản” Cáchqui đinh này trước hết làm cho khái niệm tội phạm đảm bảo được tính ngắn gọn, súc tích nhưngvẫn khái quát được toàn bộ các quan hệ mà pháp luật hình sự phải can thiệp Thay vì theo cách liệt

kê, dự liệu chi tiết từng mối quan hệ thì đến đây các nhà làm luật đã nhìn nhận một cách tổng thểhơn, khái quát hơn, khắc phục nhược điểm, tư tưởng liệt kê mà bấy lâu nay vẫn áp dụng Phươngpháp liệt kê trong Bộ luật hình sự 1999 có ưu điểm là chỉ điểm cụ thể các quan hệ hay nói cáchkhác là xác định đích danh, tuy nhiên phương pháp này không mang tính bao quát Việc qui địnhcụm từ quyền con người là phù hợp với hiến pháp 2013 của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ NghĩaViệt Nam Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta ghi nhận một cách trân trọng về quyền conngười tại một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất Tiếp nối sự khẳng định trong việc tôn trọng, thừanhận và bảo vệ quyền con người mà Bộ luật hình sự sửa đổi đã có cách ghi nhận mới Do vậy việcghi nhận như hiện nay là hoàn toàn phù hợp, đúng đắn trong tiến trình hội nhập quốc tế, Nhà nước

đã sử dụng công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ quyền con người

- Xác định lại phạm vi chịu trách nhiệm hình sự: Khái niệm tội phạm thể hiện rất rõ một chủ thểchỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi và chỉ khi xâm phạm các mối quan hệ mà theo qui định Bộluật hình sự hành vi đó phải bị xử lý Chính vì vậy mà khi một hành vi xảy ra trên thực tế, bêncạnh xác định các yếu tố cấu thành khác thì chúng ta phải xác định hành vi đó có cấu thành mộttrong các loại tội phạm được thể hiện trong Bộ luật này hay không Mặc dù một hành vi có xâmphạm đến một mối quan hệ xã hội nhất định nhưng không thuộc phạm trù được liệt kê tại phần cáctội phạm thì đương nhiên hành vi này không phải chịu trách nhiệm hình sự, có chăng nó sẽ cấuthành một trách nhiệm pháp lý khác như trách nhiệm hành chính, dân sự Bộ luật hình sự 1999chưa thực hiện được điều này và từ đó tạo ra sự nhầm lẫn, mâu thuẫn trong chính khái niệm cũngnhư trong từng loại tội phạm nhất định

Một hành vi khi thỏa mãn được 4 yếu tố nêu trên thì cấu thành tội phạm Tuy nhiên xét yếu tố vềtính nguy hiểm cho xã hội mà pháp luật có thể loại trừ nó ra khỏi các biện pháp chế tài của Bộ luậthình sự hay nói cách khác hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự, nó sẽ được xem xét ởcác trách nhiệm pháp lý khác như hành chính hay dân sự Như vậy một câu hỏi được đặt ra là mức

độ nguy hiểm của một hành vi được xác định như thế nào? Đây là một vấn đề rất quan trọng vì nóảnh hưởng trực tiếp đến tính phải chịu trách nhiệm hình sự của một hành vi

Để đánh giá một cách chính xác tính nguy hiểm của hành vi cần phải xem xét một cách tổng thể,đối chiếu qua lại giữa nhiều yếu tố khác nhau như: chủ thể thực hiện là ai, hoàn cảnh khi nào, ởđâu, hậu quả mà hành vi đó gây ra…có như vậy mới đưa ra được nhận định đúng đắn Không cómột khuôn mẫu, chuẩn mực nào để chúng ta có thể xác định ngay lập tức mức độ nguy hiểm củahành vi mà phải phụ thuộc nhiều vào sự đánh giá của các cơ quan điều tra, tố tụng Để đảm bảo

Trang 9

tính công bằng, đòi hỏi các cá nhân, cơ quan chức trách khi xem xét hành vi phải thật sự kháchquan.

Điều 9 Phân loại tội phạm

1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong

Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn

mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến

15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

2 Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.

Việc phân loại tội phạm được xem xét dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi Theo đó tùy vào mức độ mà áp dụng loại hình phạt tương thích, đảm bảo được tính răn đe cũngnhư yếu tố giáo dục Ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sự hiện hành, chúng ta đã nhận thức rõ đượcchức năng, nhiệm vụ của luật hình sự Nó là công cụ hữu hiệu của giai cấp cầm quyền trong việcbảo vệ chế độ, bảo vệ các mối quan hệ trong xã hội, được sử dụng để nhằm răn đe, ngăn chặn, uốnnắn cũng như trừng phạt và giáo dục đối với các hành vi xâm phạm Chính vì vậy mà việc phânloại tội phạm có ý nghĩa to lớn trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử Trách nhiệm hình sự củacác chủ thể vi phạm được xác định ngay tại giai đoạn đầu và từ đó định hướng được các chế tài xử

lý phù hợp

Tùy vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà tội phạm được pháp luật hình

sự phân thành 4 loại như sau:

Trang 10

Sự phân hóa các loại tội phạm được thực hiện theo tính chất nghiêm trọng tăng dần và tương ứngvới đó là loại hình phạt và mức khung hình phạt cũng tăng dần Nếu trước đây việc phân loại hìnhphạt và khung hình phạt để áp dụng cho mỗi loại tội phạm được thực hiện theo phương thức ápmức tối đa thì hiện nay các nhà làm luật đã liệt kê một cách chi tiết, rõ ràng giúp việc vận dụngluật được thuận tiện hơn.

Tương tự chủ thể là cá nhân thực hiện hành vi phạm tội, pháp nhân thương mại khi có các hành vixâm phạm các mối quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ cũng phải chịu những chế tài tương ứngvới từng loại tội phạm nhất định

Điều 10 Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2 Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

sẽ xâm phạm đến một đối tượng cụ thể nào đó Thứ hai nhận thức được hậu quả, người thực hiệnhành vi bên cạnh nhận diện được mức độ nguy hiểm thì họ còn thấy được hậu của nó như thế nào,

dự liệu được một cách chính xác và đúng đắn những hậu quả mà hành vi mang lại Và không cóviệc người thực hiện hành vi sẽ mơ hồ, không xác định được hậu quả là gì, khi trong suy nghĩngười phạm tội nghĩ về một hành vi mà họ sẽ thực hiện thì đồng thời họ cũng đã thấy trước đượchậu quả xảy ra, hai vấn đề này tiếp diễn liên tục, liền kề nhau và nhiều trường hợp thậm chí ngườiphạm tội nghĩ đến hậu quả trước và tìm cách thực hiện hành vi tương ứng để hậu quả xảy ra nhưmong muốn Thứ ba là nói đến tính quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng của người phạm tội

“mong muốn hậu quả đó xảy ra”, sự mong muốn này biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các đặcđiểm như: không chấm dứt hành vi, thực hiện hành vi cho đến khi nào hậu quả xảy ra hay nói cáchkhác hậu quả chính là mục đích cuối cùng Như vậy trong chuỗi nhận thức của người thực hiệnhành vi với lỗi cố ý trực tiếp chính là biểu hiện của ý chí và quyết tâm cao nhất trong các loại lỗi,

đi từ suy nghĩ và hiện thực hóa đến hành động

Lỗi cố ý gián tiếp: sự khác biệt cơ bản giữa lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp được thể hiện ở khíacạnh tâm lý người phạm tội Hai loại lỗi này các chủ thể đều nhận thức được tính nguy hiểm cho

xã hội của hành vi, đều nhận thức được hậu quả mà hành vi mang lại Tuy nhiên với lỗi cố ý giántiếp thì cần phải khẳng định, người phạm tội không hề mong muốn hậu quả đó xảy ra trên thực tế

Trang 11

hay nói cách khác hậu quả không nằm trong kế hoạch hành động của họ Việc hậu quả có xảy rahay không không phải là đích đến cuối cùng Sự bỏ mặc thể hiển ở việc người phạm tội khôngquan tâm, hậu quả xảy ra cũng được hoặc không xảy ra cũng được Mục đích của người phạm tội

đã có thể đạt được ở giai đoạn trước đó hoặc thực hiện hành vi nhưng lại hướng đến một mục đíchkhác

Tuy nhiên khi xem xét, nghiên cứu về lỗi cố ý, nhiều quan điểm cho rằng việc phân loại lỗi cố ýthành lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp là không cần thiết Bởi lẽ một người khi họ đã nhận thứcđược một cách đầy đủ về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy trước hậu quả xảy ra màvẫn thực hiện thì cho dù họ có mong muốn hay không mong muốn thì hậu quả cũng đã xảy ra trênthực tế Việc nhận thức đầy đủ nhưng vẫn thực hiện hành vi đã chứng tỏ một quyết tâm và ý chícủa người phạm tội Pháp luật hình sự nghiêm cấm các chủ thể xâm phạm đến các mối quan hệđược qui định trong bộ luật này, do vậy việc không hành động hoặc hành động để tránh xâm hại vàbảo vệ các mối quan hệ đó là nghĩa vụ của mỗi cá nhân, tổ chức Chính vì vậy, việc cho rằngkhông mong muốn hậu quả xảy ra trong khi đã nhận thức và dự liệu một cách chính xác hậu quả

mà vẫn thực hiện hành vi là hoàn toàn không có cơ sở

Điều 11 Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1 Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2 Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Bình Luận

Vô ý phạm tội gồm hai loại sau:

Thứ nhất: Vô ý phạm tội do quá tự tin

Biểu hiện: Người phạm tội nhận thức và dự liệu được hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưngxét về mặt ý chí lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc nếu xảy ra thì có biện pháp ngănngừa được Tuy nhiên cần phân tích rõ mức độ nhận thức hậu quả của người thực hiện hành vi.Nếu xem xét lại các lỗi về cố ý thì việc nhận thức và xác định, dự liệu hậu quả là điều tất yếu, hiểnnhiên, pháp luật hình sự buộc người phạm tội phải nhận thức rõ vấn đề này Hậu quả xảy ra nếuthực hiện hành vi là một điều chắc chắn, còn đối với lỗi vô ý do quá tự tin thì hậu quả có thể xảy rahoặc không xảy ra trên thực tế Người phạm tội nhận thức được hành vi mà mình đang hoặc sắpthực hiện có thể dẫn đến một hậu quả nào đó nhưng lại cho rằng hậu quả đó không có cơ sở để xảy

ra hoặc nếu xảy ra sẽ được ngăn chặn một cách ngay lập tức Trong ý chí khi thực hiện hành vi,người phạm tội hoàn toàn không mong muốn hậu quả xảy ra hoặc có ý thức để mặc cho hậu quảxảy ra như biểu hiện của trường hợp phạm tội cố ý gián tiếp nhưng trong nhận thức, người phạmtội tự tin ngăn chặn được hậu quả, tuy nhiên sự tự tin không tương đồng với thực tế, không giảiquyết được vấn đề

Thứ hai: Vô ý phạm tội do cẩu thả

Biểu hiện: Xét về mặt nhận thức thì người phạm tội hoàn toàn không thấy được hậu quả do hành vicủa mình mang lại mặc dù pháp luật buộc người phạm tội phải thấy trước được điều đó Việc đánhgiá khả năng thấy trước hậu quả cũng cần phải xem xét trên nhiều khía cạnh và yếu tố khác nhau,

cụ thể dựa vào chính khả năng của người phạm tội như trình độ, lứa tuổi, kinh nghiệm sống ; dựavào hoàn cảnh khách quan về không gian, thời gian, vị trí địa lý Việc buộc chủ thể thực hiện hành

Trang 12

vi phạm tội phải thấy trước được hậu quả chỉ có thể áp dụng đối với những mối quan hệ chung,phổ biến mà ở đó đã hình thành một quy tắc xử sự, ai cũng phải tuân theo Ví dụ: Bác sĩ tiêm nhầmthuốc cho bệnh nhân và hậu quả là bệnh nhân chết Trong trường hợp này chính sự cẩu thả của bác

sĩ đã dẫn đến hậu quả là cái chết của bệnh nhân, trong quy tắc xử sự hành nghề y buộc bác sĩ phải

là một người cẩn trọng trong việc sử dụng các loại thuốc và đồng thời họ cũng phải nhận thứcđược hậu quả sẽ như thế nào nếu có sự nhầm lẫn, sử dụng không chính xác

Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm

mà Bộ luật này có quy định khác.

2.Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143,

Bộ luật hình sự 1999 Nếu trước đây người phạm tội khi thực hiện hành vi từ đủ 14 tuổi đến dưới

16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặcbiệt nghiêm trọng, thì hiện nay phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của nhóm đối tượng này đã được

mở rộng, theo đó:

- Khi thực hiện hành vi phạm tội thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng cho

dù với lỗi cố ý hay vô ý thì người phạm tội đều phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên tráchnhiệm này được giới hạn trong những tội phạm nhất định Cụ thể Điều 123 (Tội giết người), Điều

134 (Tội có ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 141 (Tội hiếpdâm), Điều 142 (Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi), Điều 143 (Tội cưỡng dâm), Điều 144 (Tộicưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi), Điều 150 (Tội mua bán người), Điều 151 (Tộimua bán người dưới 16 tuổi), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạttài sản), Điều 170 (Tội cưỡng đoạt tài sản), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 173 (Tội trộmcắp tài sản), Điều 178 (Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản), Điều 248 (Tội sản xuất tráiphép chất ma túy), Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyển tráiphép chất ma túy), Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy), Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất

ma túy), Điều 265 (Tội tổ chức đua xe trái phép), Điều 266 (Tội đua xe trái phép), Điều 286 (Tộiphát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phươngtiện điện tử), Điều 287 (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễnthông, phương tiện điện tử), Điều 289 (Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễnthông hoặc phương tiện điện tử của người khác), Điều 290 (Tội sử dụng mạng máy tính, mạngviễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản), Điều 299 (Tội khủng bố),Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia), Điều 304(Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,phương tiện kỹ thuật quận sự)

Ngoài các tội phạm được liệt kê nêu trên thì nhóm đối tượng này khi thực hiện hành vi phạm tộirất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đối với các loại tội phạm khác thì không phải chịu tráchnhiệm hình sự

Như vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự được khái quát như sau:

Trang 13

- Từ đủ 16 tuổi trở lên: chịu trách nhiệm hình sự mọi loại tội phạm.

- Từ đủ 14 tuổi đến dưới16 tuổi:

+ Tội ít nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự

+ Tội nghiêm trọng: Không chịu trách nhiệm hình sự

+ Tội rất nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được qui định

+ Tội đặc biệt nghiêm trọng: Trong phạm vi các tội phạm được qui định

Việc phân loại và giới hạn tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên phần nào đã đáp ứng được nhucầu thực tiễn, góp phần ngăn chặn, răn đe tội phạm vị thành niên Nhìn lại khoảng thời gian gầnđây, chúng ta không khỏi rùng mình trước các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận,người phạm tội còn tuổi đời rất trẻ nhưng lại thực hiện hành vi với tính chất côn đồ, tàn bạo thểhiện sự xem thường pháp luật, bất chấp mọi khuôn khổ, chuẩn mực để xâm phạm các mối quan hệ

xã hội Trong một môi trường với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, du nhập vănhóa, đề cao lối sống hưởng thụ, thích thể hiện… đã dẫn đến việc xuống cấp đạo đức nghiêm trọngtrong bộ phận giới trẻ và từ đó dẫn đến hành vi phạm tội là điều tất yếu

Điều 13 Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình Luận

Nếu trước đây Điều 14 Bộ luật hình sự 1999 chỉ thể hiện: “Người phạm tội trong tình trạng say dodùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”, thì đến nay, quiđịnh này đã được điều chỉnh Cụ thể: Phù hợp về cách gọi tên, loại khái niệm về tình trạng say khi

sử dụng rượu vì khi qui định như vậy, chúng ta cần phải làm rõ khái niệm say và khi nào người sửdụng rượu rơi vào tình trạng say hay ngoài rượu thì các loại nước uống nào có thể gây ra tình trạngtương tự Rõ ràng qui định như vậy hoàn toàn không phù hợp về khái niệm khoa học cũng nhưchưa tương thích với các thuật ngữ, ý nghĩa trong các thành tố cấu thành tội phạm được qui địnhtại khái niệm tội phạm Bởi lẽ khi nói đến tội phạm, chúng ta đề cập ngay đến năng lực tráchnhiệm hình sự, trong khi đó năng lực trách nhiệm hình sự được xem xét trên ba yếu tố:

- Khả năng nhận thức

- Khả năng điều khiển hành vi

- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác chỉ tác động đến khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi, chính vì vậy vấn đề về tuổi chịu trách nhiệm hình sự sẽ khôngđược đề cập ở đây Do vậy chúng ta không cần quan tâm đến tình trạng say hay không say củangười sử dụng mà chỉ xem xét, đánh giá khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi là chuẩn mựcnhất, phù hợp với nội hàm của khái niệm tội phạm

Việc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác có thể làm người sử dụng rơi vào trạngthái hạn chế hoặc mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.Trong trường hợp này, pháp luật qui định rất rõ người thực hiện hành vi vẫn phải chịu trách nhiệmhình sự đến cùng nếu có hành vi phạm tội Tuy nhiên tại Điều 8 về khái niệm tội phạm thì hành viphạm tội phải được thực hiện bởi người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng xét vềbản chất thì trước khi sử dụng rượu, bia hoặc các chất kich thích mạnh khác, người phạm tội hoàn

Trang 14

toàn có đủ khả năng nhận thức của mình, việc làm mất hoặc hạn chế là do lỗi của người sử dụnghay nói cách khác là họ tự mình tước đoạt đi khả năng đó và vì có lỗi nên họ buộc phải chịu tráchnhiệm hình sự Vậy đây có được xem là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt hay không? Tấtnhiên việc tự mình tước đoạt đi quyền của mình và xâm hại đến các quan hệ được pháp luật hình

sự bảo vệ thì hoàn toàn không có cơ sở để xem xét giảm trách nhiệm Thậm chí trong nhiều trườnghợp, việc phạm tội do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác được xem xét là tìnhtiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Cụ thể:

- Điều 260: Tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ

Qui định này mang tính giáo dục cao cũng như nhằm ngăn chặn, răn đe các đối tượng lợi dụngviệc sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác để thực hiện hành vi phạm tội

Điều 14 Chuẩn bị phạm tội

1 Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác

để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

2 Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115,

116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

3 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình Luận

Một tội phạm thực hiện được chia làm ba giai đoạn:

Trang 15

- Tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.

- Thành lập băng nhóm, tổ chức tội phạm

- Tham gia vào các băng, nhóm tội phạm sẵn có

Đây chính từ sự chuyển tiếp từ suy nghĩ đến hành động của người phạm tội, biểu hiện dưới cácdạng vật chất, hành động nhất định mà thông qua việc xem xét, chúng ta có căn cứ xác đáng đểcho rằng có hành vi phạm tội chuẩn bị xảy ra trên thực tế và từ đó có các biện pháp ngăn chặn, xử

lý tội phạm hiệu quả Mặc dù tại giai đoạn này, hành vi phạm tội chưa thật sự diễn ra, chưa tácđộng, chưa làm biến đổi bất kỳ một mối quan hệ nào dù được luật hình sự bảo vệ hay các qui phạmpháp luật khác Tuy nhiên nó đang đe dọa gây ra các thiệt hạị và việc xâm hại trực tiếp đến các chủthể mà tội phạm hướng đến chắc chắn sẽ diễn ra trong khoảng thời gian sắp tới

Các biểu hiện của một tội phạm cụ thể tại giai đoạn chuẩn bị phạm tôi, ví dụ Tội giết người quiđịnh tại Điều 123: Sau khi có suy nghĩ giết Ông A để trả thù vì tranh chấp đất đai với mình, Ông Bbắt đầu tìm hiểu thông tin về gia đình nạn nhân (có bao nhiêu người, lịch trình làm việc của từngngười….), mua dao, chuẩn bị vật dụng cứng khác để đoạt mạng nạn nhân, chuẩn bị bao tải, cuốcnhằm phi tang xác, vì biết nạn nhân hay lên làm rẫy một mình nên Ông B đã chuẩn bị nơi phụckích… tất cả các thông tin tìm hiểu hay công cụ, phương tiên nêu trên mà Ông B thực hiện lànhằm tiến tới thực hiện hành vi giết Ông A Và xem xét trong tổng thể các giai đoạn của tội phạmthì việc làm của Ông B là đang trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Chuẩn bị phạm tội chỉ xảy ra đối với các loại tội phạm thực hiện với lỗi cố ý vì vậy dù chưa diễn ranhưng đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, khi xemxét chi tiết vào từng loại tội danh được nêu tại Bộ luật hình sự cũng như căn cứ vào điều kiện hoàncảnh, độ tuổi của người thực hiện mà không phải giai đoạn chuẩn bị phạm tội của bất kỳ tội danhnào cũng được đưa ra để xem xét trách nhiệm hình sự Khoản 2 Điều 14 đã chỉ đích danh cáctrường hợp cụ thể phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội như Điều 108 (Tộiphản bộ tổ quốc), Điều 109 (Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), Điều 110 (Tội giánđiệp), Điều 111 (Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ), Điều 112 (Tội bạo loạn), Điều 113 (Tội khủng

bố nhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 114 (Tội phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của nướcCộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), Điều 115 (Tội phá hoại việc thực hiện các chính sáchkinh tế - xã hội), Điều 116 (Tội phá hoại chính sách đoàn kết), Điều 117 (Tội làm, tàng trữ, pháttán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam), Điều 118 (Tội phá rối an ninh), Điều 119 (Tội chống phá nơi giam giữ), Điều

120 (Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoàinhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 121 (Tội trốn đi ngước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoàinhằm chống chính quyền nhân dân), Điều 123 (Tội giết người), Điều 134 (Tội cố ý gây thương

Trang 16

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củ người khác), Điều 168 (Tội cướp tài sản), Điều 169 (Tội bắtcóc nhằm chiếm đoạt tài sản), Điều 207 (Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả), Điều

299 (Tội khủng bố), Điều 300 (Tội tài trợ khủng bố), Điều 301 (Tội bắt cóc con tin), Điều 302 (Tộicướp biển), Điều 303 (Tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc giá),Điều 324 (Tội rửa tiền)

Đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sựcho một trong các tội danh đã liệt kê bên trên, trường hợp chuẩn bị phạm tội cho các tội danh khácthì trách nhiệm hình sự không được đặt ra Riêng đối tượng từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịutrách nhiệm hình sự cho hai tội danh duy nhất là tội giết người qui định tại Điều 123 và tội cướp tàisản qui định tại Điều 168

Điều 15 Phạm tội chưa đạt

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Bình Luận

Tội phạm sau khi hoàn tất các hoạt động cần thiết tại giai đoạn chuẩn bị thì sẽ chuyển tiếp đến việcthực hiện hành vi trên thực tế Tuy nhiên không phải mọi trường hợp tội phạm đều được thực hiệnhoàn thành mà trong giai đoạn này tội phạm đã hoặc đang thực hiện nhưng vì một lý do nào đó màkhông đạt được mục đích hay nói cách khác hậu quả xảy ra ngoài mong muốn của người phạm tội.Tại Điều này, chúng ta sẽ xem xét các dấu hiệu cấu thành hành vi phạm tội chưa đạt

Thứ nhất: Hành vi đã hoặc đang thực hiện

Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp, nếu việc chuẩn bị công cụ, phương tiện, thu thập thông tin…tại giai đoạn chuẩn bị phạm tội là sự cụ thể hóa, hiện thực hóa cho các suy nghĩ, ý định phạm tộithì đến giai đoạn này lại là biểu hiện cho quyết tâm đến cùng của tội phạm Ví dụ: Tội phạm giếtngười tại Điều 123 Bộ luật hình sự, người phạm tội đã dùng dao đâm nạn nhân hoặc dùng vật cứngđánh mạnh vào đầu nạn nhân….tất các các hành động này thể hiện tội phạm đang diễn ra, ngườiphạm tội đang tác động, xâm phạm đến quyền con người được pháp luật hình sự bảo vệ Tội cướptài sản tại Điều 168, người phạm tội đã dùng dao khống chế hoặc dùng dây trói nạn nhân hoặc cáchành vi khác bằng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực làm nạn nhân không thể chống cự Tất cả các hànhđộng nói trên của người phạm tội nhằm đạt được mục đích cuối cùng của mình (ở tội giết người,người phạm tội đã dùng dao đâm hoặc dùng vật cứng đánh mạnh vào đầu nhằm gây cái chết chonạn nhân; ở tội cướp tài sản, người phạm tội dùng dao khống chế, đe dạo nạn nhân…nhằm mụcđích chiếm đoạt tài sản của nạn nhân)

Thứ hai: Mục đích người phạm tội chưa đạt được

Sở dĩ ở đây chúng ta không sử dụng cụm từ hậu quả để nói lên rằng tội phạm chưa đạt do hậu quảchưa xảy ra là hoàn toàn không chính xác Có nhiều trường hợp hậu quả chính là mục đích, là cáimong muốn đạt được của người phạm tội khi thực hiện hành vi và ngược lại có khi hậu quả khôngphải là đích cuối cùng mà người phạm tội hướng đến Trong bất kỳ trường hợp nào, một hành viphạm tội dù chưa đạt hoặc hoàn thành đều để lại những hậu quả nhất định, tội giết người nêu trênhậu quả có thể là nạn nhân chết (phù hợp với mong muốn của người phạm tội) hoặc hậu quả là gâythương tích, ảnh hưởng đến đời sống bình thường sau này của nạn nhân như gây ra cảm giác sợhãi, lo lắng…Do vậy ở mọi khía cạnh, góc độ dù hành vi phạm tội hoàn thành hay chưa đạt đềugây ra hậu quả cho nạn nhân, gia đình và xã hội

Trang 17

Dấu hiệu của tội phạm chưa đạt thể hiện rõ nét ở mục đích phạm tội Và rõ ràng một khi chưa đạtđược mục đích thì tội phạm đó đã cấu thành dấu hiệu tội phạm chưa đạt Các trường hợp chưa đạtbao gồm:

- Hậu quả trên thực tế không đồng thời là hậu quả mong muốn của người phạm tội (đã thực hiệntất các hành vi)

- Hành vi khách quan đang diễn ra nhưng chưa dẫn đến hậu quả

Thứ ba: Tội phạm chưa đạt là ngoài ý muốn

Xét về ý chí thì hành vi của người phạm tội phải được diễn ra theo đúng những gì họ mong muốn.Tức là hậu quả xảy ra trên thực tế phải khớp với hậu quả mong muốn của họ.Tuy nhiên trong quátrình thực hiện vì một lý do nào đó (có thể là nạn nhân chống cự, phát hiện và hỗ trợ của mọingười xung quanh, sự cố của công cụ, phương tiện… ) mà mục đích của người phạm tội vẫn chưađạt được Để phân biệt với hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội qui định tại Điều 16 thìchúng ta phải xác định và làm rõ rằng tội phạm chưa đạt là ngoài mong muốn, còn biểu hiện về ýchí, quyết tâm thì người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng

Tại giai đoạn này, chúng ta cũng cần phải làm rõ thêm các hành vi trên thực tế của người phạm tội,biểu hiện ở việc thực hiện các hành vi khách quan Xem xét người phạm tội đã thực hiện hết cáchành vi được cho là cần thiết để tội phạm hoàn thành hay chưa Để có đánh giá chính xác thì phảinhìn nhận vào từng tội danh cho từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định Ví dụ Tội giết người: trườnghợp người phạm tội đã dùng súng bắn nhưng súng kẹt cò không nổ hoặc đã bắn nhưng đạn khôngtrúng nạn nhân hoặc trường hợp đạn trúng nạn nhân nhưng nạn nhân không chết vì được phát hiện

và cấp cứu kịp thời Rõ ràng ví dụ nêu trên có hai trường hợp khác biệt:

Thứ nhất: chưa thực hiện hết các hành vi khách quan

Thứ hai: đã thực hiện toàn bộ các hành vi khách quan cần thiết được cho là sẽ dẫn đến hậu quả nhưmong muốn của người phạm tội

Sự phân loại nêu trên là cần thiết và có ý nghĩa trong hoạt động truy tố, xét xử tội phạm, có liênquan và quyết định mức khung hình phạt phù hợp

Không giống giai đoạn chuẩn bị phạm tội, pháp luật hình sự qui định người phạm tội chưa đạt phảichịu trách nhiệm hình sự cho tội phạm chưa đạt Không có bất kỳ sự giới hạn tội danh bởi lẽ phạmtội chưa đạt là ngoài mong muốn của người phạm tội, và trên thực tế nó đã gây ra những hậu quảnhất định

Điều 16 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không

có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

Bình Luận

Xét về bản chất thì việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có nét tương đồng so với qui định

về phạm tội chưa đạt ở điểm hậu quả mong muốn của người phạm tội không xảy ra Tuy nhiên hậuquả không xảy ra là xuất phát từ ý chí từ bỏ thực hiện hành vi của người phạm tội chứ không phải

là do những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan như chế định phạm tội chưa đạt Dấu hiệu củaviệc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được thể hiện đầy đủ qua các đặc điểm dưới đây:

Trang 18

Thứ nhất: Người phạm tội tự mình chấm dứt hành vi phạm tội

Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để nhận biết, người phạm tội phải tự mình, bằng ý chí của mìnhchấm dứt không thực các hành vi khách quan ở giai đoạn tiếp theo giai đoạn chuẩn bị phạm tộihoặc các hành vi khách quan khác cần thiết cho hậu quả xảy ra Tự ý nửa chừng chấm dứt việcphạm tội còn được xem xét ở cả giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay nói cách khác là ở tất cả cáckhâu, quá trình trước khi hậu quả xảy ra

Nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt hành vi phạm tội: Phải xuất phát tự sự tự nguyện và kiênquyết của người thực hiện hành vi mà không phải bị tác động bởi các bên thứ ba hay chủ thể,nguyên nhân nào khác Ví dụ Tội giết người qui định tại Điều 123 Bộ luật hình sự, để giết Ông A,Ông B đã chuẩn bị đầy đủ các phương tiện, công cụ, nắm bắt được lịch trình, thời gian lên rẫy củaÔng B Tuy nhiên sau đó Ông B suy nghĩ lại chỉ vì tranh chấp đất mà mình lại ra tay giết người,cảm thấy cắn rứt lương tâm nên đã dừng không thực hiện tiếp Việc không tiếp tục thực hiện hành

vi của Ông B trong trường hợp này được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội

Thứ hai: Không bị ngăn cản thực hiện hành vi

Điều này có nghĩa, ngoài việc tự mình từ bỏ ý định thực hiện hành vi phạm tội thì không có bất kỳđiều gì có thể ngăn cản người phạm tội nếu họ quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng Nếu trongphạm tội chưa đạt thì ta có thể dễ dàng nhận thấy người phạm tội luôn tìm mọi cách, tạo mọi cơhội điều kiện, vượt qua các rào cản để thực hiện hành vi của mình nhưng trong chế định này ngườiphạm tội không hề mong muốn hậu quả xảy ra nên dừng hoặc tìm mọi cách để dừng hành vi phạmtội

Loại bỏ việc ngăn cản, hay dừng thực hiện hành vi là do tác động bởi yếu tố khác Cụ thể nếu dongười khác khuyên răn, ngăn cản, do bị phát hiện kịp thời, do vật cản…thì không được xem xét là

tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà đây được xem là phạm tội chưa đạt Ví dụ: đêm khuyaÔng A đang lẻn vào nhà giết Ông B nhưng chó sủa làm mọi người thức giấc…Đây là chúng ta xemxét hành vi phạm tội không có đồng phạm, vậy trường hợp có đồng phạm với tư cách là người tổchức, xíu giục, thực hành, giúp sức thì mỗi đồng phạm được xem là tự ý nửa chừng chấm dứt việcphạm tội khi nào trong khi các đồng phạm khác vẫn cố tình thực hiện tội phạm đến cùng Trongđồng phạm, việc đánh giá hành vi được thể hiện ở chỗ bản thân mỗi đồng phạm phải ngay lập tức

tự chấm dứt vai trò của mình, đồng thời tìm mọi cách để ngăn chặn vai trò của đồng phạm khácTrách nhiệm hình sự: về nguyên tắc người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễntrách nhiệm hình sự cho tội danh định phạm Tuy nhiên nếu các yếu tố cấu thành một tội danh khácthì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cho tội danh đó Ví dụ: Để giết Ông B, Ông A đãmua một khẩu súng tuy nhiên sau đó không thực hiện hành vi nữa do nhận thấy cảm giác có lỗi,ray rứt lương tâm nếu giết Ông B Việc tự ý nửa chừng chấm dứt hành vi phạm tội, Ông A khôngphải chịu trách nhiệm hình sự cho Tội giết người theo Điều 123, tuy nhiên với việc mua một khẩusúng, Ông A sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự ở tội danh “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sửdụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” hoặc

“Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khíthô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ” tùy thuộc vào loại súng mà Ông A đã mua

Việc đưa ra chế định “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” cùng với miễn trách nhiệm hình sựcho tội định phạm, thật sự là chính sách khoan hồng của Nhà nước, bao dung với người biết hốilỗi, nhận thức được sai lầm của mình

Điều 17 Đồng phạm

1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Trang 19

2 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

3 Người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

4 Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Bình Luận

1 Đồng phạm: Khái niệm đồng phạm được hiểu là việc thực hiện hành vi phạm tội khi có từ haichủ thể trở lên và tất nhiên các chủ thể này phải có năng lực trách nhiệm hình sự Các chủ thể cùngnhau thực hiện tội phạm một cách cố ý Tuy nhiên với khái niệm cùng nhau thực hiện một tộiphạm có thể dẫn đến nhiều cách hiểu gây nhầm lẫn mà phổ biến là cho rằng các chủ thể chỉ đượcxem là đồng phạm khi và chỉ khi cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp cùng thực hiện từ haitội phạm trở lên thì không thỏa mãn yếu tố đồng phạm Với cách hiểu như vậy là hoàn toàn chưaphù hợp với tinh thần pháp luật bởi lẽ một hành vi phạm tội chỉ được xem xét có đồng phạm haykhông khi có ít nhất từ hai chủ thể trở lên cùng thực hiện một tội phạm Các chủ thể này thực hiệnnhiều hành vi phạm tội nhưng giữa họ chỉ có duy nhất một tội phạm cùng thực hiện thì tất nhiêncác hành vi phạm tội còn lại sẽ không tồn tại yếu tố đồng phạm Chính vì vậy mà việc xem xét cótồn tại đồng phạm hay không phải được cân nhắc xem xét trên từng tội danh một để xác định và từ

đó pháp luật mới đưa ra khái niệm: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cùng cố ý thựchiện một tội phạm”

Về ý chí: các chủ thể đều nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trướcđược hậu quả xảy ra và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ýthức để mặt cho hậu quả đó xảy ra Như vậy giữa các chủ thể đều thống nhất và quyết tâm thựchiện tội phạm đến cùng

Xét về tính chất nguy hiểm giữa cùng một tội danh có đồng phạm và không đồng phạm thì tínhchất, mức độ của hành vi phạm tội có đồng phạm gây nguy hiểm cao cho xã hội cũng như các hậuquả mà nó gây ra không hề nhỏ Các tội phạm này thường được thực hiện một cách tinh vi, khóphát hiện cũng như ngăn chặn… vì vậy mà khi xét xử các tội danh có đồng phạm thì trách nhiệmhình sự của các chủ thể được xem xét ở mức tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn so với cùng mộttội danh được thực hiện riêng lẽ

“Điều 52 qui định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

1 Chỉ các tình tiết sau đây mới được xem là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

a) Phạm tội có tổ chức"

2 Phạm tội có tổ chức là hình thức phạm tội có đồng phạm nhưng nguy hiểm hơn bởi có sự cấukết chặt giữa những người đồng phạm Tính cấu kết chặt chẽ biểu hiện ở việc phân hóa rõ ràngtrách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi đồng phạm từ khi tội phạm được hình thành cho đến khi kết thúc.Tính tổ chức của tội phạm được thể hiện:

Trang 20

Biến tổ chức thành môi trường, vỏ bọc, công cụ cho việc thực hiện tội phạm Tổ chức được cácđồng phạm tạo lập ra khi bắt đầu thực hiện tội phạm hoặc các đồng phạm tham gia vào một tổchức, băng nhóm sẵn có Ví dụ: các băng nhóm tội phạm hình thành chuyên đi cướp giật tại cáckhu vực trung tâm thành phố hoặc việc gia nhập vào băng đảng bảo kê, đòi nợ tại các quán bar,nhà hàng, khách sạn Thông qua lý luận cũng như thực tiễn phòng chống tội phạm, các băng nhómtội phạm hoạt động rất công khai, táo tợn, sẵn sàng tấn công bất kỳ ai có ý định can thiệp, chốngtrả, luôn có đầy đủ công cụ, phương tiện phạm tội…thậm chí có chủ trương, kế hoạch hoạt động.Tội phạm có tổ chức không chỉ tác động đến quan hệ bị xâm hại mà còn gây ảnh hưởng lớn đếnđời sống tâm lý xã hội.

3 Các loại chủ thể trong đồng phạm: Với tính chất của đồng phạm là có sự tham gia của nhiềungười, phân hóa nội dung công việc nên vai trò của các chủ thể được biểu hiện thông qua các đốitượng cụ thể sau đây:

- Người tổ chức: đây là chủ thể có vai trò quan trọng, khơi mào cho tội phạm được thực hiện Thểhiện ở việc khởi xướng, lập ra kế hoạch, đường lối, tập hợp, lôi kéo và phân công các thành viênhay nói cách khác người tổ chức là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong tội phạm

- Người xúi giục là người tác động lên nhận thức hoặc ý chí của người khác nhằm tìm mọi cách đểtội phạm được thực hiện, hiện thực hóa tội phạm trên thực tế

- Người thực hành là người trực tiếp thực hiện các hành vi khách quan của tội phạm Ví dụ: làngười dùng dao đâm, dùng súng bắn, đẩy nạn nhân xuống nước… đối với tội giết người; là ngườidùng vũ lực như đánh, đấm, đâm nạn nhân, trói nạn nhân… đối với tội cướp tài sản…Chủ thể làngười thực hành, chúng ta xem xét dưới hai khía cạnh hành động trực tiếp hoặc hành động thôngqua một người khác:

+ Hành động trực tiếp: Người hành động tự chính mình thực hiện các hành vi khách quan trongcấu thành tội phạm như tự mình cầm dao đâm, tự mình dùng súng bắn nạn nhân…

+ Hành động thông qua người khác: Người khác được đề cập ở đây chính là các chủ thể không cónăng lực trách nhiệm hình sự Chẳng hạn dụ dỗ trẻ em dưới 14 tuổi vận chuyển heroin, lừa ngườikhác đưa đồ ăn có chứa chất độc nhằm mục đích giết người Trong trường hợp này, người xíu giụctrẻ en vận chuyển heroin, người lừa đưa đồ ăn là người thực hành cho các tội danh liên quan

- Người giúp sức là người hỗ trợ tích cực, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tội phạm được diễn ra,biểu hiện:

+ Giúp sức về vật chất: Như chuẩn bị sẵn công cụ, phương tiện phạm tội, thăm dò trước hiệntrường, lập sơ đồ vị trí hướng dẫn, chỉ điểm, thông tin về đối tượng, quan hệ chuẩn bị xâm hại…+ Giúp sức về tinh thần: Như động viên người thực hành (gợi ý mức lợi nhuận khổng lồ khi vậnchuyển thành công heroin với số lượng lớn), hứa hẹn về việc che giấu tội phạm, các lợi ích…

Điều 18 Che giấu tội phạm

1 Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử

lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.

2 Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Trang 21

Bình Luận

Che dấu tội phạm có được xem là đồng phạm hay không? Xem xét qui định tại Điều 17 về đồngphạm và các yếu tố cấu thành đồng phạm, chúng ta đã được hiểu rõ các dấu hiệu của nó Tuy nhiênđối với hành vi che dấu tội phạm có sự khác biệt cơ bản ở những đặc điểm sau:

- Chủ thể: Người từ đủ 16 tuổi trở lên trừ đối tượng che dấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con,cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiện hình sự,đây là các đối tượng có mối quan hệ mật thiết với người phạm tội về huyết thống, hôn nhân màpháp luật hình sự đã loại họ ra khỏi chủ thể của tội danh này Việc loại bỏ xuất phát từ văn hóa,truyền thống của dân tộc Việt Nam chúng ta Tuy nhiên đối với các tội xâm phạm an ninh quốc giahoặc tội đặc biệt nghiêm trọng qui định tại Điều 389 thì các chủ thể đặc biệt này vẫn phải chịutrách nhiệm hình sự mà không có bất kỳ sự ngoại lệ nào

- Sau khi một tội phạm khác đã hoàn thành: có sự tách biệt rõ ràng giữa các tội danh với các chủthể độc lập Đây chính là đặc điểm để phân biệt sự khác nhau giữa hành vi che dấu tội phạm vàđồng phạm Người phạm tội sau khi biết được một tội phạm đã được thực hiện, thay vì tố giác thì

họ lại thực hiện các hành vi với mục đích nhằm che dấu tội phạm Đây chính là sự giúp sức để mộttội phạm né tránh việc bị phát hiện và xử lý theo qui định của pháp luật và tất nhiên việc giúp sứcnày không phải xuất phát do sự hứa hẹn trước đó mà nó chỉ xuất hiện vào thời điểm tội phạm đãđược thực hiện Nếu có sự hứa hẹn hoặc phân công trước đó thì đây là đồng phạm với vai trò giúpsức của tội phạm đã thực hiện

- Biểu hiện của hành vi:

+ Che dấu người phạm tội: cho người phạm tội ẩn náu trong nhà mình hoặc một nơi nào khác hoặcbiết người phạm tội đang ở đâu nhưng không khai báo và tìm mọi cách che dấu để người kháckhông biết được

+ Che dấu dấu vết, tang vật của tội phạm: tương tự việc che dấu người phạm tội thì chủ thể của tộidanh này cũng tìm mọi cách để ngăn chặn sự tiếp xúc của đối tượng thứ ba

+ Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm: thể hiện ở các hành vi như cố tình cung cấp cácthông tin sai sự thật, xóa bỏ dấu vết của tội phạm, tiêu hủy các công cụ, phương tiện tội phạm…Hành vi đồng phạm của người phạm tội là thể hiện sự xem thường pháp luật, chủ thể của hành vikhông đấu tranh chống tội phạm mà lại góp phần che dấu, khuyến khích tội phạm thực hiện trênthực tế Do vậy phải chịu trách nhiệm hình sự tương thích và một phần răn đe những ai có định ýbao che cho tội phạm

Điều 19 Không tố giác tội phạm

1 Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện

mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm quy định tại Điều 390 của Bộ luật này.

2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3 Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Trang 22

Bình Luận

Nếu che dấu tội phạm chỉ được thực hiện sau khi một tội phạm đã được thực hiện trên thực tế thìhành vi không tố giác tội phạm xảy ra tại bất kỳ giai đoạn nào của tội phạm từ giai đoạn chuẩn bịcho đến đang thực hiện hoặc đã thực hiện Để phân biệt được với đồng phạm, che dấu tội phạm thìhành vi cấu thành tội danh này hoàn toàn được biểu hiện dưới dạng không hành động

Chủ thể: bất kỳ ai từ đủ 16 tuổi trở lên Chủ thể là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợhoặc chồng của người phạm tội chỉ chịu trách nhiệm hình sự khi không tố giác tội phạm được quiđịnh tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Biểu hiện: ở dạng không hành động Ví dụ: mặc dù trước đó A đã được B thông báo rằng B sẽ giết

C vào tối mai (A hoàn toàn có cơ sở để xác định lời nói của B là có thật, hành vi của B chắc chắn

sẽ diễn ra vì trước đó giữa B và C đã có cuộc ẩu đã, tạo tư thù cộng với bản tính giang hồ của B),tuy nhiên A đã không thông báo cho cơ quan chức năng về hành động sắp diễn ra của B và hậu quả

là B đã giết C Sự không hành động thể hiện sự phó mặc cho hậu quả xảy ra của người phạm tội,thể hiện sự vô tâm, hờ hững trước các quan hệ xã hội chuẩn bị bị hành vi phạm tội xâm hại Khôngphải trong mọi trường hợp, việc không hành động của một người đều cấu thành và bị bị xem xéttrách nhiệm hình sự ở tội danh không tố giác tội phạm theo Điều 390 Bộ luật hình sự Chỉ cấuthành tội danh khi thỏa mãn đồng thời các yếu tố sau:

- Phải biết rõ tội phạm đang diễn ra: Việc biết không vẫn chưa đủ mà điều luật qui định một ngườiphải biết rõ, nghĩa là họ hoàn toàn có cơ sở để xác định rằng có tội phạm nếu không ngăn chặn kịpthời thì sẽ gây ra các hậu quả trên thực tế Ví dụ: A nghe thông tin từ B nói rằng hình như thằng Cđang nhận vận chuyển ma túy với số lượng lớn từ Lào vào Việt Nam Trong khi đó từ trước đếngiờ, C là một thanh niên chăm chỉ, sống tình cảm với mọi người xung quanh, hiếu thảo với cha mẹ

và đang có công việc ổn định với vị trí nhân viên văn phòng… thì không có lý do gì mà A lẫn B tinrằng C sẽ thực hiện công việc nguy hiểm này để đánh đổi cả mạng sống của mình Nhưng trênthực tế C lại thực hiện theo đúng những gì mà A và B biết được, tuy nhiên trong trường hợp nàyhoàn toàn không có căn cứ để cho rằng A, B không tố giác tội phạm

- Có điều kiện để thực hiện hành động tố giác tội phạm: Điều này có nghĩa việc tố giác tội phạmkhông bị cản trở, ngăn cản Nếu một người sau khi nắm bắt chắc chắn thông tin hoặc có căn cứ xácđáng tội phạm đang diễn ra nhưng không có điều kiện, cơ hội để tố giác thì hành vi của họ cũngkhông đủ yếu tố cấu thành tội danh tại Điều 390 Trở lại ví dụ trên, mặc dù C là con người như thếnhưng A và B đều có căn cứ chính xác cho hành vi sắp tới của C như nghe trộm được thông tintrao đổi của C với bên giao ma túy và biết được số lượng, địa điểm giao hàng…nhưng C lẫn bêngiao hàng đe dọa sẽ giết A, B và người thân của họ nếu như A, B tố giác hành vi Do vậy việckhông hành động của A, B nếu có cũng không được xem xét là hành vi khách quan của tội phạm.Điểm mới của Bộ luật hình sự hiện hành so với Bộ luật hình sự 1999 là việc bổ sung thêm một đốitượng là chủ thể của hành vi không tố giác tội phạm Chủ thể này có điểm đặc biệt chính là ngườibào chữa, pháp luật qui định trong quá trình thực hiện việc bào chữa mà phát hiện hoặc có căn cứxác đáng cho rằng người được bào chữa chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hoặc đã thực hiện hành

vi phạm tội tại chương III (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng

mà người bào chữa không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên cũng cần xem xétqui định này đã thực sự phù hợp hay chưa? Việc các nhà làm luật viện dẫn qui định cho rằng mọicông dân đều bình đẳng trước pháp luật, và dẫn chiếu đến vấn đề bình đẳng trong việc tố giác tộiphạm là thật sự chưa phù hợp Xuất phát từ đặc thù của luật sư với tư cách là người bào chữa chothân chủ của mình và đây cũng chính là nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề luật nênviệc buộc luật sư phải tố giác ngược lại thân chủ là một điểm thụt lùi trong chính sách cho dù tội

Trang 23

danh của thân chủ được xem xét dưới khía cạnh nào, xâm phạm đến các mối quan hệ nào đi nữa.

Có hay chăng chỉ qui định quyền được cung cấp, tiết lộ thông tin khi có căn cứ cho rằng thân chủmình đang bào chữa chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hoặc đã thực hiện các hành vi phạm tội nêutrên Luật sư chỉ có quyền mà không có nghĩa vụ và cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự chocác trường hợp này Chúng ta chỉ đặt ra nghĩa vụ tố giác tội phạm của luật sư là bình đẳng với mọicông dân khác khi và chỉ khi đối tượng đó không phải là thân chủ/người được bào chữa của Luậtsư

Điều 20 Sự kiện bất ngờ

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luận

Trong Điều luật này chính mặt khách quan đã không được thỏa mãn Cụ thể mặt khách quan baogồm các yếu tố: Hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm đó và mối quan hệnhân quả giữa chúng Trong đó, hành vi nguy hiểm là bắt buộc phải có ở tất cả các loại tội phạm.Điều luật này có thể được phân tích như sau để dễ dàng nắm bắt nội dung hơn:

Điều kiện giả định bao gồm:(1) hành vi gây hậu quả nguy hại + (2) không thể thấy trước hoặc

không buộc phải thấy trước hậu quả

Hệ quả: Không phải chịu trách nhiệm hình sự

Phần hệ quả đã quá rõ ràng nên sau đây tác giả chỉ tập trung phân tích (1) (2)

(1) Hành vi gây hậu quả nguy hại

Lưu ý rằng đây là hành vi gây hậu quả nguy hại chứ không phải là hành vi nguy hiểm như trongmặt khách quan của cấu thành tội phạm Tác giả nhấn mạnh nội dung này vì bản chất của chúng làkhác nhau và hậu quả pháp lý cũng vậy Hành vi gây hậu quả nguy hại, tức nhà làm luật chú trọng

và tập trung vào cái hậu quả nguy hại chứ không phải là hành vi Hành vi gây nguy hại có thể lànhững hành vi hợp pháp hoặc hành vi bất hợp pháp Nghe có vẻ phi lý vì sao hành vi hợp phápnhưng lại có thể gây nguy hại được và sự kiện bất ngờ là một minh chứng rõ ràng nhất

Ví dụ: A đang lưu thông trên đường đúng quy định của pháp luật giao thông đường bộ (làn đường,

tốc độ di chuyển và các biện pháp an toàn khác…) (hành vi hợp pháp), bỗng nhiên có 1 người xuấthiện đột ngột trước đầu xe với khoảng cách gần đến mức không thể xử lý việc dừng xe, do đó đãtông người này và người này tử vong ngay lập tức (hậu quả nguy hại) Như vậy chúng ta có thểthấy rất rõ người điều khiển phương tiện đã thực hiện một hành vi hợp pháp nhưng lại gây ra mộthậu quả nguy hại cho xã hội

Như vậy một câu hỏi đặt ra nếu hành vi đó phạm pháp gây hậu quả nguy hại và thỏa mãn điều kiện(2) thì có loại trừ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi hay không? Câu trả lời làkhông Bởi lẽ, không có hành vi phạm pháp luật hình sự nào mà chủ thể đó không nhận thấy trướcđược hậu quả có thể xảy ra và pháp luật cũng không bắt buộc họ phải nhìn thấy trước, bản chất củahành vi vi phạm đã hàm chứa trong nó về một hậu quả nguy hại cho xã hội Vì thế có thể hiểu hành

vi trong trường hợp trên là hành vi hợp pháp

(2)Không thể thấy trước hậu quả hoặc không bắt buộc phải nhìn thấy trước hậu quả Vẫn với ví dụtrên, chúng ta thấy rằng việc người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đúng với các quyđịnh của pháp luật giao thông thì không có lý do gì để anh ta có thể thấy hậu quả của việc chết

Trang 24

người xảy ra từ việc lái xe đúng quy định của mình và pháp luật cũng không bắt buộc anh ta phảithấy, lường trước hậu quả có một người nào đó lại bỗng nhiên xuất hiện trước đầu xe để rồi gây rahậu quả chết người.

Phân tích thêm một chút để chúng ta hiểu thêm về trường hợp pháp luật bắt buộc phải nhìn thấytrước hậu quả:

Trong một số trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng ý chí chủquan của người đó không nhận thấy trước hậu quả có thể xảy ra từ hành vi nguy hiểm của mình Vídụ: B giăng bẫy điện dân dụng để diệt chuột tại nơi đông dân cư qua lại thường xuyên Trongtrường hợp này có thể B không thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra khi bị giật điệnnhưng pháp luật bắt buộc B phải thấy được điều này Nếu hậu quả chết người xảy ra thì đã thỏamãn yếu tố mặt khách quan (hành vi nguy hiểm), nếu thỏa mãn các yếu tố cầu thành còn lại thì Bphải chịu trách nhiệm hình sự của hành vi giăng điện bẫy chuột này

Điều 21 Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luận

Điều luật trên được trình bày giản tiện lại để dễ phân tích:

Điều kiện giả định:(1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội +(2) mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác

=>(3) làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi

Hậu quả:Không phải chịu trách nhiệm hình sự

Dễ dàng để nhận thấy đây là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự do không thỏa mãn được yếu

tố mặt chủ thể trong cấu thành tội phạm Cụ thể là chủ thể đã không đáp ứng được điều kiện “ dongười có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện…” Cụ thể:

(1) Hành vi nguy hiểm cho xã hội: Hành vi nguy hiểm ở đây được hiểu là những hành vi có thểhoặc đã gây tổn hại đến các mối quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ Nói cách khác, hành vi

đó phải là hành vi thuộc mặt khách quan của ít nhất một tội được quy định cụ thể trong Bộ Luậtnày Đây là tiền đề để dẫn nhập vào các nội dung sau, bản thân nó không có giá trị trong việc cóloại trừ trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện hành vi hay không và dấu hiệu hành vi kháchquan này không phải là mấu chốt của vấn đề

(2)Trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác: Đầu tiên cần phải chú ý đến cụm “trong khiđang” Trước tiên cần xác định như thế nào là đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác Cơ sở nào

để xác định một ai đó có đang mắc bệnh tâm thần hay không? Có 2 trường hợp có thể xảy raTrường hợp 1: Người đó đã có Giấy xác nhận của cơ quan Y tế có thẩm quyền về bệnh tâm thầnđang mắc phải và (hoặc) tuyên bố mất năng lực hành vi của Tòa án

Trường hợp 2: Chưa có bất kỳ một giấy tờ nào từ cơ quan có thầm quyền chứng minh tình trạngbệnh lý của người thực hiện hành vi

Trường hợp 1 thông thường sẽ rất dễ dàng trong việc xác định người đó có bị mắc bệnh tâm thầnhay không, tuy nhiên trong trường hợp 2 thì việc này sẽ trở nên khó khăn hơn khi phải tiến hànhviệc giám định bệnh tâm thần sau khi hành vi đã được thực hiện trong thực tế Và cái khó khănnhất là làm rõ được 2 chữ “trong khi” Ngành Y học đã chứng minh có một số bệnh tâm thần màbiểu hiện của bệnh lý không diễn ra một cách liên tục, cái mà nhân gian hay gọi 3 hồi tỉnh 3 hồi

Trang 25

say nghĩa là mặc dù bị mắc bệnh nhưng tỉnh thoảng họ vẫn tỉnh táo nhận thức một cách bìnhthường Đối chiếu theo đúng quy định của điều luật trong trường hợp đó họ sẽ không được loại trừtrách nhiệm hình sự Tuy nhiên thực tế để xác định việc có loại trừ hay không trong những trườnghợp này rất khó khăn Và điều luật này cũng nhiều lần bị lợi dụng nhằm trốn tránh trách nhiệmbằng cách xin giấy chứng nhận bị bệnh tâm thần mà báo chí hay gọi là kim bài miễn tử.

(3)Làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi:mục (2) chỉ là điều kiện cần màthôi, để đảm bảo điều kiện đủ, bệnh tâm thần hay bệnh khác nào đó phải dẫn đến mất khả năngnhận thức (không thể biết được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội) hoặc mất khả năng điềukhiển hành vi (vẫn ý thức được nhưng không thể điều khiển được do bệnh lý – thông thường là cácbệnh liên quan đến hệ thần kinh vận động) Lưu ý ở đây là mất chứ không phải là hạn chế, nghĩa làtrường hợp hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi thì vẫn khôngthuộc trường hợp được loại trừ theo quy định tại điều luật này mà hạn chế đó có thể được dùng làmcăn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Điều 22 Phòng vệ chính đáng

1 Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2 Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.

đó thực hiện hành vi chống trả thì hành vi này không còn được xem là tự vệ nữa mà nó đã chuyểnsang phòng vệ (phòng ngừa và bảo vệ), nội hàm của hành vi phòng vệ rộng hơn tự vệ rất nhiều.Quyền và lợi ích chính đáng đang bị xâm hại mà nhà làm luật khuyển khích bảo vệ vượt ra ngoàiphạm vi của một cá nhân nào đó, nghĩa là pháp luật không chỉ khuyến khích tự bảo vệ quyền lợiích chính đáng của mình mà còn khuyến khích bảo vệ quyền và lợi ích của người khác Vậy nêndùng từ phòng vệ ở đây là chính xác và nội hàm đủ rộng để thể hiện tính mục đích của điều luật.Tiếp theo chúng ta cùng tìm hiểu như thế nào là chính đáng, điều luật không định nghĩa như thếnào là chính đáng mà chỉ mô tả như thế nào là phòng vệ chính đáng Tách câu chữ ra, chúng ta cóthể dễ dàng nhận thấy ý chí của nhà làm luật thông qua cách hành văn và có thể hiều chính đáng =cần thiết.Tuy nhiên có một vấn đề rất đáng để chúng ta và những người áp dụng luật pháp phải lưutâm đó là chính đáng và cần thiết đều là những yếu tố mang tính chất định tính, nó phụ thuộc rấtlớn vào ý chỉ chủ quan của người nhận diện và đánh giá tình huống Có thể theo người có hành vichống trả thì cho rằng nó cần thiết nhưng người bị chống trả và cơ quan xét xử không cho là nhưvậy và ngược lại

Trang 26

Khoản 2 quy định thêm 2 yếu tố, tạm gọi là 2 căn cứ để góp phần “định lượng” được sự cần thiết

đó là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.Tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì phần nào chúng ta có thể xác định được dựa vào phân loạitội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) Việc nàygiúp cho việc định tính sự cần thiết trở nên giảm định tính hơn nhưng không thể giải quyết triệt đểvấn đề Do vậy nhà làm luật đã rất cẩn trọng và quy định trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệchính đáng là “rõ ràng” vượt quá mức cần thiết Nghĩa là việc nhận thấy sự quá mức đó rất dễ nhận

ra và tuyệt đại đa số đều thấy được điều đó

Thoáng nhìn chung ta sẽ cảm nhận rằng Khoản 1 và Khoản 2 bổ trợ cho nhau (nếu không thuộcKhoản 1 thì thuộc Khoản 2 và ngược lại) Tuy vậy phân tích kỹ chúng ta sẽ thấy có một phần khánhập nhằng ở 2 Khoản này

Khoản 1:…một cách cần thiết…

Khoản 2:…rõ ràng quá mức cần thiết…

Như vậy đối với trường hợp vượt quá mức cần thiết nhưng chưa đến mức rõ ràng (dễ dàng) nhận

ra thì sẽ áp dụng Khoản 1 hay Khoản 2, bởi lẽ ranh giới giữa phạm tội trong lúc này là rất mongmanh.Và theo quan điểm của tác giả trong trường hợp này chúng ta sẽ áp dụng Khoản 1 theonguyên tắc có lợi hơn cho người phạm tôi Nghĩa là cơ quan công tố buộc tội phải có nghĩa vụchứng minh sự rõ ràng quá mức cần thiết này, nếu không chứng minh được thì bắt buộc phải hiểungười có hành vi chống trả đã chống trả một cách cần thiết

Một vấn đề nữa cũng cần phải chú ý đó là đối tượng chịu tác động phải là người đang có hành vixâm phạm.Đây không phải là sự cẩn thận quá thừa của nhà lập pháp khi ai cũng biết rằng chốngtrả thì đương nhiên là chống trả lại người đang thực hiện hành vi vi phạm Tuy nhiên trong thực tếhành vi chống trả này có thể ảnh hưởng đến nhiều người khi sử dụng công cụ, phương thức cóphạm vi tác động rộng, hoặc có thể chống trả nhầm đối tượng

Ví dụ 1: Vì muốn chống trả lại người đang hiếp dâm mình, C đã thực hiện hành vi xả bình khí độcngay cạnh đó và cách làm này đã gây thương vong nghiêm trọng cho một số người khu vực xungquanh Hành vi chống trả này đã vượt ra ngoài chủ thể thực hiện hành vi xâm hại, đã gây phươnghại đến các chủ thể khác

Ví dụ 2: Thấy D đang bị bọn cướp tấn công bằng dao và không có khả năng chống trả, E đã rútsúng nhằm vào bọn cướp mà bắn, tuy nhiên do trong bối cảnh hoản loạn, E đã bắn đúng vào D gây

tử vong tại chỗ Trường hợp này E đã không chống trả lại người đang xâm hại mà đã chống trảnhầm vào nạn nhân bị xâm hại do đó không thỏa mãn điều kiện phòng vệ chính đáng

Điều 23 Tình thế cấp thiết

1 Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.

2 Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luận

Về cấu trúc điều luật cách sắp xếp quy phạm của Điều luật này khá tương đồng với Điều luật về

phòng vệ chính đáng Chúng ta sẽ cùng phân tích điều luật này Tình thế + cấp thiết:

Trang 27

Nếu như Điều luật về phòng vệ chính đáng chú trọng đến tính chính đáng và giới hạn của sự cầnthiết thì điều luật về tình thế cấp thiết này lại chú trọng đến tính cấp thiết và thiệt hại gây ra củahành vi Cụ thể, sự cấp thiết ở đây đã đến mức đưa người thực hiện hành vi vào tình thế - đúngnghĩa đen – không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải gây ra một thiệt hại Thông thườngviệc gây ra thiệt hại là một hành vi vi phạm pháp luật có thể là hình sự, nhẹ hơn là hành chính haynhẹ hơn nữa là dân sự nhưng trong trường hợp này hành vi gây thiệt hại đó không phải là hành vi

vi phạm NẾU thiệt hại đã gây ra nhỏ hơn thiệ hại cần ngăn ngừa

Như vậy điều kiện cần (1) chủ thể thực hiện hành vi đã không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việcphải gây thiệt hại và điều kiện đủ (2) thiệt hại đó phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì khi đóchủ thể sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự (thông thường là các tội phạm liên quan đến khách thể

là quan hệ sở hữu như tội hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản, chiếm hữu sử dụng tài sản trái phépv.v…)

Ví dụ: Vì muốn ngăn chặn đám cháy đang lây lan trong dãy dân cư liền nhau F bắt buộc phải đậpnhà anh G để ngăn đám cháy lại Trường hợp này có thể thấy F đã không còn sự lựa chọn nào khác

và thiệt hại xảy ra đối với nhà anh G rõ ràng nhỏ hơn thiệt hại của cháy nhà của cả khu dân cư do

đó hành vi của F thỏa dấu hiệu của tình thế cấp thiết và sẽ được loại trừ trách nhiệm hình sự trongtrường hợp này

Tuy nhiên 2 Khoản trên của điều luật đã bỏ ngỏ trường hợp thiệt hại đã gây ra bằng với thiệt hạicần ngăn ngừa

Khoản 1 “…gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa…”

Khoản 2 “…thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết…”

Sẽ là lý tưởng và tuyệt đối nếu thiệt hại đã gây ra = thiệt hại cần ngăn ngừa (do vậy nhà làm luậtkhông quy định trường hợp này cũng là điều dễ hiểu) Thiệt hại đã gây ra thì có thể cân đo đongđếm được nhưng thiệt hại cần ngăn ngừa (chưa xảy ra) thì rất khó để xác định và trong một sốtrường hợp gần như là không thể xác định được

Do đó vẫn theo quan điểm áp dụng quy định theo hướng có lợi cho người phạm tội thì trong nhữngtrường hợp không thể xác định được hoặc xác định được nhưng cán cân thiệt hại đã gây ra và thiệthại cần phòng ngừa tương đương nhau thì sẽ áp dụng theo hướng áp dụng tình thế cấp thiết Trongtrường hơp muốn áp dụng quy định tại Khoản 2 cơ quan công tố phải có nghĩa vụ chứng minh.Sau khi phân tích Điều 22 Phòng vệ chính đáng và Điều 23 Tình thế cấp thiết chúng ta có thể thấyđược quan điểm lập pháp của nhà làm luật Một mặt trao quyền và khuyển khích công dân chủđộng thực hiện quyền bảo vệ lợi ích chính đáng của mình và của người khác nhưng để đảm bảoviệc sử dụng quyền này không bị lạm dụng khi thực hiện nhà làm luật cũng đã dự liệu luôn trườnghợp vượt quá quyền thì sẽ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự mặc dù mức hình phạt sẽ có phần nhẹhơn so với phạm tội trong trường hợp thông thường

Điều 24 Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

1 Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

2 Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luận

Trang 28

Đây là một trong ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà Bộ Luật hình sự mới đã mở rộngthêm so với quy định tại các Bộ Luật hình sự cũ.

Một lần nữa kỹ thuật lập pháp tại Điều luật này cũng không hề khác so với Điều 22 và Điều 23mỗi điều đều bao gồm 2 khoản, Khoản 1 sẽ quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự,Khoản 2 thì vẫn chủ thể gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm nếu hành vi gây thiệt hại đó rõràng vượt quá mức cần thiết Như tác giả đã phân tích ở 2 điều luật trước đó, quy định như hiện tại

sẽ tạo ra 1 lỗ hổng pháp lý khi nếu hành vi gây thiệt hại nằm dưới mức rõ ràng quá mức nhưng lạitrên mức cần thiết Trong trường hợp này, khác với quan điểm ở 2 điều luật trên tác giả không ủng

hộ áp dụng theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội nghĩa là sẽ áp dụng Khoản 1 thay vì Khoản

2 Tác giả sẽ làm rõ hơn ở phần sau cùng của bình luận

Tóm ý nội dung Khoản 1 bao gồm các thành phần sau:

Chủ thể: Người để bắt giữ

Hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ

Ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện

Hệ quả: Không phải là tội phạm.

Đầu tiên là vấn đề chủ thể: Hãy xem xét đến chủ thể thực hiện thực hiện hành vi bắt giữ trong điềuluật này đó là “người” Như vậy chủ thể ở đây có phải là bất cứ người nào hay không?Câu trả lời

là không Chúng ta cần phải phân định rõ việc này vì không phải ai cũng đương nhiên có quyềnhoặc được trao quyền để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội

Điều kiện cần đầu tiên để thỏa mãn dấu hiệu của Khoản 1 là người đó phải được quyền bắt giữ và

đó là những ai thì phải căn cứ quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự 2015

Một cách sơ lược có thể hiểu chỉ có một số cá nhân, tổ chức có thẩm quyền được trao quyền bắtgiữ người thực hiện hành vi phạm tội theo trình tự thủ tục luật định (tạm gọi là người của cơ quancông quyền) Tuy nhiên trong trường hợp phạm tội quả tang thì chủ thể được quyền bắt giữ khôngcòn bị giới hạn, nghĩa là bất cứ ai cũng được quyền bắt giữ một người đang phạm tội quả tang (tạmgọi là công dân).Như vậy chủ thể thuộc pham vi điều chỉnh của Điều 24 không phải là một chủ thểđặc biệt mà là bất kỳ người nào thực hiện hành vi bắt giữ (phải hiểu ở đây là được quyền bắt giữtheo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự)

Tiếp theo đến hành vi: Sử dụng vũ lực cần thiết + gây thiệt hại cho người bị bắt giữ

Đến đây tiếp tục một lần nữa từ cần thiết được sử dụng và đây là một từ mang tính định tính rấtcao, phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của người thực hiện việc sử dụng vũ lực và đôi khi làcủa người thuộc cơ quan điều tra, truy tố xét xử nếu hành vi đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Thiệt hại xảy ra cho người bị bắt giữ thông thường sẽ là những thiệt hại về sức khỏe, nhẹ có thể ởmức gây thương tích, nặng có thể dẫn đến gây tử vong, bên cạnh đó có thể là những thiệt hại về tàisản kèm theo như đang thực hiện hành vi cướp giật, bị truy đuổi và bị đạp ngã xe gây thiệt hại vềngười và tài sản

Sau cùng là ý chí: Không còn cách nào khác buộc phải thực hiện Không còn cách nào khác ở đây

sẽ rõ ràng và có căn cứ hơn đối với những người thuộc cơ quan công quyền vì quy trinh bắt giữ đãđược quy định rất rõ trong hoạt động nghiệp vụ riêng Tuy nhiên đối với chủ thể bắt giữ là côngdân thì việc xác định không còn cách nào khác hay vẫn còn cách nào khác là một việc rất khó đểxác định trong bối cảnh bắt giữ người phạm tội quả tang, tính cấp thiết của viêc bắt giữ đặt ra rấtnhanh trong khi họ không có chuyên môn nghiệp vụ để phán đoán và đưa ra cách hành xử đúng

Trang 29

đắn nhất, do đó nguy cơ nhóm chủ thể này dễ vượt quá quy định tại Khoản 1 để rơi vào Khoản 2,tức là phải chịu trách nhiệm hình sự sẽ cao hơn.

Quy định trên là một quy định mới cho thấy phần nào việc gây thiệt hại cho người bị bắt giữ (đaphần là thiệt hại về sức khỏe, tính mạng) ở một mức độ cần thiết là hành vi hợp pháp nếu thỏa mãncác điều kiện còn lại Dù là quy định mới nhưng tác giả không cho rằng đó là một tiến bộ Bởi lẽkhách thể bị tác động đến là sức khỏe tính mạng chứ không chỉ đơn thuần như là những thiệt hại

về tài sản như trong tình thế cấp thiết Minh chứng rất rõ trong những thời gian qua có hàng loạtnhững hành vi sử dụng vũ lực một cách khá tự do gây thiệt hại nghiêm trọng về sức khỏe, thậm chí

là tính mạng của những người phạm tội quả tang như trộm chó Rất nhiều những người trộm chó

đã bị đánh đến tử vong Bên cạnh đó có rất nhiều những vụ án oan sai xuất phát từ việc bức cung,

ép cung, dùng nhục hình đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của cơ quan công quyền và gâythiệt hại về Ngân sách nhà nước bởi những khoản tiền bồi thường lên đến hàng chục tỉ đồng Hiệntrạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng một phần không nhỏ là do sự lạm dụng quyền sửdụng vũ lực để bắt giữ khi cho rằng điều đó là cần thiết và không còn cách nào khác Thực sự,khung pháp lý cho vấn đề này rất yếu, lỏng lẻo dễ tạo cơ hội để những người bắt giữ gây thiệt hạicho người bị bắt giữ nhưng được loại trừ trách nhiệm hình sự, đặc biệt là những người thuộc cơquan công quyền vì họ rất dễ để chứng minh cho sự cần thiết của việc sử dụng vũ lực đó

Một vấn đề rất quan trọng là người bị bắt giữ chưa phải là người phạm tội cho đến khi có bản án cóhiệu lực thi hành (theo nguyên tắc suy đoán vô tội) vì thế cho nên họ có quyền được bảo vệ về tínhmạng, sức khỏe, tài sản v.v…Điều luật trên xét ở một khía cạnh nào đó đã làm cho việc tuân thủnguyên tắc suy đoán vô tội bị ảnh hưởng ít nhiều Tâm lý của người bắt giữ cũng sẽ thoải mái hơntrong việc sử dụng vũ lực thay vì phải cân nhắc thật kỹ lưỡng như trước đây

Điều 25 Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bình luận

Đây là trường hợp mới được đưa vào danh sách những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.Theo đánh giá chủ quan đây là một trường hợp thể hiện rất sâu sắc tinh thần vực dậy thúc đẩy nềnkinh tế của đất nước chúng ta Có thể thấy chính sách kinh tế đã ảnh hưởng không chỉ đến hệ thốngcác quy phạm pháp luật trong lĩnh vực dân sự thương mại mà còn ảnh hưởng cả đến những quyđịnh của pháp luật hình sự Trong phát triển kinh tế việc đẩy mạnh nghiên cứu, thử nghiệm, ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới là điều tất yếu và có thể nói là ưu tiên hàng đầu đối với ViệtNam một đất nước mà cơ cấu thành phần kinh tế vẫn đang phụ thuộc vào nông nghiệp thuần túy(chưa áp dụng được nhiều những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại), công nghiệp và dịch vụcòn nhiều hạn chế Chúng ta đều biết đã là nghiên cứu, thử nghiệm thì khả năng rủi ro rất cao đôikhi phải trả giá bằng chính sức khỏe thậm chí là mạng sống của con người như việc nghiên cứuchế tạo các loại thuốc, vắc xin mới trong lĩnh vực y tế v.v…Do đó nguy cơ chủ thể thực hiệnnhững nghiên cứu thử nghiệm xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ là đúng

Tuy nhiên điều luật trên vẫn còn một vài điểm chưa ổn cần phải làm rõ:

Trang 30

Thứ nhất: Tên điều luật và nội hàm quy định tại Khoản 1 không thống nhất Cụ thể Điều 25 chỉ nêu …nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong khi đó

Khoản 1 lại quy định…nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công

nghệ mới… Vậy một câu hỏi đặt ra mới ở đây là mới hoàn toàn hay chỉ cần có yếu tố mới? và nếu

nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ không mới thì cóthuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 25 hay không?

Câu hỏi thứ hai, ranh giới giữa được loại trừ trách nhiệm và không loại trừ trách nhiệm đó là việc

người thực hiện đã áp dụng đúng quy trình, quy phạm, đầy đủ biện pháp phòng ngừa haychưa? Vậy trong trường hợp bản thân quy trình không đảm bảo, vốn dĩ đã có khiếm khuyết thìngười thực hiện đã áp dụng đúng nhưng vẫn gây ra thiệt hại thì có được miễn trách nhiệm haykhông, thêm vào đó vấn đề trách nhiệm của những người ban hành quy trình quy phạm khiếmkhuyết đó ở chỗ nào?

Hai câu hỏi trên bản thân tác giả hay bạn đọc cũng khó mà đưa ra một câu trả lời hợp lý nhất Vậynên đành chờ hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền hoặc sửa đổi nếu có của các nhà lập pháp

Điều 26 Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều

422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này.

Bình luận

Đây là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự cuối cùng được thêm vào trong Bộ Luật hình

sự này so với các Bộ Luật hình sự trước đây Quy định rất rõ ràng, chủ thể không phải là bất cứngười nào mà phải là người trong lực lượng vũ trang nhân dân và người đó phải là người có chỉhuy hoặc cấp trên, nghĩa là điều luật sẽ không áp dụng đối với người có vị trí cao nhất

Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi thực hiện theo mệnh lệnh sau khi đã thực hiện đầy đủ quytrình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh.Như vậy không phải bất kỳ trường hợp nào người gây ra thiệt hại khi thực hiện theo mệnh lệnh củachỉ huy hoặc cấp trên đều được loại trừ trách nhiệm mà khi và chỉ khi họ đã thực hiện việc báo cáolại nhưng vẫn bắt buộc phải thi hành Quy định này một mặt đảm bảo tính nguyên tắc, kỷ luậttrong lực lượng vũ trang nhân dân, tính đặc thù trong mối quan hệ giữa chỉ huy, cấp trên với thuộccấp là tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của cấp trên Tuy nhiên, không phải lúc nào người đưa ramệnh lệnh cũng sáng suốt và tỉnh táo, do đó trong trường hợp thuộc cấp hoài nghi về tính đúng đắncủa mệnh lệnh thì sẽ thực hiện việc báo cáo theo đúng quy trình, sau đó nếu vẫn bắt buộc phải thựchiện mệnh lệnh thì người thực hiện sẽ được loại trừ trách nhiệm và người ra mệnh lệnh mới làngười chịu trách nhiệm

Tuy nhiên quy định này có 3 ngoại lệ mà người thực hiện mệnh lệnh mặc dù sau khi đã thực hiệnviệc báo cáo đúng quy trình vẫn không được loại trừ trách nhiệm Đó là Khoản 2 của các Điều sau:

Điều 421 Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược

Trang 31

2 Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành mệnh lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù

Điều 27 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn

đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật này quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ.

Bình Luận

1 Nội dung qui định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật này không có gì mới

so với qui định của Bộ luật năm 1999, có chăng chỉ là cách diễn đạt câu từ đảm bảo được yếu tốtinh gọn nhưng vẫn hàm ý một cách đầy đủ và nhất quán Theo qui định tại Điều 8 về Khái niệmtội phạm, chúng ta đã cách nhìn nhận đúng đắn, hiểu rõ được các yếu tố cấu thành một tội phạmtrên thực tế Như vậy một vấn đề được đặt ra là khi có tội phạm thì chủ thể nào đảm nhiệm nghĩa

vụ truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, nhân danh quyền lực Nhà nước để bảo vệ các mốiquan hệ mà pháp luật hình sự bảo vệ, tội phạm được truy cứu bao lâu hay nói cách khác thời hiệuđược thiết lập như thế nào…rất nhiều vấn đề được đặt ra khi phát sinh tội phạm nhưng trong phạm

vi nghiên cứu của Bộ luật này chúng ta chỉ đi giải đáp vấn đề về thời hiệu, còn các vấn đề khác sẽđược đề cập chi tiết tại Bộ luật tố tụng hình sự

Về khái niệm thời hiệu: tương tự khái niệm tội phạm thì khái niệm về thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự lần đầu tiên được qui định tại Bộ luật hình sự 1999 và duy trì cho đến ngày nay

Trang 32

Trước đây Bộ luật hình sự năm 1985, cụ thể tại Điều 45, các nhà làm luật không hề đưa ra đượcmột khái niệm nào về thời hiệu, không phải vào thời điểm này chúng ta chưa giải nghĩa được thờihiệu là gì mà có lẽ với lối tư duy cho rằng việc lý thuyết hóa trong một Bộ luật vốn được xem làcông cụ quan trọng, chuyên chế bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền lực của giai cấp thống trị sẽ làm giảm

đi tính uy nghiêm, răn đe tội phạm Tuy nhiên, hơn hết việc lý thuyết hóa một số vấn đề là đốitượng nghiên cứu của luật hình sự có ý nghĩa rất quan trong trong công tác áp dụng luật khi đi vàothực tế, giúp các chủ thể đại diện cho công quyền khi truy cứu trách nhiệm hình sự một đối tượng

có hành vi phạm tội được chuẩn xác và đồng thời là cơ sở, căn cứ để các học giả nghiên cứu, sosánh, đối chiếu và xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó chắt lọc để đưa ra được một kháiniệm chính xác nhất, phù hợp giữa lý thuyết và thực tiễn áp dụng

Vậy thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là gì: Trước hết cần phải nhận định, thời hiệu của mộtquan hệ pháp luật nói chung chính là thời hạn do pháp luật điều chỉnh quan hệ đó qui định mà khikết thúc thời hạn, sẽ làm phát sinh hay chấm dứt một quyền hoặc trách nhiệm pháp lý Đối chiếumột quan hệ được pháp luật hình sự bảo vệ thì hành vi xâm phạm quan hệ này chính là tội phạm,

mà theo qui định thì thuộc tính tất yếu của tội phạm là tính phải chịu hình phạt, như vậy chúng ta

dễ dàng hiểu được nội hàm của khái niệm thời hiệu trong pháp luật hình sự chính là thời hạn dopháp luật hình sự qui định mà khi kết thúc thời hạn đó người phạm tội sẽ không chịu hình phạtnữa Mặc dù tội phạm chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị trừng phạt thích đáng,thậm chí loại trừ ra khỏi đời sống xã hội nhưng không vì thế mà yếu tố thời hiệu bị bỏ qua, các nhàlàm luật từ Bộ luật hình sự 1985 cho đến nay vẫn luôn đồng thuận một quan điểm rằng việc truycứu trách nhiệm hình sự của một chủ thể phải bị giới hạn lại trong một khoảng thời gian, khoảngthời gian này chính là thời hiệu, các chủ thể như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chỉ thựcthi quyền truy cứu tội phạm trong khoảng thời gian đó và khi hết thời hạn thì chủ thể thực hiệnhành vi phạm tội không bị xem là tội phạm nữa mà trước đó rất có thể hành vi của họ là đặc biệtnghiệm trọng

2 Phân loại thời hiệu: Khoản 2 chia thời hiệu thành bốn loại tương ứng với bốn loại tội phạm Cụthể:

- 05 năm > tội ít nghiêm trọng

- 10 năm > tội nghiêm trọng

- 15 năm > tội rất nghiêm trọng

- 20 năm > tội đặc biệt nghiêm trọng

Như vậy việc phân loại thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được căn cứ trên tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Việc phân loại này là hoàn toàn phù hợp và thiếtthực

 Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu:

Như chúng ta đã bàn luận về khái niệm thời hiệu của một quan hệ xã hội chính là thời hạn do phápluật điều chỉnh nó qui định mà thời hạn lại là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm nàyđến thời điểm khác Vậy thời hạn qui đinh thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính bắt đầu

từ khi nào? Mầm mống của tội phạm là được hình thành từ trong suy nghĩ của người phạm tội vàsau đó sẽ được hiện thực hóa ra bên ngoài thông qua các hành vi khác nhau, có thể thấy tội phạmđược hình thành và phát triển qua rất nhiều giai đoạn, dưới nhiều hình thái Chính vì vậy, xác định

Trang 33

được thời điểm bắt đầu tính thời hiệu có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong thực tiễn phòngchống tội phạm Căn cứ để xem xét áp thời hiệu là phải dựa vào những biểu hiệu của tội phạm rabên ngoài hay nói cách khác là tội phạm đã biểu hiện dưới một trạng thái, hình hài nhất định Mộtngười chỉ mới có ý định phạm tội nhưng chưa biểu hiện ra bên ngoài thì chúng ta hoàn toàn không

có cơ sở để tính thời hiệu vì khi đó ý định chưa đáp ứng đầy đủ các yếu tố để cấu thành tội phạm

Và khoản 3 đã qui định rất rõ thời hiệu phải được tính từ ngày tội phạm được thực hiện, nghĩa làhành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm dù ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay đang/đã thựchiện hành vi phạm tội Việc xem xét thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của một

số giai đoạn phạm tội được nhìn nhận như sau:

- Giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt: Việc xác định thời điểm tính thời hiệu phải đượchiểu và kết hợp với các qui định về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấmdứt việc phạm tội Theo đó tại thời điểm các hành vi bị chấm dứt do xuất phát từ các yếu tố kháchquan (như bị phát hiện, ngăn chặn, bị cản trở…) và tất nhiên việc chấm dứt này hoàn toàn trái với

ý muốn của người thực hiện hành vi phạm tội, làm cho họ không thể nào thực hiện đến cùng tộiphạm Ví dụ: A có ý định giết B để cướp tài sản, A đã chuẩn bị dao, dây thừng, bao tải, rà soát giờgiấc hoạt động của B…tuy nhiên trong quá trình lẻn vào nhà B thì chó nhà B sủa, A bị mọi ngườiphát hiện và bắt giữ -> vậy việc không giết được B là hoàn toàn ngoài ý muốn của A, nếu chónhà B không sủa thì liệu rằng hành vi của A có bị phát hiện, A có tự ý nửa chừng chấm dứt việcgiết B hay không, hay A vẫn quyết tâm thực hiện theo đúng mục đích ban đầu của mình là giết chobằng được B để cướp tài sản Trong trường hợp này thời hiệu được xác định vào thời điểm hành vicủa B bị phát hiện Tuy nhiên đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội, chúng ta cần chú ý đối độ tuổichịu trách nhiệm hình sự của đối tượng thực hiện hành vi cũng như tội danh tương ứng được quiđịnh vì xét cho cùng thì giai đoạn này mặc dù hành vi của người phạm tội có tiềm ẩn những mốinguy hiểm nhất định cho xã hội nhưng chính vì bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên hậu quả cho

xã hội không xảy ra và tất nhiên khi trách nhiệm hình sự không được đặt ra cho mọi trường hợp thìthời hiệu truy cứu cũng không cần phải xem xét

- Tội phạm thực hiện hoàn thành: Việc hoàn thành ở đây không chỉ là việc thực hiện hành vi tộiphạm đạt được mục đích ban đầu của người phạm tội mà có thể chưa đạt đối với hành vi nàynhưng đã đủ yếu tố cấu thành một tội phạm khác Đối với các loại tội phạm này thì thời điểm truycứu trách nhiệm hình sự sẽ được xem xét vào thời điểm tội phạm kết thúc Ví dụ: A, B và C lậpbăng nhóm cướp giật đường phố, chuyên hoạt động tại các khu vực quanh trung tâm thương mại,phố đi bộ…A, B và C đã giật túi xách của D, trên đường trốn chạy, cả ba đã bị các hiệp sĩ đườngphố bắt giữ Như vậy thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với A, B và C đượctính từ ngày thực hiện hành vi tức là ngày giật túi xách của D, trường hợp này ngày bị bắt giữ lạitrùng với ngày thực hiện hành vi phạm tội

Việc xác định thời điểm tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nêu trên là áp dụng về mặtnguyên tắc Tuy nhiên pháp luật hình sự cũng đã dự liệu một số trường hợp ngoại lệ mà việc tínhthời hiệu thực hiện theo một phương thức hoàn toàn mới Cụ thể với các trường hợp sau:

Thứ nhất: Đang trong thời hiệu truy cứu đối với tội danh đã thực hiện mà người phạm tội lại thực

hiện một hành vi phạm tội mới mà khung hình phạt cao nhất được áp dụng là trên một năm tù thìthời hiệu đối với tội cũ được tính từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới

Trang 34

Điều kiện tính lại thời hiệu đối với trường hợp này bao gồm yếu tố sau: khung hình phạt cao nhấtcủa tội thực hiện phải trên một năm tù, nếu tội danh thực hiện mà khung hình phạt cao nhất từ mộtnăm trở xuống thì thời hiệu đối với tội cũ nếu có sẽ không được tính lại Tuy nhiên đối với khoảnnày chúng ta cần phải lưu ý một số điểm mấu chốt như sau, nếu chỉ nhìn nhận cảm tính sẽ rất dễnhầm lẩn và hiểu sai qui định như khung hình phạt cao nhất được hiểu như thế nào? Phạm một tộimới có phải là tội đó phải hoàn toàn khác với tội đã thực hiện và đang bị truy cứu trách nhiệm hìnhsư?

Khung hình phạt cao nhất: Ví dụ đối với tội cướp tài sản qui định tại Điều 168 thì có rất nhiềukhung hình phạt khác nhau như khoản 1 từ 03 đến 10 năm tù, khoản 2 từ 07 đến 15 năm, khoản 3

từ 12 đến 20 năm, khoản 4 từ 18 đến 20 năm hoặc tù chung thân, khoản 5 chuẩn bị phạm tội thì từ

01 đến 05 năm Như vậy có được quyền hiểu khung hình phạt cao nhất là mức cao nhất trong mộtkhung hay khung phạt cao nhất trong tất cả các khung của một Điều luật Theo như cách viện dẫncủa các nhà làm luật thì bắt buộc chúng ta phải hiểu đó là khung cao nhất trong một tội danh,không phân biệt hành vi phạm tội của chủ thể thực hiện chỉ rơi vào khung thấp nhất Với hạn mứctrên một năm tù thì dường như toàn bộ các tội danh áp dụng cho chủ thể là cá nhân đều đáp ứng.Phạm một tội mới: có ý kiến cho rằng phạm tội mới phải được hiểu là tội đó phải hoàn toàn khácvới tội đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự Ví dụ: A phạm tội giết người và đang bị truy cứutrách nhiệm hình sự, trong khoảng thời gian này A lại tiếp tục phạm tội giết người nên thời hiệutruy cứu trách nhiệm đối với tội giết người trước không được tính lại Tuy nhiên với cách hiểu nhưvậy là chưa chính xác vì tính mới trong phạm tội mới không đồng nghĩa với việc khác biệt tộiphạm được thực hiện mà tính mới được thể hiện, xem xét dưới góc độ độc lập, nghĩa là cho dù cáctội phạm được thực hiện có cùng tội danh nhưng một khi đảm bảo đây là các hành vi khác nhau,không cùng trong một vụ án, tách biệt thì đã đảm bảo tính mới trong hành vi phạm tội

Thứ hai: Một tội phạm được thực hiện thì không đồng nghĩa với việc thời hiệu sẽ được tính liên

tục và khi hết khoảng thời hạn đó người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hayđồng nghĩa họ không bị xem là có tội Tính liên tục của thời hiệu chỉ được đảm bảo khi đáp ứngđược đầy đủ các điều kiện sau:

- Không phạm tội mới mà khung hình phạt cao nhất áp dụng đối với tội đó là trên 01 năm tù (phầnnày chúng ta đã bình luận phía trên)

- Không được cố tình trốn tránh: điều này đồng nghĩa với việc người phạm tội không tìm mọi cách

để né tránh các chế tài của Bộ luật hình sự Biểu hiện cho việc né tránh này là sau khi hành viphạm tội bị phát hiện, người phạm tội bỏ trốn khỏi nơi cư trú, thay đổi họ tên, ra nước ngoài, phẫuthuật để thay đổi hình dạng bên ngoài…

- Chưa có quyết định truy nã: Khi có đầy đủ căn cứ xác định đối tượng đã bỏ trốn khỏi nơi cư trúhoặc không biết ở đâu mặc dù đã sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng vẫn không có kết quả thì

Cơ quan điều tra có thẩm quyền sẽ ra quyết định truy nã đối tượng

Như vậy khi người phạm tội cố tình trốn tránh và Cơ quan điều tra có thẩm quyền đã ra quyết địnhtruy nã thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh đó sẽ được tính lại Thời điểm

để bắt đầu lại thời hiệu được xem xét khi người phạm tội ra đầu thú hoặc bị bắt giữ Mặc dù ngườiphạm tội có cố tình trốn tránh bao nhiêu lâu đi nữa mà họ vẫn chưa bị truy nã bằng một quyết địnhchính thức thì thời hiệu không được tính lại và khi hết thời hiệu tương ứng với loại tội phạm thực

Trang 35

hiện, dưới góc độ pháp lý họ hoàn toàn không có tội, không một cơ quan nào có quyền truy tố xét

xử họ

Xét đến thời điểm tính lại thời hiệu, Bộ luật hình sự hiện hành có một qui định khác so với Bộ luậthình sự 1999, thể hiện cụ thể bằng việc thay thế cụm từ “tự thú” bằng “đầu thú” Đây là hai kháiniệm hoàn toàn khác nhau, việc điều chỉnh này là hoàn toàn phù hợp Để có thể hiểu rõ vai trò củaviệc điều chỉnh này, trước hết cần phải nghiên cứu về mặt khái niệm, tự thú là gì và đầu thú là gì?

- Tự thú nghĩa là người phạm tội tự nhận và khai ra hành vi phạm tội của mình mặc dù hành vi của

họ chưa bị phát hiện

- Đầu thú là khi hành vi phạm tội đã bị phát hiện, điều tra, người thực hiện hành vi biết không thểtrốn thoát hoặc dằn vặt lương tâm nên ra trình diện trước cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quiđịnh của pháp luật

Từ khái niệm nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy qui định tại khoản 3 Điều 23 Bộ luật hình sự

1999 chưa thật sự phù hợp về mặt thuật ngữ Bởi lẽ điều luật đã thể hiện rất rõ là khi và chỉ khingười phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã thì thời hiệu sẽ được tính lại nhưngcác nhà làm luật lại qui định thời điểm người phạm tội tự thú, điều này là hoàn toàn không có ýnghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn Vì một khi có quyết định truy nã thì điều đó đồng nghĩa với việchành vi phạm tội đã bị phát hiện, điều tra thì chắc chắn không có việc người phạm tội lại tự thú.Qui định này không chỉ là sự nhầm lẫn về mặt thuật ngữ, câu từ mà còn tạo ra lỗ hổng lớn Chính

vì vậy, tác giả khẳng định, việc điều chỉnh lại cụm từ “đầu thú” là hoàn toàn phù hợp

Điều 28 Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ luật này đối với các tội phạm sau đây:

1 Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật này;

2 Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật này;

3 Tội tham ô tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 353 của Bộ luật này; tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 354 của Bộ luật này.

Bình Luận

Mặc dù tại Điều 27 Bộ luật hình sự qui định rất rõ về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đốivới các loại tội phạm cũng như các trường hợp tính lại thời hiệu thì điều đó hoàn toàn không đồngnghĩa với việc 318 tội danh đều áp dụng thời hiệu nêu trên Tương tự Bộ luật hình sự 1999, Bộ luậtmới này vẫn tiếp tục liệt kê các tội xâm phạm an ninh quốc gia; phá hoại hòa bình, chống loàingười và tội phạm chiến tranh không áp dụng thời hiệu Xem xét các loại tội phạm này, chúng tanhận thấy đặc điểm chung của chúng chính là tính nguy hiểm cho xã hội cũng như mức độ, phạm

vi ảnh hưởng Nghiên cứu đặc điểm của Bộ luật hình sư là công cụ đặc biệt quan trọng của giai cấpthống trị trong việc bảo vệ quyền lực của mình cũng như duy trì sự ổn định của xã hội, các tội xâmphạm an ninh quốc gia như: tội phản tổ quốc, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, tộigián điệp, tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, tội bạo loạn, tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhândân, tội phá hoại cơ sở vật chất kỹ thuật của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tội phárối an ninh, tội phá hoại chính sách đoàn kết…đang xâm phạm và tác động trực tiếp lên quyền lợi,

sự tồn vong của giai cấp thống trị Rõ ràng tính nguy hiểm của hành vi là cực kỳ lớn, sự ổn định

Trang 36

của giai cấp cầm quyền chính là sự ổn định cho cả một hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội Vượt

ra ngoài phạm vi của một quốc gia, vùng lãnh thổ thì các hành vi như: phá hoại hòa bình, gâychiến tranh xâm lược, chống loài người, chiến tranh, tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánhthuê, làm lính đánh thuê đã tác động lên phạm vi liên quốc gia, khu vực, châu lục Tất cả các tộiphạm này không còn được thực hiện một cách riêng lẻ nữa mà được hình thành, liên kết thành cácbăng đảng tổ chức lớn, hoạt động một cách công khai và thậm chí được sự hậu thuận về mặt tàichính từ một bên thứ ba nào đó Xét lại các tội phạm được qui định tại Chương XIII và ChươngXXVI có tính nguy hiểm đặc biệt nghiệm trọng, nếu không có các biện pháp phòng chống, đấutranh hữu hiệu thì hậu quả mà nó để lại sẽ không thể nào lường hết được

Bên cạnh những điểm chung thì Bộ luật hiện hành đã có những bổ sung, điều chỉnh nhất định Cụthể ngoài các tội phạm không áp dụng thời hiệu truy cứu nêu trên thì đến nay các tội danh sau cũngkhông được áp dụng thời hiệu:

- Khoản 3, khoản 4 Tội tham ô tài sản

“3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.

- Khoản 3, khoản 4 Tội nhận hối lộ

“3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên”.

Đây là các tội phạm về chức vụ qui định tại Chương XXIII với đặc điểm là chủ thể đặc biệt, sửdụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện phạm tội Trong những năm gần đây, với sự quyếttâm cao của Đảng và Nhà nước mà hàng loạt các cán bộ, các vụ án tham nhũng bị phanh phui vàđưa ra xét xử Điều này tạo ra được một tín hiệu tích cực trong công cuộc phòng chống thamnhũng, đưa cả hệ thống chính trị vào guồng trong sạch, liên khiết với chính bản thân mình và vớinhân dân Chính vì vậy mà khi soạn thảo Bộ luật hình sự mới, các nhà làm luật đã liệt kê hẳn vấn

Trang 37

đề nhức nhối này vào trường hợp không áp dụng thời hiệu nhằm đảm bảo được một yếu tố duynhất là truy cứu, xử lý tội phạm đến cùng Cho dù tội phạm có được thực hiện vào thời điểm nào,không gian nào, bí mật, kín đáo ra sao thì vẫn không thoát khỏi chế tài, sự trừng phạt của phápluật Bên cạnh việc đẩy mạnh hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì việc loại bỏ yếu tố thời hiệuđối với các tội danh này là một lần nữa khẳng định được quyết tâm xử lý tội phạm cũng như tạođược niểm tin ở nhân dân

Điều 29 Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

1 Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi có quyết định đại xá.

2 Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây: a) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

c) Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

3 Người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Bình Luận

Xem xét, đối chiếu với các qui định về miễn trách nhiệm hình sự tại Bộ luật 1999 thì qui định này

có nhiều điểm mới mà chúng ta cần phải lưu ý Để dễ dàng nắm bắt được các trường hợp đượcmiễn trách nhiệm hình sự cũng như những trường hợp khác liên quan, trước tiên cần phải làm rõkhái niệm và bản chất của việc miễn trách nhiệm hình sự

Pháp luật hiện hành cũng như trong lịch sử pháp luật hình sự vẫn chưa đưa ra một khái niệm cụ thể

về việc miễn trách nhiệm hình sự mà theo đó các nhà làm luật chỉ liệt các trường hợp nào đượcmiễn trách nhiệm, như Bộ luật 1999:

- “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử,

do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho

xã hội nữa”.

Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn tự nhận thức được bản chất của chế định này là như thế nào Miễntrách nhiệm hình sự chính là việc người phạm tội không còn phải chịu các hậu quả pháp lý từ hành

vi phạm tội khi có các căn cứ luật định, nhưng phải khằng định rằng việc không phải chịu hậu quả

ở đây chỉ đề cập đến góc độ về hình sự vì trong nhiều trường hợp mặc dù được miễn trách nhiệmhình sự nhưng người thực hiện hành vi phạm tội phải gánh chịu các hậu quả pháp lý khác như vềhành chính, dân sự, lao động (bồi thường thiệt hại, bị xử phạt, đình chỉ quan hệ lao động… )

Trang 38

Việc miễn trách nhiệm hình sự theo Điều luật này được nghiên cứu dưới hai góc độ: đương nhiên

và không đương nhiên Đương nhiên được hiểu là khi một người có hành vi phạm tội nhưng cóđầy đủ các điều kiện theo luật định thì họ hiển nhiên được miễn trách nhiệm hình sự mà không cóbất kỳ chủ thể nào có thể ngăn cản Không đương nhiên được hiểu là khi một người có hành viphạm tội nhưng có các điều kiện theo luật định thì họ sẽ được cơ quan có thẩm quyền xem xét việc

áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự

Thứ nhất: Trường hợp đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự

- Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành

vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Trường hợp này được hiểu, trước đây hành vi này là nguy hiểm cho xã hội và chủ thể thực hiệnhành vi phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên do sự chuyển biến của tình hình thực tế, nhậnthức, đánh giá sự việc…mà đã dẫn đến sự thay đổi trong chính sách, pháp luật nên hành vi này nếuxem xét theo qui định mới thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nữa Việc miễn trách nhiệmtrong trường hợp này có một số đặc điểm như sau:

- Sự thay đổi phải được ghi nhận, thể hiện bằng văn bản có hiệu lực pháp luật, nghĩa là việc ápdụng phải có cơ sở xác đáng, ràng buộc các bên liên quan phải thi hành mà không có một ngoại lệnào

- Việc miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc chấm dứt các trách nhiệm pháp lý khácnhư trách nhiệm hành chính, dân sự, lao động

- Khi có quyết định đại xá

Việc đại xá thể hiện rõ nét chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấutranh phòng chống tội phạm, được Quốc hội ban hành căn cứ trên tình hình thực tế, hoạt động tộiphạm cũng như sự ảnh hưởng, mức độ tác động của một số loại tội phạm Nếu căn cứ nêu trên cầnphải được thể hiện rõ sự loại trừ hành vi ra khỏi nhóm các tội danh được pháp luật hình sự qui địnhthì việc đại xá không làm mất đi hay thay đổi các chế định pháp luật đối với các loại tội phạm đó.Nghĩa là theo pháp luật hình sự thì các hành vi mà người phạm tội được đại xá vẫn bị xem là tộiphạm, người thực hiện hành vi buộc phải gánh chịu các hậu quả pháp lý hình sự tương ứng vớimức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình gây ra Quyết định đại xá của Quốc hội sẽ làcăn cứ làm cho một số loại tội phạm mà người thực hiện hành vi phạm tội không phải tiếp tục gánhchịu các hậu quả pháp lý hình sự nữa cho dù họ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong giaiđoạn nào Nếu đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì sẽ không bị điều tra, truy tố, xét xử nữa; nếuđang chấp hành hình phạt tù thì không phải tiếp tục chịu hình phạt tù còn lại, được tự do ngay lậptức và được xóa án tích, xem như chưa từng phạm tội danh được đại xá, không bị mang tiềnán….Như vậy việc miễn trách nhiệm hình sự do đại xá là căn cứ phát sinh dựa trên thẩm quyềnquyết định của Quốc hội khi xem xét các yếu tố, tình hình đời sống kinh tế chính trị xá hội

Thứ hai: trường hợp không đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự

- Sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa

Nếu như trước đây, căn cứ theo qui định của Bộ luật hình sự 1999 thì đây chính là trường hợpngười phạm tội đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên qui định này hoàn toànkhông phù hợp cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng, việc đương nhiên được miễn trách nhiệmphải dựa vào một căn cứ, qui định rõ ràng, được cụ thể hóa bằng một văn bản có hiệu lực pháp luật

vì có như vậy mới ràng buộc được nghĩa vụ tuân thủ của các chủ thể liên quan cũng như bảo vệđược quyền của người phạm tội Nhưng xuất phát từ căn cứ áp dụng là dựa trên sự chuyển biến

Trang 39

của tình hình thì chắc chắn một điều rằng là chúng ta không thể dự liệu được một cách chính xác,tình hình có sự chuyển biến là sự thay đổi, vận động của cả một hệ thống các yếu tố, lĩnh vực nhưkinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, pháp luật … hoặc sự chuyển biến có thể biểu hiện ở một lĩnhvực, khía cạnh nào đó của đời sống xã hội mà làm cho người phạm tội không còn nguy hiểm cho

xã hội nữa Như vậy có thể thấy, Bộ luật hình sự 1999 đã luật hóa căn cứ này thành quyền đươngnhiên được hưởng miễn trách nhiệm hình sự nhưng hoàn toàn không có một văn bản, qui định đểchi tiết, cụ thể hóa sự chuyển biến của tình hình là như thế nào để xác định việc áp dụng cho ngườiphạm tội Bên cạnh đó, vì là sự chuyển biến nên chắc chắn sẽ có sự thay đổi liên tục, biến hóa theotừng thời điểm, trình độ nhận thức, đánh giá nên không thể áp khung một vật thể chuyển động để

áp dụng cho một trường hợp

Chính vì vậy mà trong Bộ luật hình sự hiện hành, việc các nhà làm luật đã điều chỉnh căn cứ này

từ đương nhiên được hưởng thành có thể được hưởng Sự có thể ở đây phụ thuộc vào rất nhiều yếu

tố, đó là các yếu tố của tình hình đời sống xã hội và hơn hết là sự tùy nghi áp dụng căn cứ trên cơ

sở nhận thức, nhìn nhận chủ quan của các cá nhân, tổ chức trong quá trình điều tra, truy tố và xét

- Người phạm tội phải mắc bệnh hiểm nghèo: căn cứ để xác đinh phải dựa vào danh mục các bệnhhiểm nghèo theo qui định của pháp luật

- Không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội: Điều này đồng nghĩa với việc không phải bất kỳngười phạm tội nào mắc bệnh hiểm nghèo đều được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm hình sự màcòn phải xác định khả năng gây nguy hiểm cho xã hội của họ trên thực tế Ví dụ: A mắc bệnh ungthư nhưng được phát hiện, điều trị tại giai đoạn đầu nên vẫn còn khỏe mạnh, khả năng khỏi bệnhrất cao, vì vậy hoàn toàn không có cơ sở để miễn trách nhiệm hình sự cho A Tuy nhiên, nếu xéttrường hợp A bị ung thư giai đoạn cuối, đã di căn, sức khỏe ốm yếu thì cần phải xem xét áp dụngviệc miễn trách nhiệm hình sự

- Người phạm tội tự thú

Về mặt khái niệm, nghĩa là hành vi phạm tội chưa bị phát hiện nhưng người thực hiện hành vi đã

tự khai nhận và trình diện trước Cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo qui định của pháp luật Việc

tự thú để có thể hưởng quyền yêu cầu xem xét miễn trách nhiệm hình sự được thể hiện rõ nét nhấttrong các loại tội phạm có đồng phạm Bởi đối với các tội phạm được thực hiện riêng lẻ thì việc tựthú chỉ được thực hiện sau khi tội phạm hoàn thành, tức là đã đạt được mục đích mong muốn củangười phạm tội trước khi thực hiện hành vi, đã gây ra hậu quả nhất định cho xã hội Trường hợpnày việc tự thú chỉ được xem xét là tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng khung hình phạt

Tự thú đối với các tội phạm có đồng phạm: nghĩa là có từ hai chủ thể trở lên cùng thực hiện mộttội phạm Trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện, một trong những chủ thể vì lý do nào đó mà tựthú trước cơ quan có thẩm quyền để khai nhận toàn bộ hành vi của mình cũng như khai báo hành

vi chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện của các đồng phạm khác Việc khai báo này giúp cho cơ quan

Trang 40

có thẩm quyền ngăn chặn kịp thời tội phạm, không cho hậu quả xảy ra trên thực tế hoặc hạn chếđến mức thấp nhất hậu quả xảy ra.

Hành vi tự thú của một chủ thể tội phạm chỉ được xem xét áp dụng miễn trách nhiệm hình sự khi

và chỉ khi việc khai nhận, khai báo của họ đã mang đến những lợi ích nhất định như:

- Hiệu quả trong việc phát hiện và điều tra tội phạm: Biểu hiện ở việc cung cấp các chứng cứ, lờikhai, thông tin về các đồng phạm, địa điểm…

- Ngăn chặn hoặc hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm: Biểu hiện ở việc giúp kịp thờingăn chặn được hậu quả hoặc nếu hậu quả đang xảy ra thì hạn chế được đến mức thấp nhất có thể

Ví dụ: A, B, C và D tổ chức buôn bán ma túy từ Lào về Việt Nam, toàn bộ 2 bánh heroin được vậnchuyển trót lót vào Thành phố Hồ Chí Minh và chuẩn bị phân phối cho các tụ điểm, đại lý để bán

lẻ đến các con nghiện trên địa bàn C sau đó tự thú khai nhận hành vi của mình và đồng bọn, A, B

và D lần lượt bị bắt, 2 bánh heroin bị thu giữ trước khi bị phân tán đi tiêu thụ Chúng ta thấy việc

tự thú của C giúp Cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn và bắt giữ tội phạm, kịp thời tịch thu các bánhheroin, bên cạnh đó từ lời khai của C mà Cơ quan điều tra có cơ sở xác định được A, B, D có liênquan đến hàng loạt vụ án buôn bán trọng điểm ma túy khác Rõ ràng hành vi tự thú của C đã manglại một lợi ích rất lớn trong việc xử lý tội phạm ma túy trên địa bàn nên hoàn toàn có cơ sở xem xét

áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự

Cuối cùng một căn cứ để xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội là xuất phát từ yêucầu, đề nghị của bị hại hoăc đại diện hợp pháp của bị hại Căn cứ này không phải được áp dụngcho mọi loại tội phạm mà chỉ áp dụng cho: tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêmtrọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác Bêncạnh qui định về loại tội phạm thì để được xem xét áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự thìngười phạm tội còn phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả: Người phạm tội phải chủ động,

tự nguyện thực hiện trước khi có yêu cầu, chế tài áp dụng của cơ quan có thẩm quyền Tính tựnguyện đánh giá được sự hối lỗi, nhận biết được sai lầm cũng như thể hiện được mong muốn bùđắp cho bị hại của người phạm tội

- Được bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giả và đề nghị miễn tráchnhiệm hình sự: Bên bị tác động bởi hành vi vi phạm chủ động, bằng thâm tâm của mình mongmuốn bỏ qua tội lỗi của người phạm tội mà từ đó tự đưa ra yêu cầu, đề nghị cơ quan chức năngxem xét không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nữa Pháp luật qui định rất rõ, đề nghịnày phải xuất phát tự sự tự nguyện, bởi lẽ trên thực tế khi có một hành vi phạm tội xảy ra, ngườithực hiện hành vi vì muốn né tránh các chế tài của pháp luật hình sự mà tìm mọi cách để đạt đượcmục đích đó mà không loại trừ yếu tố đe dọa, cưỡng ép buộc bị hại phải đưa ra yêu cầu trước cơquan chức năng Rõ ràng yêu cầu đưa ra trong trường hợp này không xuất phát tự sự tự nguyện,không phù hợp với ý chí của bị hại hoặc đại diện bị hại Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng việc dùngtiền bạc, vật chất để bị hại hoặc đại diện bị hại đưa ra yêu cầu không phải xuất phát từ sự tựnguyện mà đúng đắn hơn là việc mua bán, đổi chát làm cho tính nghiệm minh của pháp luật khôngđược đảm bảo, không răn đe được tội phạm, không công bằng vì những người giàu có khi phạm tộithì dùng tiền bạc để tránh sự trừng phạt của pháp luật Ý kiến nêu trên xét ở một khía cạnh nào đó

là có cơ sở, tuy nhiên chúng ta cần nhìn nhận tổng thể, đa chiều vì căn cứ xem xét miễn tráchnhiệm hình sự khi có đề nghị của bị hại hoặc đại diện bị hại chỉ được áp dụng cho loại tội phạm màtính nguy hiểm cho xã hội của nó không cao, trách nhiệm hình sự không nhất thiết phải được đặt

ra, việc trao quyền cho phía bị hại là nên ghi nhận Trong khi đó tại các qui định đầu, chúng ta đãhiểu Bộ luật hình sự không chỉ là công cụ để trừng phạt người phạm tội mà còn có một nhiệm vụ

Ngày đăng: 06/03/2019, 23:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w