Tội cướp giật tài sản tại Bộ luật hình sự 2015, điều 136 bộ luật hình sự 2015, tội trộm cấp tài sản luật hình sự 2015, điều 172 bộ luật hình sự 2015, điều 171 bộ luật hình sự, điều 168 bộ luật hình sự 2015, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, điều 173 bộ luật hình sự 2015, bộ luật hình sự 2017
Trang 1Điều 171 Tội cướp giật tài sản
1 Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ ;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân :
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
Trang 2b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người ;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
1 Cướp giật tài sản là gì?
Cướp giật tài sản được hiểu là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của
người khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sựphản kháng của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản
2 Các yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản
2.1 Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện qua dấu hiệu sau:
Có hành vi chiếm đoạt tài sản một cách công khai và nhanh chóng.Được hiểu là người pham tội không cân che giấu hành vi chiếm đoạt tàisản của người khác mà thực hiện trước mặt mọi người một cách táo bạobất người và dứt khoát trong một thời gian rất ngắn
Để thực hiện được hành vi này người phạm tội không được sử dụng vũlực (tuy một số trường hợp có sử dụng sức mạnh như đạp, xô cho bịhại té để cướp), cũng không đe dọa sử dụng cũ lực hay uy hiếp tinh thầncủa người bị hại như tội cướp tài sản mà chỉ chỉ dựa vào sự nhanh nhẹncủa bản thân và sự thờ ở của người bị hại, hay trường hợp người bị hạikhông đủ khả năng bảo vệ tài sản (chẳng hạn như trẻ em, người già, phụnữ…) để giật lấy tài sản của họ và tẩu thoát
Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt tài dản của tội phạm này là được thựchiện một cách bất ngờ và nhanh chóng (trong một khoảng thời gian rấtnhắn, thường chỉ trong một vài giây là đã thực hiện xong hành vi chiếmđoạt) làm cho người bị hạn không kịp ứng phó Đồng thời ngay sau khichiếm đoạt được tài sản từ tay người bị hại, người phạm tội cũng nhanhchóng tẩu thoát nhằm tránh khỏi việc truy đuổi của người bị hại Thôngthường thì người phạm tội có sử dụng phương tiện để thực hiện tội phạm(như dùng xe phân phối lớn để cướp giật…)
Trang 3Lưu ý: Đối tượng của hành vi cướp giật tài sản (tương tự như đối với tộicướp tài sản) Tuy nhiên thông thường là nữ trang tiền và các giấy tờ cógiá trị như tiền, là những vật nhẹ, gọn, dễ lấy và cất giấy một cách dễdàng.
Nhiều trường hợp người phạm tội cũng sử dụng thủ đoạn tinh vi để tạo
sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, người quản lý tài sản để thựchiện hành vi cướp giật
Ví dụ: giả vờ hỏi mua chiếc điện thoại di động, khi được chủ sở hữu tàisản đưa cho xem đã nhanh chóng tẩu thoát cầm theo chiếc điện thoại
Trang 44 Hình phạt bổ sung
Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từngtrường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000 đồng
Các tìm kiếm liên quan đến Tội cướp giật tài sản tại Bộ luật hình sự
2015, điều 136 bộ luật hình sự2015, tội trộm cấp tài sản luật hình sự
2015, điều 172 bộ luật hình sự 2015, điều 171 bộ luật hình sự, điều
168 bộ luật hình sự 2015, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, điều 173 bộluật hình sự 2015, bộ luật hình sự 2017
Các tội xâm phạm sở hữu tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) Các tội xâm phạm sở hữu thuộc Chương XVI của BLHS năm 2015, gồm có 13
điều (từ Điều 168 đến Điều 180).
Điều 168 Tội cướp tài sản
1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Trang 5b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
c) Làm chết người;
d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
1 Cướp tài sản là gì?
Cướp tài sản được hiểu là hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực
ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tìnhtrạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữucủa họ hoặc do họ quản lý
2 Các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản tại Bộ luật hình sự 2015
2.1 Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội cướp tài sản có một trong các dấu hiệu sau:
a) Có hành vi dùng vũ lực: Là hành vi của người phạm tội dùng sứcmạnh có tính vật chất (gồm sức mạnh thể chất và sức mạnh của vậtchất là công cụ phương tiện phạm tội) tác động vào thân thể của ngườichủ tài sản (chủ sở hữu tài sản), hoặc người có trách nhiệm quản lý tàisản hoặc bất cứ người nào cản trở việc chiếm đoạt tài sản của ngườiphạm tội, làm cho những người đó không thể kháng cự lại hoặc làm têliệt ý chí kháng cự hay khả năng kháng cự (như đâm chết…) của người
đó để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản
Trang 6 Sức mạnh thể chất Được hiểu là việc dùng sức mạnh của chínhbản thân người phạm tội như dùng tay bóp cổ nạn nhân, dùng thế võ
để khoá tay nạn nhân, dùng chân đá vào chỗ hiểm của nạn nhân…
Sức mạnh vật chất là công cụ phương tiện phạm tội: Được hiểu làngười phạm tội đã sử dụng uy lực, tính năng tác dụng của công cụphương tiện phạm tội để tác động vào thân thể nạn nhân như dùngdao đâm, dùng súng bắn… vào người nạn nhân
b) Có hành vi đe doạ dùng ngay tức khắc vũ lực: Đó là hành vi cụ thểcủa người phạm tội biểu hiện cho người bị tấn công biết rằng ngườiphạm tội có thể sử dụng vũ lực (khi bắn, chém…) ngay tức khắc nếungười bị tấn công có hành vi cản trở việc chiếm đoạt tài sản của ngườiphạm tội nhằm làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị tấn công
c) Có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng khôngthể chống cự: Được hiểu là hành vi mà người phạm tội có thể thực hiệnthông qua cử chỉ, lời nói, thái độ, hoặc hành động khác với những thủđoạn khác nhau (như cho uống thuốc mê, dùng vũ khí giả để uy hiếp…)với mục đích làm cho người bị tấn công bị tê liệt ý chí kháng cự đểchiếm đoạt tài sản Đặc điểm của dạng hành vi này, người phạm tộikhông tác động bằng sức mạnh vật chất vào người bị tấn công mà dùngcác thủ đoạn tinh vi để tác động vào thể chất, tinh thần của người bị hại
Lưu ý:
Các hành vi nêu trên luôn và bao giờ cũng gắn liền với mục đíchchiếm đoạt tài sản Thông thường việc chiếm đoạt này luôn đượcthực hiện liền ngay sau khi thực hiện một trong các hành vi nói trên.Đây là điểm đặc thù của tội này.Tuy nhiện, hậu quả có xảy ra hay không (tức có lấy được tài sảnhay không), giá trị tài sản ít hay nhiều không làm ảnh hưởng đếnviệc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội mà chỉ có ý nghĩa
Trang 7vật thì thông thường bao giờ động sản (như tiền, vàng, xe máy…)cũng là đối tượng của tội cướp tài sản.
Thời điểm hoàn thành của tội phạm này được xác định từ lúc kẻphạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm (một trong các hành vi nêu ởmặt khách quan)
2.2 Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước của
tô chức và công dân
Ngoài ra còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của chủ tài sản, ngưòiquản lý tài sản hoặc người (bất cứ người nào) cản trở việc thực hiện tộiphạm của kẻ phạm tội
Trang 84 Hình phạt bổ sung
Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từngtrường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệuđồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản,phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm
5 Một số vấn đề cần chú ý:
– Khi thực hiện tội cướp tài sản, người phạm tội phát sinh ý thức chiếmđoạt trước khi có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tứckhắc, hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tìnhtrạng không thể tự vệ được Nếu ý thức chiếm đoạt phát sinh sau khi đãthực hiện các hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắchoặc các hành vi khác thì không phạm vào tội cướp tài sản, mà tuỳ vàotừng trường hợp cụ thể mà phạm vào các tội tương ứng với hành vi đó(thường là tội công nhiên chiếm đoạt tài sản)
Ví dụ: A đánh B để trả thù, B do bị đánh đã để lại xe mô tô đang đi và
bỏ chạy A nảy sinh và thực hiện ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của
B Trường hợp này không có sự chuyển hoá tội phạm, từ tội công nhiênchiếm đoạt tài sản sang tội cướp tài sản Tức là A không phạm vào tộicướp tài sản mà phạm vào tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
– Việc chuyên hoá tội phạm khác sang tội cướp tài sản khi người phạmtội đã chiếm giữ được tài sản thì bị chủ sở hữu hoặc người có tráchnhiệm quản lý tài sản giằng, giật lại tài sản, khi đó, người phạm tội đã sửdụng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc để bảo vệ tài sản đãchiếm đoạt được từ việc thực hiện một tội phạm khác
Nếu người phạm tội, phạm vào một tội khác thì bị chủ sở hữu hoặcngười có trách nhiệm giằng giật lại tài sản, liền sau đó đã sử dụng vũlực đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm tẩu thoát thì không phạmvào tội cướp tài sản, vì lúc đó không có mục đích tiếp tục chiếm đoạt tàisản Trường hợp này không có sự chuyển hoá từ tội phạm khác sang tộicướp tài sản Hành vi trên được coi là hành hung để tẩu thoát đối vớiviệc phạm tội trước đó (trường hợp này chỉ có ý nghĩa trong việc địnhkhung tăng nặng, trong việc quyết định hình phạt)
Trang 9– Nếu tài sản bị cướp lại là đối tượng của một tội phạm khác thì tuỳ từngtrường hợp cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự về những tộidanh tương ứng, như tội chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật Hìnhsự); Tội chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép ma tuý(Điều 195 Bộ luật Hình sự); Tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng phươngtiện kỹ thuật (Điều 232 Bộ luật Hình sự); tội chiếm đoạt chất phóng xạ(Điều 236 Bộ luật Hình sự).
– Trong trường hợp người phạm tội ngoài việc chiếm đoạt tài sản còngây thương tích cho người khác dưới 11% kèm theo các tình tiết quyđịnh ở khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự, thì người phạm tội còn bị truycứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại chosức khoẻ của người khác Nếu gây thương tích từ 11% trở lên thì bị truycứu trách nhiệm hình sự tương ứng với các khung nặng của tội cướp tàisản (khoản 2,3,4 Điều 133 Bộ luật Hình sự) Trường hợp cướp tài sản
mà gián tiếp làm chết người thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội giết người mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sảntheo khoản 4 Điều 133 Bộ luật Hình sự
– Phân biệt hành vi cướp tài sản mà làm chết người với hành vi giếtngười để cướp tài sản Hành vi cướp tài sản mà làm chết người là trươnghợp người phạm tội không trực tiếp giết người bị hại, cái chết của người
bị hại không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi dùng vũ lực
để cướp tài sản Tuy nhiên hành vi bạo lực đó có vai trò quyết định đếncái chết của người bị hại Ngược lại hành vi giết người để cướp tài sảnthì cái chết của người bị hại phải là hậu quả trực tiếp của hành vi sửdụng vũ lực do người phạm tội gây ra (đúng với mục đích của ngườiphạm tội)
Ví dụ: A dùng dao đe doạ giết hại tức khắc B nếu B không giao tài sản.
B hoảng loạn chạy thoát thân thi bị vấp ngã chấn thương sọ não dẫn đến
tử vong Trường hợp này A không có mục đích trực tiếp giết B Cái chếtcủa B không có mối quan hệ nhân quả với hành vi của A
Điều 169 Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
1 Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Trang 102 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Dùng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
d) Đối với người dưới 16 tuổi;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; g) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11 % đến 30%;
h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Làm chết người;
c) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
5 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
6 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
1 Khái niệm
Bắt cóc để nhằm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi bắt giữa ngườilàm con tin để đe dọa nhằm buộc người khác giao tài sản theo yêu cầucủa kẻ phạm tội để đổi lấy sự an toàn cho người bị bắt cóc
2 Các yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
2.1 Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
Trang 11a) Có hành vi bắt giữ người khác làm con tin Được hiểu là hành vi củangười phạm tội thực hiện việc bắt giữ người trái pháp luật nhằm tạo rađiều kiện gây áp lực buộc người bị hại phải giao tài sản bằng nhiềuphương thức thủ đoạn khác nhau như dùng vũ lực không chế để bắt giữngười, dùng thủ đoạn lừa dối để bắt giữ người, dùng thuốc gây mê để bắtgiữ người…
Đặc điểm của việc bắc cóc là: Đối tượng bị bắt cóc thông thường phải làngười có quan hệ huyến thống (cha, mẹ, con, anh, chị, em), quan hệ hônnhân (vợ, chồng) hoặc quan hệ tình cảm, xã hội thân thiết khác (ông, bà,cha nuôi, mẹ nuôi, người yêu…) với người bị hại mà người phạm tội dựđịnh đưa ra yêu cầu trao đổi bằng tài sản để chiếm đoạt
b) Gây áp lực đòi người bị hại giao tài sản để đổi lấy người bị bắt giữ.Được hiểu là sau khi thực hiện xong hành vi bắt cóc con tin thì ngườiphạm tội thực hiện việc gây sức ép về mặt tinh thần đối với người bị hạibằng việc đe dọa gây tổn hại đến tính mạng, sức khỏe của con tin…nhằm buộc người bị hại phải giao một số tài sản để đối lấy sự án toàn vềtính mạng, sức khỏe, kể cả nhân phẩm, tự do của người bị bắt cóc vớicác hình thức như: Nhờ người khác thông báo, thông báo qua điện thoại,viết thư,…
Thời điểm tội phạm hoàn thành được tính kể từ lúc người phạm tội cóhành vi bắt cóc người khác làm con tin (với mục đích để chiếm đoạt tàisản) để đòi chuộc bằng tài sản
Trang 122.3 Mặt chủ quan
Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý Mục đích nhằmchiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tộinày
đ) Khung năm (khoản 5).
Có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (áp dụng đối với người chuẩn bịphạm tội)
4 Hình phạt bổ sung
Ngoài việc bị áp dụng một trong các hình phạt chính nêu trên, tùy từngtrường hợp cụ thể người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản
5 Một số vấn đề cần chú ý:
Trang 13 Mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc, vì vậy nếu bắt cóc màkhông nhằm mục đích chiếm đoạt mà nhằm mục đích khác thì tùytừng trường hợp cụ thể mà người thực hiện hành vi bắt cóc có thể bịtruy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng như tội bắt, giữ,giam người trái pháp luật.
Mục đích chiếm đoạt tài sản có thể có trước khi thực hiện hành vibắt cóc Nhưng nếu mục đích chiếm đoạt tài sản xuất hiện sau hành
vi bắt cóc thì đó là sự chuyển hóa của tội phạm từ tội bắt, giam, giữngười trái pháp luật sang tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Nếu hành vi bắt cóc nhằm buộc người bắc cóc phải viết giấy nợ tàisản, sau đó thả ra và yêu cầu người bị bắt cóc thực hiện theo đúngcam kết, nếu không thì kiện ra tòa yêu cầu trả nợ như đã cam kết.Hành vi này được xem là thủ đoạn làm cho người bị bắt cóc lâmvào tình trạng không thể kháng cự – trường hợp này cấu thành tộicướp tài sản, chứ không phải tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
Trong quá trình bắc cóc người làm con tin nhằm chiếm đoạt tàisản, người phạm tội đã có hành vi xâm phạm đến danh sự, nhânphẩm, sức khỏe của người bị bắt cóc như làm nhục, gây thươngtích, dâm ô, hiếp dâm… thì tùy vào từng trường hợp cụ thể họ cònphải bị truy cứu TNHS về những tội danh tương ứng trên Riêngtrường hợp bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã có hành vi làm chếtcon tin hoặc cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe củacon tin thì không phạm vào tội danh tương ứng độc lập đã nêu trên,
mà phạm vào Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản với khung tăngnặng
Điều 170 Tội cưỡng đoạt tài sản
1 Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
Trang 14c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
1 Khái niệm
Cưỡng đoạt tài sản được hiểu là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủđoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản củahọ
2 Các yếu tố cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản tại Bộ luật hình sự 2015
2.1 Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Có hành vi đe dọa dùng vũ lực Được hiểu là hành vi của người phạmtội đe dọa thực hiện một hành động (hay đe dọa sẽ dùng sức mạnh vậtchất) để gây thiệt hại cho người bị hại Mục đích của việc đe dọa này làlàm cho người bị hại sợ và giao tài sản cho người phạm tội chiếm đoạttheo đòi hỏi mà người phạm tội đưa ra gắn liền với hành vi đe dọa nêntrên
Khác với hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tội cướp tài sản, việc đedọa này không mang tính chất mãnh liệt và tức thời, người bị hại (ngườichủ tài sản hoặc người quản lý tài sản) hoàn toàn có điều kiện chuẩn bị
Trang 15đối phó và chưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của họ, mà chỉ thểhiện ở chỗ làm cho họ lo sợ ở mức độ nhất định, đồng thời họ vẫn cóthời gian để lựa chọn giữa việc kháng cực hay chấp nhận giao tài sản(đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tội cướp tài sản với tội này) Việc đedọa được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
Đe dọa trực tiếp: Người phạm tội thực hiện đe dọa bằng lời nói, cửchỉ, hành động… công khai, trực tiếp với người bị hại
Đe dọa gián tiếp: Người phạm tội thực hiện việc đe dọa thông quacác thình thức như: nhắn tin, điện thoại, thư… mà không gặp người
Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được tính từ lúc người phạmtội thực hiện xong hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uyhiếp tinh thần người khác kèm theo đòi hỏi về giao tài sản để (với mụcđích) chiếm đoạt Nếu chỉ thuần túy đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùngthủ đoạn uy hiếp tinh thần mà không có hay không gắn liền với yêu cầu
về tài sản để chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm này
Nếu người phạm tội mới có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện,
kế hoặc… để doe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác nhằmchiếm đoạt tài sản nhưng chưa thực hiện được thì vẫn bị truycứu trách nhiệm hình sự về tội này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Hành vi phạm tội đối với bị hại được thực hiện công khai Côngkhai là công khai về hành vi phạm tội chứ không phải công khai bản
Trang 16thân người phạm tội Vì thực tiễn cũng có trường hợp người phạmtội không lộ mặt với bị hại mà chỉ thông qua điện thoại, emaill… đedọa sẽ dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản.
Về nguyên tắc mục đích chiếm đoạt tài san phải có trước hành vi đe dọadùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần khác Nhưng cũng cótrường hợp chuyển hóa tội phạm, có nghĩa là người phạm tội đã thựchiện một tội phạm khác nhưng sau đó lại xuất hiện mục đích chiếm đoạttài sản
Ví dụ: A viết đơn vu khống B với mục đích trả thù, nhưng sau đó lại nảysinh mục đích chiếm đoạt tài sản của B bằng cách tổng tiền B, nếukhông đưa tiền sẽ đưa tin bịa đặt lên báo, lên mạng Internet Đây làtrường hợp chuyển hóa tội phạm thành tội cưỡng đoạt tài sản
2.4 Chủ thể
Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản là bất kỳ người nào có năng lực tráchnhiệm hình sự
3 Về hình phạt của tội cưỡng đoạt tài sản
Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 04 khung, cụ thể nhưsau:
a) Khung một (khoản 1).
Có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm
Trang 17b) Khung hai (khoản 2).
Trang 18Điều 172 Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
1 Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; b) Hành hung để tẩu thoát;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ;
đ) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại một trong các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Trang 195 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
Công nhiên chiếm đoạt tài sản là gì?
Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai lấy tài sản trước sựchứng kiến của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài màkhông dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạnnào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản Thông thườngngười phạm tội lợi dụng sự vướng mắc của người quản lý tài sản để lấytài sản trước mắt họ mà không làm gì được
Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạmtội ngang nhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản mà họ khônglàm gì được (không có biện pháp nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạtcủa người phạm tội hoặc nếu có thì biện pháp đó cũng không đem lạihiệu quả, tài sản vẫn bị người phạm tội lấy đi một cách công khai)
Tính chất công khai, trắng trợn của hành vi công nhiên chiếm đoạt tàisản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu diếm hành vi phạm tội củamình, trước, trong hoặc ngay sau khi bị mất tài sản người bị hại biếtngay người lấy tài sản của mình (biết mà không thể giữ được)
Các yếu tố cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm
– Khách thể của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như tội
có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội công nhiên chiếm đoạt tài sảnkhông xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ
Trang 20sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này này đượcthể hiện trong cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản nhà làm luậtkhông quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khunghình phạt Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạmtội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặcgây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳtừng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu tráchnhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gâytổn hại cho sức khỏe của người khác.
Mặt khách quan của tội phạm
– Hành vi phạm tội: Do đặc điểm riêng của tội công nhiên chiếm đoạt tàisản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là
“chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạnlợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnhkhách quan khác như: thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh… Mặc dù, tộicông nhiên chiếm đoạt tài sản là tội phạm chưa dược các nhà khoa họcnghiên cứu nhiều, nhưng qua thực tiễn xét xử chúng ta có thể thấy một
số trường hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản sau:
– Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản
để công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ
– Người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hoảhoạn, bị tai nạn, đang có chiến sự để chiếm đoạt tài sản Những hoàncảnh cụ thể này không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnhkhách quan làm cho họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sảncủa mình, nhìn thấy người phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được.Tính chất công khai trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan,nhưng lại là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiênchiếm đoạt tài sản Đây là dấu hiệu chủ yếu để phân biệt tội công nhiênchiếm đoạt tài sản với tội trộm cắp tài sản, nếu chiếm đoạt tài sản mộtcách lén lút mà người quản lý tài sản không biết là hành vi trộm cắp.Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu
Trang 21hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên đối với mọi người xungquanh Tuy nhiên, đối với người xung quanh, người phạm tội có thể cónhững thủ đoạn gian dối, lén lút để tiếp cận tài sản, nhưng khi chiếmđoạt người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.
– Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Hậu quả của tội công nhiên chiếmđoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếmđoạt
Khoản 1 của điều luật quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới2.000.000 đồng thì phải kèm theo điều kiện gây ảnh hưởng xấu tới anninh, trật tự xã hội, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạthoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích màcòn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hộihoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đìnhhọ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinhthần đối với người bị hại Lúc này mớicấu thành tội công nhiên chiếmđoạt tài sản, nhưng không vì thế mà cho rằng, phải có thiệt hại về tài sản(người phạm tội chiếm đoạt được tài sản) thì mới cấu thành tội phạm.Đối với những trường hợp người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản
có giá trị lớn hoặc rất lớn như ôtô, xe máy, máy tính xách tay, đồng hồđắt tiền hoặc tài sản khác có giá trị hàng chục triệu đồng trở lên, thì dùngười phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản vẫn bị coi là phạm tội côngnhiên chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, là phạm tội trong trường hợp phạmtội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụthể
Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội thực hiện hành vi này với lỗi cố ý
Điều 173 Tội trộm cắp tài sản
1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữđến 03 năm hoặc phạt
tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Trang 22a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Tài sản là bảo vật quốc gia;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
1 Khái niệm
Trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút, bí mật chuyển dịch một cách
trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.
2 Các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản tại Bộ luật hình sự 2015
2.1 Mặt khách quan:
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Về hành vi Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác Được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình Trên thực tế, hành vi này làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản không
Trang 23thể thực hiện được các quyền năng (gồm quyền chiếm hữu , sử dụng, định đoạt hay quản lý) đối với tài sản của họ hoặc được giao quản lý, đồng thời những quyền này lại thuộc về người phạm tội và người này có thể thực hiện được các quyền này một cách trái pháp luật.
Ví dụ: Tên trộm đã lấy trộm một chiếc tivi mang về nhà sử dụng, sau đó bán đi.
Đặc trưng của hành vi chiếm đoạt được thực hiện (hành động) một cách lén lút, bí mật Việc lén lút, bí mật là nhằm để che giấu hành vi phạm tội để chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết việc chiếm đoạt đó.
Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản với các tội có tính chiếm đoạt khác (như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản , cướp tài sản …)
Việc che giấu hành vi phạm tội có thể được thực hiện bằng những hình thức khác nhau, cụ thể là:
Che giấu toàn bộ hành vi: Trường hợp này, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết được bất cứ thông tin nào về người phạm tội cũng như hành vi phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đêm tối, lẻn vào nhà người khác lấy trộm tài sản).
Che giấu một phần hành vi: Tức chỉ che giấu riêng hành vi phạm tội (ví dụ:
Kẻ phạm tội giả vờ vào hỏi chủ nhà xin nước uống, giả vờ hỏi thăm đường đi… và nhanh tay trộm tài sản giấu vào người) Trong trường hợp này chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản biết rõ người phạm tội nhưng không biết hành
vi phạm tội.
Che giấu tính chất của hành vi phạm tội: Được hiểu là hành vi phạm tội được diễn ra công khai nhưng không ai biết việc phạm tội (ví dụ: Lợi dụng đám cưới đông người, người giữ xe tưởng là bạn bè của cô dâu, chú rể nên để cho kẻ phạm tội tự do dắt xe khỏi nơi giữ do mình quản lý).
b) Dấu hiệu khác.
Về giá trị tài sản chiếm đoạt:
Giá trị tài sản chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu giá trị tài sản dưới hai triệu đồng thì phải thuộc một trong các trường hợp:
o Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.
o Đã bị kết án về tội này hoặc một trong số các tội quy định tại Điều
168, 169, 170, 171, 172, 174, 175, 290 nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì ngưòi thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự
o Gây ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Trang 24o Tài sản là phương tiện kiếm của chính của người bị hại và gia đình họ (Ví dụ: Gia đình chỉ có một chiếc xe gắn máy duy nhất dùng để hành nghề xe ôm tạo thu nhập cho cả gia đình).
Ví dụ 1: Để chuyển dịch quyền sử dụng một người đã phải giả giấy tờ mua bán
có công chứng để chuyển dịch quyền sử dụng đất của người khác thành của mình tức sang tên của mình Trong trường hợp này hành vi nêu trên cấu thành tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức.
Ví dụ 2: Một người không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bằng giấy tay) cho một ngưòi khác bằng thủ đoạn là nói với người mua rằng đất này là do mình là chủ sử dụng để người mua giao tiền Tuy nhiên thực chất thì chủ sử dụng đất là người đứng tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất Trong trường hợp này hành vi nêu trên cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Trong thực tiễn (qua thông tin từ báo, đài, Tạp chí Toà án được biết) các cơ quan pháp luật còn truy tố và xét xử hành vi “Trộm cước viễn thông” với tội danh là trộm cắp tài sản.
Theo quan điểm của chúng tôi việc truy tố, xét xử “hành vi trộm cước viễn thông” như nêu trên là không có căn cứ nếu xét trên hai phương diện sau:
Thứ nhất: Cước viễn thông – (tức tiền cước) được xem là tài sản vì đây
là lợi tức (nếu đã thu được tiền cước) của tài sản là các máy móc, thiết bị về viễn thông mà đơn vị khai thác kinh doanh thu được Vì vậy nếu hành vi trộm cắp mà đối tượng bị chiếm đoạt là số tiền đã thu được của các đơn vị cung cấp dịch vụ thì chủ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài
Trang 25sản, còn việc sử dụng lén lút của đường truyền (gồm vô tuyến, hữu tuyến) mà không trả tiền cho đơn vị khai thác (tức nhà cung cấp là các công ty viễn thông), kinh doanh chỉ có thể là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nếu là nợ tiền cước hoặc là hành vi sử dụng trái phép tài sản nếu là lén lút sử dụng không trả tiền chứ không phải là hành vi trộm cắp tài sản.
Thứ hai: Trường hợp sử dụng lén lút đường truyền là sóng (tần số) vô tuyến
để khai thác kinh doanh thu lợi bất chính thì cũng không phải là hành vi trộm cắp tài sản Theo chúng tôi hành vi trên cấu thành một trong hai tội là tội sử dụng trái phép tài sản của người khác hoặc tội kinh doanh trái phép là hợp lý hơn cả.
Thứ ba: Sóng vô tuyến (tần số vô tuyến) không phải là tài sản, cũng không
được xem là quyền tài sản nếu xét theo khái niệm được quy định trong
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm Được áp dụng đối vối một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
Có tổ chức (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản ).
Có tính chất chuyên nghiệp (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).
Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
Trang 26 Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm Được hiểu là các thủ đoạn tinh vi rất khó phát hiện (như bố trí trộm cắp xe gắn máy tại bãi giữ xe) và các thủ đoạn mang tính nguy hiểm gây thiệt hại thêm cho chủ sở hữu (như dỡ mái nhà để trèo vào trộm cắp…)
Hành hung để tẩu thoát (xem giải thích tương tự ở tội cướp giật tài sản ).
Tài sản là bảo vật quốc gia;
Tái phạm nguy hiểm (xem giải thích tương tự ở tội cướp tài sản).
c) Khung ba (khoản 3).
Có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm Được áp dụng đối vói một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
d) Khung bốn (khoản 4).
Có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm Được áp dụng đối với một trong các trường hợp phạm tội sau:
Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
4 Hình phạt bổ sung
Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính nêu trên, tuỳ từng trường hợp
cụ thể, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng.
Ví dụ: A giả làm người bị bệnh để B thương tình đưa vào nhà của B nghỉ.
Trong lúc cả gia đình B lo làm việc, A lén lút lấy trộm tiền và xe mô tô của B
bỏ trốn Hành vi của A cấu thành tội trộm cắp tài sản chứ không phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Thủ đoạn đặc trưng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là không cần che giấu hành vi và thực hiện công khai hành vi chiếm đoạt Nhiều người nhìn thấy và không nghi ngờ gì về hành vi chiếm đoạt tài sản Trường hợp người phạm tội lợi dụng không có ai trực tiếp quản lý tài sản, giả làm ngưòi có