thảo luận luật thương mại quốc tế chương 1 I. VỀ TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI 1. Mục đích chính của tự do hóa thương mại là gì? Mục đích chính của tự do hóa thương mại là đảm cho các hoạt động thương mại xuyên biên giới sẽ không bị hạn chế bởi các hàng rào thương mại Tự do hóa thương mại nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu của mỗi nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa và dịch vụ nước ngoài dễ dàng xâm nhập vào. Lợi ích lớn nhất của tự do hóa thương mại là thúc đẩy trao đổi, buôn bán, phát huy lợi thế so sánh của các nước, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Đối với người tiêu dùng (bao gồm cả những nhà nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hóa), tự do hóa thương mại sẽ tạo cho họ cơ hội lựa chọn hàng hóa tốt hơn với giá hợp lý hơn.
Trang 1I VỀ TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI
1 Mục đích chính của tự do hóa thương mại là gì?
Mục đích chính của tự do hóa thương mại là đảm cho các hoạt động thương mại xuyên biên giới sẽ không bị hạn chế bởi các hàng rào thương mại
Tự do hóa thương mại nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu của mỗi nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa và dịch vụ nước ngoài dễ dàng xâm nhập vào
Lợi ích lớn nhất của tự do hóa thương mại là thúc đẩy trao đổi, buôn bán, phát huy lợi thế so sánh của các nước, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
Đối với người tiêu dùng (bao gồm cả những nhà nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất
ra hàng hóa), tự do hóa thương mại sẽ tạo cho họ cơ hội lựa chọn hàng hóa tốt hơn với giá hợp lý hơn
2 Nếu tự do hóa thương mại thực sự thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và có lợi cho người tiêu dùng thì nên chăng việc tự do hóa này nên được tiến hành triệt để?
Không nên được tiến hành triệt để tự do hóa thương mại vì 03 lý do sau:
Đầu tiên, tự do hóa thương mại có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến một số doanh nghiệp trong một quốc gia vì các sản phẩm nhập khẩu làm tăng sự cạnh tranh từ các nhà sản xuất nước ngoài, và có thể dẫn đến việc các ngành công nghiệp đó nhận được ít hỗ trợ của địa phương hơn
Thứ hai tự do hóa Thương mại cũng có thể có rủi ro tài chính và rủi ro xã hội lớn hơn nếu các mặt hàng hoặc nguyên liệu thô đến từ các quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn
Cuối cùng, tự do hóa thương mại có thể là mối đe dọa đối với các quốc gia hoặc nền kinh tế đang phát triển vì họ buộc phải cạnh tranh trong cùng thị trường với các nền kinh
tế hoặc quốc gia đã phát triển Thách thức này có thể kìm hãm sự đa dạng của ngành công nghiệp địa phương hoặc dẫn đến sự thất bại của các ngành công nghiệp mới phát triển
3 Nêu những lợi ích và khó khăn mà quốc gia phải đối mặt khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa?
Những lợi ích mà quốc gia phải đối mặt khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa:
- Khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế
- Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới
- Có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có quan hệ với các cường quốc thương mại chính
- Có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới… của nước ngoài
Trang 2- Nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nước
- Tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm trong nước và thúc đẩy thương mại phát triển
Những khó khăn mà quốc gia phải đối mặt khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa:
- Cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn, gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của Nhà nước, những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và công nghệ yếu kém
- Hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội
- Thể chế kinh tế nước ta đang còn quá phức tạp, rườm rà khiến các nhà đầu tư e ngại khi đầu tư vào Việt Nam
- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân chưa đủ mạnh đễ quản lý nền kinh tế
- Hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự hợp tác về an ninh và văn hóa Đồng thời, việc mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, bên cạnh nhiều mặt tốt, những cái xấu cũng du nhập vào gây ảnh hưởng không tốt đến truyền thống văn hóa Việt Nam
4 Tại sao trong khi hầu hết các nhà kinh tế học đều coi tự do hóa thương mại sẽ đem lại những lợi ích cho các quốc gia (kể cả các quốc gia nghèo và kém phát triển), thì chính phủ của nhiều quốc gia vẫn có xu hướng áp đặt các biện pháp hạn chế thương mại?
Bởi vì tự do hóa thương mại bên cạnh những lợi ích làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì vẫn có những tác động tiêu cực như:
Đầu tiên, tự do hóa thương mại có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến một số doanh nghiệp trong một quốc gia vì các sản phẩm nhập khẩu làm tăng sự cạnh tranh từ các nhà sản xuất nước ngoài, và có thể dẫn đến việc các ngành công nghiệp đó nhận được ít hỗ trợ của địa phương hơn
Thứ hai tự do hóa Thương mại cũng có thể có rủi ro tài chính và rủi ro xã hội lớn hơn nếu các mặt hàng hoặc nguyên liệu thô đến từ các quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn
Cuối cùng, tự do hóa thương mại có thể là mối đe dọa đối với các quốc gia hoặc nền kinh tế đang phát triển vì họ buộc phải cạnh tranh trong cùng thị trường với các nền kinh
tế hoặc quốc gia đã phát triển Thách thức này có thể kìm hãm sự đa dạng của ngành công nghiệp địa phương hoặc dẫn đến sự thất bại của các ngành công nghiệp mới phát triển
5 Tại sao lại có các quan điểm ủng hộ và phản đối tự do hóa thương mại?
Trang 3Tự do hóa thương mại là loại bỏ hoặc giảm bớt các hạn chế hoặc rào cản đối với
trao đổi hàng hóa tự do giữa các quốc gia Xuất hiện các quan điểm ủng hộ và phản đối tự
do hóa thương mại sẽ chủ yếu dựa vào ưu thế và những hạn chế của việc áp dụng tự do hóa thương mại vào quốc gia
* Một số người ủng hộ tự do hóa thương mại vì họ thấy được ưu điểm của nó nhiều hơn:
- Tự do hóa thương mại thúc đẩy thương mại tự do Thương mại tự do cho phép các quốc gia giao dịch hàng hóa mà không có rào cản pháp lí hoặc chi phí liên quan Qui định giảm thiểu này làm giảm chi phí khi các quốc gia giao dịch với các quốc gia khác và cuối cùng, có thể dẫn đến chi phí tiêu dùng thấp hơn vì hàng nhập khẩu chịu phí thấp hơn và tăng cạnh tranh
- Sự gia tăng cạnh tranh từ nước ngoài bởi tự do hóa thương mại đã tạo động lực cho các doanh nghiệp trong nước đạt hiệu quả cao hơn và sản xuất với chi phí rẻ hơn Sự cạnh tranh này cũng có thể thúc đẩy một quốc gia chuyển các nguồn lực sang các ngành
mà họ có thể có lợi thế cạnh tranh
- Những người ủng hộ tự do hóa thương mại cho rằng, cuối cùng nó sẽ làm giảm chi phí tiêu dùng, tăng hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong khi chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, trái ngược với tự do hóa thương mại, lại được biết đến với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt và điều tiết thị trường Kết quả của tự do hóa thương mại và hội nhập giữa các quốc gia được gọi là toàn cầu hóa
Ví dụ, tự do hóa thương mại gần đây đã khuyến khích nước Anh tập trung vào lĩnh vực dịch vụ hơn là sản xuất
* Các nhà phản đối tự do hóa thương mại vì:
- Chính sách này có thể gây mất việc làm vì hàng hóa rẻ hơn ngập tràn thị trường nội địa Họ cũng cho rằng hàng hóa có thể kém chất lượng và kém an toàn hơn các sản phẩm trong nước, do có thể đã trải qua các cuộc kiểm tra mức độ an toàn và chất lượng khác nhau
-Tự do hóa thương mại có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến một số doanh nghiệp trong một quốc gia vì các sản phẩm nhập khẩu làm tăng sự cạnh tranh từ các nhà sản xuất
Trang 4nước ngoài, và có thể dẫn đến việc các ngành công nghiệp đó nhận được ít hỗ trợ của địa phương hơn
- Cũng có thể có rủi ro tài chính và rủi ro xã hội lớn hơn nếu các mặt hàng hoặc nguyên liệu thô đến từ các quốc gia có tiêu chuẩn môi trường thấp hơn
- Tự do hóa thương mại có thể là mối đe dọa đối với các quốc gia hoặc nền kinh tế đang phát triển vì họ buộc phải cạnh tranh trong cùng thị trường với các nền kinh tế hoặc quốc gia đã phát triển Thách thức này có thể kìm hãm sự đa dạng của ngành công nghiệp địa phương hoặc dẫn đến sự thất bại của các ngành công nghiệp mới phát triển
Trang 5II VỀ LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
6 Trình bày các hình thức hợp tác thương mại hiện nay (hợp tác song phương, hợp tác khu vực, hợp tác đa phương) và cho dẫn chứng các liên kết thương mại này trong thực tiễn thương mại thế giới Liên hệ với trường hợp của Việt Nam.
Các hình thức hợp tác thương mại hiện nay:
* Hợp tác song phương:
Hợp tác thương mại song phương là việc hợp tác thương mại giữa hai quốc gia, trong đó nêu ra những điều kiện để tiến hành các hoạt động thương mại
Hợp tác thương mại song phương là Điều ước quốc tế được ký kết giữa hai quốc gia, chủ thể của luật quốc tế, dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau nhằm thiết lập và phát triển quan hệ kinh tế thương mại giữa các bên, đồng thời ấn định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ kinh tế thương mại và việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Ví dụ: Các hiệp định kinh tế, như hiệp định thương mại tự do (FTA) hoặc đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), được ký kết bởi hai quốc gia
Vào tháng 3 năm 2016, chính phủ Mỹ và chính phủ Peru đã đạt được thỏa thuận thương mại song phương xóa bỏ rào cản đối với xuất khẩu thịt bò của Mỹ sang Peru có hiệu lực từ năm 2003
- Liên hệ trường hợp với Việt Nam:
Hiệp định EVFTA và IPA
Hiệp định EVFTA và IPA được khởi động và kết thúc đàm phán trong bối cảnh quan hệ song phương Việt Nam-EU ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế-thương mại EU hiện đang là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch hai chiều năm 2019 đạt 56,45 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 41,5 tỷ USD, nhập khẩu từ EU đạt 14,9 tỷ USD EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao và đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên
Nếu được đưa vào thực thi, EVFTA sẽ là cú hích rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam, giúp đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các mặt hàng nông,
Trang 6thủy sản cũng như những mặt hàng Việt Nam vốn có nhiều lợi thế cạnh tranh Những cam kết dành đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu
tư và nhà đầu tư của nhau trong Hiệp định IPA cũng sẽ góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường pháp lý và đầu tư minh bạch, từ đó Việt Nam sẽ thu hút nhiều nhà đầu
tư hơn đến từ EU và các nước khác
* Hợp tác khu vực:
Hình thức hợp tác thương mại khu vực là hình thức hợp tác giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế trong cùng một khu vực với nhau về các vấn đề thương mại hàng hóa, dịch
vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thông qua những thỏa thuận quốc tế
Ví dụ: Hợp tác khu vực: ASEAN - Trung Quốc,
* Hợp tác đa phương
Hình thức hợp tác thương mại đa phương là hình thức hợp tác giữa ba hay nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế về các vấn đề thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thông qua những thỏa thuận quốc tế
Hợp tác đa phương: RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực), NAFTA (Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ),
* Liên hệ Việt Nam hợp tác song phương với Phần Lan, Indonesia, Đức, ;
Hợp tác khu vực với ASEAN ;
Hợp tác đa phương với WTO, RCEP,
7 Hoạt động ký kết các hiệp định thương mại giữa các quốc gia có phải là hoạt động thương mại không?
Hoạt động ký kết các hiệp định thương mại giữa các quốc gia không phải là hoạt động thương mại, vì:
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác ( Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005)
Trong khi đó hoạt động ký kết các hiệp định thương mại giữa các quốc gia không
có mục đích sinh lợi mà các bên đang thỏa thuận tìm kiếm những điều kiện thực hiện mục tiêu thương mại quốc tế của mình
Trang 78 Các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương và khu vực có điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ đối với các thương nhân không?
Các hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương và khu vực có điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ đối với các thương nhân khi nó là điều ước điều chỉnh trực tiếp
VD: CƯ Viên 1980 điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua
Ngoài ra, nếu đó là điều ước điều chỉnh gián tiếp thì những điều ước này không điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên mà nó chỉ xác lập các nguyên tắc chung để giải quyết
VD: Hiệp định chống bán phá giá, hiệp định tránh đánh thuế hai lần
9 Nhận định luật thương mại quốc tế là hệ thống các quy định điều chỉnh quyền và nghĩa vụ các bên trong giao dịch thương mại quốc tế là đúng hay sai? Tại sao?
Nhận định sai
Luật TMQT là tổng thể các quy phạm pháp luật, nguyên tắc điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong TMQT, cụ thể là quốc gia, tổ chức quốc tế, thương nhân trong trong các hoạt động TM hàng hóa, TM DV, SHTT mà có yếu tố nước ngoài, bao gồm:
LTMQT công: quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc thực hiện điều ước quốc tế song phương, đa phương về thương mai (cắt giảm thuế quan, phi thuế quan)
LTM QT tư: quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng
10 Điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại có đương nhiên được áp dụng đối với mọi nội dung của các hợp đồng, giao dịch thương mại quốc tế khi các bên trong hợp đồng, giao dịch đó là thương nhân có quốc tịch của nước thành viên điều ước quốc tế đó?
Nhận định sai
Căn cứ Ðiều 6 CISG 1980, các bên trong hợp đồng là thành viên của CISG 1980 thì vẫn
có thể loại bỏ việc áp dụng điều ước này Vì vậy, điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại không đương nhiên được áp dụng đối với mọi nội dung của các hợp đồng, giao dịch thương mại quốc tế khi các bên trong hợp đồng, giao dịch đó là thương nhân có quốc tịch của nước thành viên điều ước quốc tế đó
11 Quan hệ pháp luật thương mại quốc tế khác gì với quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế?
Pháp luật thương mại quốc tế:
Hoạt động thương mại quốc tế chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật và những nguyên tắc pháp lý đặc thù Các quy phạm và nguyên tắc pháp lý này được hình
Trang 8thành trên cơ sở các thỏa thuận giữa các chủ thể cụ thể của các giao dịch thương mại quốc tế, các quy định pháp luật của hệ thống pháp luật quốc gia và các định chế thương mại quốc tế Hệ thống các quy phạm pháp luật và nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các giao dịch và hoạt động thương mại quốc tế hình thành nên Luật thương mại quốc tế
Luật thương mại quốc tế được nghiên cứu ở hai cấp độ: Luật thương mại quốc tế công và Luật thương mại quốc tế tư
Ở góc độ luật công, luật thương mại quốc tế trước hết điều chỉnh các hành vi thương mại của quốc gia, như quan hệ thương mại giữa các quốc gia, quan hệ thương mại giữa quốc gia và các tổ chức quốc tế, hoặc giữa các tổ chức quốc tế với nhau; quyền và nghĩa
vụ của các quốc gia trong quan hệ quốc tế về thương mại, v.v Bên cạnh đó, luật thương mại quốc tế cũng điều chỉnh các chính sách và pháp luật thương mại do quốc gia ban hành nhằm thực hiện các cam kết quốc tế của quốc gia trong các lĩnh vực thương mại Nghiên cứu luật thương mại quốc tế công tức là tìm hiểu về khung pháp lý cho quan hệ thương mại giữa các quốc gia và các vùng lãnh thổ hải quan
Ở góc độ luật tư, luật thương mại quốc tế điều chỉnh các giao dịch thương mại xuyên biên giới giữa các thương nhân nhằm trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các đối tượng khác Ở đây, luật thương mại quốc tế sẽ bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật dân
sự, kinh tế và thương mại trong hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế điều chỉnh các giao dịch thương mại quốc tế của các thương nhân, như xuất nhập khẩu, vận tải, phân phối, bảo hiểm, thanh toán, quản lý ngoại hối, cạnh tranh, v.v Tại cấp độ này luật hợp đồng đóng vai trò trọng tâm trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các thương nhân trong các giao dịch
Hợp đồng thương mại quốc tế:
Hợp đồng thương mại quốc tế hay hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận mua bán hàng hóa mà trong đó có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới hải quan
Như vậy, có thể nói rằng quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế là một phần của
quan hệ pháp luật thương mại quốc tế tư
12 Hãy nêu và phân tích vai trò của các chủ thể trong Luật thương mại quốc
tế
Các chủ thể trong Luật thương mại quốc tế, gồm:
Quốc gia và lãnh thổ hải quan:
Khái quát chung:
Trang 9Trong luật quốc tế và các ngành khoa học chính trị, quốc gia được hiểu là thực thể pháp lý của cộng đồng quốc tế có khả năng đầy đủ để thực hiện các quyền và nghĩa vụ hợp pháp trong quan hệ quốc tế
Luật thương mại quốc tế công nhận lãnh thổ hải quan có năng lực chủ thể như quốc gia nếu nó đáp ứng được những yêu cầu khách quan của một chính quyền đối với hoạt động thương mại quốc tế (được thể hiện thông qua sự độc lập tương đối trong việc thiết lập chính sách thương mại, chế độ hải quan, không nhất thiết phải có khả năng thực hiện quan hệ đối ngoại) trên một khu vực lãnh thổ có dân cư ổn định Lãnh thổ hải quan được quyền tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế, ký kết các điều ước quốc tế về thương mại, tham gia vào các định chế thương mại quốc tế ngang bằng như các quốc gia
có chủ quyền
Vai trò:
Tư cách chủ thể luật thương mại quốc tế của quốc gia được thể hiện trong các trường hợp sau:
* Quốc gia - Tư cách công:
Chủ thể thiết lập khung pháp lý cho hoạt động thương mại quốc tế: Với tư cách là chủ thể cơ bản trong quan hệ quốc tế, quốc gia trực tiếp tham gia xây dựng, ký kết và thực thì các điều ước quốc tế trong lĩnh vực thương mại Hệ thông các điều ước quốc tế này tạo nên khung pháp lý cho hoạt động thương mại quốc tế
* Quốc gia (từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp) - Tư cách tư:
- Chủ thể điều phối hoạt động thương mại quốc tế: Quốc gia có chủ quyền tuyệt đối trong việc thiết lập, duy trì và thay đổi các vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội trong khuôn khổ lãnh thổ của mình, bao gồm cả chính sách, pháp luật thương mại quốc tế và hoạt động ngoại thương Cụ thể quốc gia là chủ thể duy nhất cỏ quyền cấm hoặc hạn chế nhập khẩu/xuất khẩu các hàng hóa, dịch vụ vào/ra khỏi lãnh thổ của mình; quy định các giấy phép cho hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu; thực hiện quản lý hải quan đối với nhập khẩu và xuất khẩu; điều phối hoạt động thuế quan, v.v
- Chủ thể của giao dịch thương mại quốc tế: Quốc gia có thể là chủ thể để trực tiếp trong các giao dịch thương mại quốc tế, bao gồm cả các giao dịch giữa với các quốc gia khác và với các thương nhân của quốc gia khác Trong quan hệ pháp luật quốc tế với các thương nhân (cá nhân hoặc pháp nhân) quốc gia sẽ được hưởng những chế độ pháp lý đặc biệt (ví dụ quyền miễn trừ tư pháp) Để bảo đảm sự bình đẳng trong quan hệ pháp luật, thông thường thương nhân sẽ yêu cầu cơ quan đại diện quốc gia (chính phủ, cơ quan nhà nước, tổ chức trực thuộc chính phủ v.v.) tự từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp khi tham gia vào giao dịch liên quan
Trang 10 Thương nhân:
Khái quát chung:
Thương nhân theo nghĩa thông thường được hiểu là những người trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại Trong luật thương mại, thương nhân bao gồm chủ yếu
là cá nhân, pháp nhân có đủ các điều kiện do pháp luật quốc gia quy định để tham gia vào các hoạt động thương mại và trong một số trường hợp cả chính phủ và các cơ quan, tổ chức của chính phủ (với tư cách là đại diện cho quốc gia) (Khoản 1, Điều 6 LTM 2005) Mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về điều kiện để trở thành thương nhân cho từng đối tượng cụ thể Chẳng hạn đối với cá nhân, những điều kiện hưởng tư cách thương nhân trong pháp luật thương mại quốc gia thường bao gồm điều kiện nhân thân (độ tuổi, năng lực hành vi, điều kiện tư pháp) và nghề nghiệp Đối với pháp nhân, yêu cầu
cơ bản là phải được đăng ký thành lập và hoạt động kinh doanh hợp pháp theo pháp luật của quốc gia nơi đăng ký thành lập Ví dụ: Theo quy định của luật thương mại Việt Nam, thương nhân là cá nhân phải là người hoạt động thương mại một cách độc lập và thường xuyên và có đăng ký kinh doanh, trong khi đó thương nhân là pháp nhân sẽ phải được thành lập hợp pháp và có đăng ký kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm
Vai trò:
Điều 3 NĐ 12/2006/NĐ-CP có quy định thương nhân được xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh trừ hàng hóa thuộc danh mục cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu
Có thể nói, thương nhân là chủ thể chủ yếu tham gia vào các giao dịch thương mại quốc tế, họ tạo ra những tập quán và những quy tắc để điều chỉnh những vấn đề không được điều chỉnh bởi luật thương mại Tư cách chủ thể của thương nhân trong luật thương mại quốc tế hiện nay chỉ giới hạn trong phạm vi các giao dịch thương mại quốc tế tư Trong khuôn khổ luật thương mại quốc tế công - các nguyên tắc, quy phạm của công pháp quốc tế về thương mại - cá nhân và pháp nhân kinh doanh thương mại không được thừa nhận là một chủ thể pháp luật Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hoá địa vị pháp lý của thương nhân trong luật thương mại quốc tế có thể sẽ có những thay đổi nhất định trong tương lai
Tổ chức quốc tế:
Khái quát chung:
Tổ chức quốc tế hay còn gọi là tổ chức liên chính phủ (governmental organization)
là những tổ chức được thành lập bởi các quốc gia dựa trên cơ sở các điều ước quốc tế phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại, với một cơ cấu tổ chức hoàn