Vi vây hết sức cần thiết phải có một khái niệm chung rõ rằng vé họp đồng thuong mại quốc tế, hay nói cách khác là phải có cách xác định tương đối thống nhất tính quốc tế của hợp đồng th
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ
PGS-TS NGUYEN VAN LUYEN
TS LE TH! BICH THO
TS DUGNG ANH SƠN
NHA XUAT BAN
DAI HOC QUOC GIA TP HO CHi MINH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ
wes PGS-TS NGUYEN VAN LUYEN - TS LE THI BiCH THO
TS DUGNG ANH SON
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
TỰ do hoá thương mại là xu thể tất yếu và ngày cảng có sự tác động lon
đến hoại động của các doanh nghiệp Việt Nam đặc biét là trong lĩnh vực ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế Các doanh nghiệp Việt Nam có
duoc su chủ động trong việc ký kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại
quốc tế hay không còn phụ thuộc vào sự hiểu biết, nám bải các quy định của
pháp luật thương mại quốc tế cũng như các lập quản thương mại quốc tế của
tùng doanh nghiệp Thực tiễn cho thấy, sự hiểu biết luật pháp quốc tế của các
doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế
Đế góp phần nâng cao sự hiểu biết về pháp luật thương mại quốc tế
trong lĩnh vực ký kết và thực hiện hợp đồng, chúng tôi biên soạn cuốn "Luật họp đồng thương mại quốc tế" Cuốn sách được biên soạn dựa trên cơ số
cuốn "Họp đồng thuong mại quốc tế" có những sửa đối bổ sung đáng kể Để
biện soạn cuốn sách này chúng tôi đầ sự dụng nhiều tài liệu được xuấi bản ở
cac quỏc gia khác nhau Đặc biệt trong cuốn sách này chúng lôi có sự phân tích, so sanh các quy định pháp luật của các nước khác nhau trong flinh vuc
hợp đồng
Cuốn sách duoc chia thanh hai phan
Phần thủ nhất: Những vấn đẻ chung của hợp đồng thương mại quốc
tẻ (lù chương ï đến chương 9) Trong phần này chúng tôi đẻ cập đến những vấn để chung của hợp đồng thương mại quốc tế như: khải nhiệm, ký kết thục hiện giải quyết tranh chấp
Phân thủ hai: Các hợp đồng thương mại quốc tế thông dụng (ti chuong 6 đến chuong 10) Trong phần này chúng tôi phân tích, so sánh các quy địch của pháp luật của các nuốc khác nhau về một số hợp đồng được sử dụng phổ biến trong thương mại quốc tế
Tham gia biên soạn cuốn sách có các tác gia:
- PGS-TS Nguyén Van Luyén Chuong 5
- TS Duong Anh Son Chương 1, 2 3, 6 7, 8.9, 10
- TS Lé Thi Bich Tho Chuong 4
Trang 4Cuốn sách có thể được sự dụng với tư cách là tài liệu tham khảo cho
sinh viên khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hợp đồng thương mại, có thể được sử dụng với tư cách là giáo trình của môn học Luật hợp đồng thương
mại quốc lễ Ngoài ra cuốn sách còn có thể có ích cho các doanh nghiệp, các chuyên gia trong lĩnh thương mại quốc tế
Mặc dù đã hết sức cố gắng tuy nhiên cuốn sách không thể không tránh khỏi những hạn chế Chúng lôi rất mong nhận được sự đóng góp chân tình của
người đọc, đắc biệt là của các đồng nghiệp để cuốn sách có chất lượng hơn về
mat khoa học, thiết thực hơn cho thực tiễn
Tập thể tác giả
Trang 51.1 Khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế
Tự do hoá thương mai trở thành xu thế của thời đại, mục đích của nó là
pha bd moi rao can để hoạt động thương mại giữa các quốc gia được thuận lợi
hơn Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện trong nhiều [lĩnh vực khác
nhau như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực đầu tư Hoạt động này đòi hỏi phải sử dựng các công cụ pháp lý điều chỉnh khác nhau, đó là những hợp
đồng thương mại quốc tế: Hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng cung cấp
các loại dịch vụ, các loại hợp đồng liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, hợp
đồng vận chuyển hàng hoá
Khi hệ thống hóa các văn bản pháp lý về thương mại quốc tế, các tổ chức thương mại quốc tế thưởng chú ý đến việc hệ thống hỏa các văn bản pháp lý
trong lĩnh vục mua bán hàng hóa quốc tế vì vai trò quan trọng của nó Có một
thông lệ chung, theo đó nhiều khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng được sử dụng trong các loại hợp đồng thương mại quốc tế khác Cụ thể là khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế cũng được sử dụng để xây dựng khái niệm các loại hợp đồng thương
mại quốc tế khác Không những thế, các văn bản pháp lý mang tính quốc tế điều chỉnh các loại hợp đồng thương mại quốc tế khác nhau cũng được xây dựng trên cơ sở các văn bản điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Các loại hợp đồng thương mại quốc tế khác nhau có nội dung không giống nhau Theo nguyên tắc, hợp đồng thương mại quốc tế có nội dung
tương tự với hợp đồng thương mại nội địa cùng loại Ví dụ, hợp đồng thuê tài
chính quốc tế có nội dung tương tự với nội dung của hợp đồng thuê tải chính
trong nước; hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có nội dung tương tự hợp
đồng mua bán hàng hỏa theo quy định của Luật Thương mại hay Bộ luật Dân
sự Mặc dù có nội dung khác nhau nhưng tất cả các hợp đồng thương mại
5
Trang 6quốc tế đều có một dấu hiệu chung - dấu hiệu quốc tế, hay nói cách khác là
hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài
Co thế nói rằng, Việc làm rõ khái niệm "hợp đồng thương mại quốc tế" có
ÿ nghĩa pháp lý vả thực tiễn hết sức quan trọng bởi nó gắn liền với việc xác
định luật nào đuợc áp dụng để điều chỉnh quan hệ của các bên trong hợp
đông Nếu hợp đồng là hợp đồng thương mại thông thường (hợp đồng nội địa)
thí sẽ được pháp luật trong nước điều chỉnh Nếu là hợp đồng thương mại
quốc tế thi nó sẽ được điều chỉnh bằng pháp luât thương mại quốc tế: có thé
là pháp luật của các quốc gia khác nhau, các điều ước quốc tế liên quan vả trong nhiều truởng họp liên quan đến cả tập quán thương mại quốc tế, nên cân thiết phải lựa chọn luật nào trong số đó để áp dụng cho hợp đồng Không nhũng thể mà trong một số irường hợp còn cho phép xác định được pháp luật của quốc gia nào được sử dụng để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên
trong hợp đồng) Vi vây hết sức cần thiết phải có một khái niệm chung rõ rằng
vé họp đồng thuong mại quốc tế, hay nói cách khác là phải có cách xác định
tương đối thống nhất tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế,
Trong một số giáo trình Tư pháp quốc tế vả Luật Thương mại quốc tế
cũng như trong một số bài viết được đăng trong các tạp chí khoa học pháp lý được xuất bản ở Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất về hợp đồng thương mại quốc tế hay nói chính xác hơn là chưa có một cách xác định thống nhất tính quốc tế của hợp đồng thương mai quốc tế mà chỉ nêu lên một sé khải niệm hay một số cách xác định yếu tế quốc tế của loại hợp đồng này”, Một trong những cách xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế là dụa trên dấu hiệu quốc tịch của thương nhân Ví dụ theo quy định
của Điểm 1 Khoản 1 Điều B1 Luật Thương mại Việt Nam 1997, hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là thuơng nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài Chủ thể bên nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là thương nhân và tư cách pháp lý của họ được xác định căn cứ theo pháp tuät của nước mà thương nhân đó mang quốc tịch Qua khái niệm trên
có thể thấy rằng, quy định này của Luật Thương mại 1997 xác định tính quốc
ố 6/2004
~NXB Bai hee Quée gia Ha Noi, nim 2000, tr
199-200; Giáo trình Tự pháp quốc tế, NXB Cony an Nhan dân, Hà Nội, 2001, Tr 141-142, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế Trường Đại học Kinh tế Quốc dan, 1999, tr 69-102
* Luat Thương mại Việt Nam 2005 không có quy định liên quan đến việc xác
định tính quốc tế của hựp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
§
Trang 7tế của Hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch “ của thương nhân
Tuy nhiên, trong thực tế việc xác định hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên cơ sở dấu hiệu quốc tích của thương nhân, theo cách nhìn nhận của
chúng tôi, sẽ gặp một số trở ngại sau:
Thử nhất, trong Luật Quốc tịch của nước ta không có một điều nào nói về
“quéc tịch của pháp nhân”, Mặt khác, trên thế giới không có pháp luật của
nước nào quy định quốc tịch của pháp nhân mà chỉ quy định pháp nhân thuộc
quốc gia nào hay nói cách khác là "Tính quốc gia” của pháp nhân `
Thủ hai trong hoạt động thương mại quốc tế, vấn để xác định "tính quốc gia" (quốc tịch - nếu theo cách sử dụng thông thưởng trong khoa học pháp lý Việt Nam) của pháp nhân, tức là xác đình pháp nhân thuộc chủ thể của quốc
gia nào là một vấn đề hết sức phức tạp, bởi vì pháp luật quốc gia của hầu hết
các nước trên thể giới có các quy định khác nhau đối với chủ thể của các
quốc gia khác nhau như đối với mức thuế nhập khẩu Ngoài ra, quy định về
“tinh quốc gia" của pháp nhân được coi là một mắt xích quan trọng của các quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế, những quy phạm xung đột này chỉ
rõ luật áp dụng để đánh giá năng lực pháp luật của pháp nhân Có ba cách
xác định "tính quốc gia" của pháp nhân:
1- Thuyết nơi đăng ký (Anh, Koa Kỳ, các quốc gia thuộc Liên Xô cũ), theo cách này "tính quốc gia” được xác định theo nơi đăng ký của pháp nhân
2- Thuyết địa điểm thường trủ của pháp nhân, theo cách này, "tính quốc
gia" của pháp nhân được xác định theo địa chỉ thưởng trú của pháp nhân - thường là nơi thường trú của cơ quan điều hành Địa chỉ thưởng trú của pháp
' Một số tác giá khác cho rằng, quy định của Điều 81 Luật thương mại 1997 phù hợp với quy định của Điều 1 Công ước Viên 1980 về hợp đông mua bán hàng hoá
quốc lế Xem: Phạm Duy Nghĩa, Luật hình tế, NXH Đại học Quốc gia Hà Nội
2003 tr 467
® Một vấn để phức tạp được đặt ra khi xác định tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc tịch của thương nhân là việc xác định quốc tịch của pháp nhân Có thế áp dụng chế định quốc tịch cho pháp nhân hay
không? Trong Luật Quốc tịch của Việt Nam không có quy định nào về quốc tịch
của pháp nhân Trong tiếng Anh thuật ngữ “natienality” có nghĩa là q tịch khi nói đến mối quan hệ của công dân với quốc gia của mình và khí nói đến việc
tàu biển mang cờ của quốc gia nào thì có quốc tịch của quốc gia đó Tiếng nga sử
dụng thuật ngữ “gjujđanstvo” để chỉ quốc tịch, còn thuật ngữ "nasionanost” được
sử dụng để chỉ mãi liên hệ giữa pháp nhân với nhà nước
Trang 8
nhân không phải là ndì mà pháp nhân đăng ký thành lập mà là nơi có cơ quan
quản !ý thực tế của pháp nhân
3- Cách thứ ba gọi là “thuyết giám sát", theo cách này, "tính quốc gia” của pháp nhân được xác định dựa trên cơ sở vốn của chủ thể thuộc quốc gia nào
ảnh hưởng đến việc giám sát hoạt động của pháp nhân ©
Như vậy, cỏ thể thấy rằng việc xác định tính quốc tế của Hợp đồng
thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu quốc Tịch trên thực tế là việc hoàn toàn không dễ dang va trong một số trưởng hợp sẽ gây khó khăn trong việc xác định luật áp dựng cho hợp đồng Ví dụ, công ty A được đăng ký thành lập trên
lãnh thổ của Pháp nhưng lại có hoạt động thương mại thưởng xuyên trên lãnh
thổ của Anh, như vậy theo pháp luật Pháp, công ty A có “Quốc tịch” của Anh, còn theo Pháp luật của Anh thi công ty A lại có “Quốc tịch” của Pháp Công ty
A ký kết hợp đông bán hàng cho một công ty B ở Việt Nam và xuất phát từ quy phạm xung đột, luật áp dụng cho hợp đồng là luật của quốc gia mà người
bán cỏ "quốc tịch” Vậy, trong trường hợp nảy, luật của quốc gia nào sẽ được
áp dụng, luật của Pháp hay luật của Anh, nếu xác định yếu tố quốc tế của Hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu “quốc tịch" của thương nhân
Ro rang, trong trường hợp này chúng ta khó có thể xác định luật áp dụng cho
hợp đồng khi không có sự thoả thuận của các bền về luật áp dụng
Khác với quy định của Luật Thương mại Việt Nam 1997, Pháp luật của
nhiều nước cũng như các văn bản pháp lý của quốc tế điều chỉnh các loại hợp đồng thương mại quốc tế xác định tính quốc tế của Hợp đồng thương mại quốc
tế dựa trên cơ sở dấu hiệu lãnh thổ hay nói chính xác hơn là địa điểm hoại
động thương mại (Place of Business) của thương nhân Khoa học pháp lý cũng như pháp luật của của nhiều nước hiện nay cũng ủng hộ quan điểm này, theo
đỏ Hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng thương mại được ký kết bởi các
bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau ” Lần đầu tiên tiêu chí trụ sở thương mại được sử dụng để xác định hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định trong luật thống nhất về mua bán hàng hỏa quốc tế và luật thống nhất về ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1964 (Công ude La Haye năm 1964)
° Trong đại chiến thế giới lần thứ hai nhiều quốc gia cấm các công ty của mình hợp tác với các công ty cúa quốc gia tha địch Xem: Luật thương mại quốc tế, Minsk, 2000, tr, 73-74
7 Xem: Luns L A Mua bán quốc tế - Những vấn để xung đột, Matxcdva, 1972,
ứ 14; Boguslavsky M M., Tư pháp quốc tế, Matxcơva, 1992, tr 188-195: Dmitrieva G K., Tư pháp quốc tế, Matxeuva, 2000 tr 341-342
Trang 9Theo Điều 1 của Công ước La Haye năm 1964 thì hợp đồng mua ban hang hoa quéc té duoc ky két giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau trong trường hợp nếu có thêm một trong
các điều kiện phụ như sau:
1- Hợp đồng liên quan đến vật mà trong thời gian ký kết hợp đồng vật đó
được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này
đền lãnh thổ của quốc gía khác:
2- Khi mà những hành vi thể hiện sự chảo hàng và chấp nhận chào hàng
được thục hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
3- Khi việc giao hàng phải được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia khác
không phải là nơi thực hiện những hành vị chào hàng hoặc hành vi chấp nhận
chảo hàng,
Như vậy, theo quy định của Công ước La Haye 1964 một hợp đồng được
coi là hợp đồng mua bản hàng hóa quốc tế chỉ khi nó thỏa mãn hai điều kiện
Sau:
Thứ nhất, trụ sở thương mại của các bên ký kết hợp đồng phải nằm trên
lãnh thổ của các quốc gia khác nhau, đây được coi là yếu tố lãnh thổ;
Thứ hai, nó phải thỏa mãn một trong ba yếu tố phụ được nói ở trên
Mặc dù được thông qua và đã có hiệu lực, tuy nhiên Công ước La Haye năm 1964 không được ấp dụng một cách rộng rãi cũng như không gây được
ảnh hưởng đáng kể trong thực tiễn ký kết và thực hiển hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế Theo nhận xét của nhiều chuyên gia pháp lý?, sở dĩ có tình
trạng như vậy pởi vì nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, Công ước La Haye 1964 được soạn thảo bởi đại diện của các quốc gia phát triển phương Tây, không có sự tham gia của đại diện của các quốc gia đang phát triển, cũng như đại diện của các nước Đông Âu vì vậy nhiều quy định của công ước không tính đến quyển lợi của họ;
- Thứ hai, Công ước La Haye năm 1964 có cấu trúc bên trong hết sức
phức tạp, gây nhiều khó khăn trong việc áp dụng;
- Thứ ba, các tiêu chuẩn chủ quan và khách quan được sử dụng khi xác
định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chồng chéo và
không cỏ ý nghĩa thực tế Ví dụ, người bán có địa điểm kinh doanh trên lãnh
thổ của Việt Nam giao hàng cho người mua có địa điểm kinh doanh trên lãnh thổ của Thái Lan theo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, khi hàng hóa đã
—
* Xem: Dmitrievu Q K, sđd, tr 341-342
Trang 10nằm trên lãnh thổ Thái Lan nhưng vì một lý do nào đó người mua tử chổi nhận
hàng và khí đó người bán bán số hàng này cho người khác có địa điểm kinh doanh cũng trên lãnh thổ Thái Lan Như vậy tất cả các hoại động liên quan
đến việc mua bán lần thứ hai đều diễn ra trên lãnh thổ của Thái Lan: hàng hóa đã nằm tại Thai Lan - không thỏa mãn điều kiện phụ thứ nhất; chào hàng
và chấp nhận chào hàng cũng như việc giao hàng được thực hiện ngay trên lãnh thổ của Thái Lan - không thỏa mãn điều kiện phụ thu hai va thd ba Như vậy theo quy định của Điểu 1 Công ước La Haye 1964 thì hợp đồng này
không thể được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vì vậy không thể áp dụng các quy định của luật thương mai quốc tế mà cụ thể là không thể
áp dụng ngay chính Công ước La Haye 1984 để điều chỉnh nó
Công ước New York 1974 về thời hiệu tố tụng trong hợp đồng mua bán
hàng hỏa quốc tế, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế, Công ước La Haye 1986 về luật áp dụng cho hợp đồng mua bán quốc tế
được xây dựng trong phạm vì UNGITRAL, Công ước Genever 1983 về đại
điện trong mua bán quốc tế, các Công ước Ottawa nam 1988 về thuê tài chính quốc tế (Financial Leasing) và về bao thanh toán quốc tế (Factoring)° chỉ sử dụng một tiêu chuẩn duy nhất là địa điểm trụ sở thương mại của các bên để xác định tính quốc tế của Hợp thương mại quốc tế Tất cả các công ước nói trên quy định rằng, hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng dude ky kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác
nhau nếu như các quốc gia này tham gia công ước, hay luật của quốc gia
tham gia công ước được áp dụng phù hợp với những quy phạm của luật tư
pháp quốc tế l
Việc xây dựng khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên yếu tế
lãnh thổ cho phép xác định yểu tố quốc tế của hợp đồng trở nên đơn giản
hơn Tuy nhiên việc xác đỉnh tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế
dụa trên dấu hiệu lãnh thổ sẽ gặp khó khăn trong trường hợp, khi các bên có
nhiều trụ sở thương mại Để giải quyết van dé nay những người soạn thảo
công ước đã có sự dự liệu trước Điều 10 Công ước Viên 1980 quy định, trong
trường hợp nếu một trong các bên hay tất cả các bên có nhiều hơn một trụ sở thương mại thì cần phải chú ý đến trụ sở nào có mối liên hệ mật thiết với hợp
đồng và với việc thực hiện hợp đồng xuất phát tử những hoàn cảnh mà các
bên đã biết trước và đã có dự liệu trước khi hay trong théi điểm ký kết hợp
eT
“Thue va doi tượng của hep dong bao thanh toán theo quy định của Quy chế về
hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng chỉ chỉ có khoản phải thu,
trong khi đó đối tượng của hựp đồng Factoring theo quy định của Công ước quốc
tế về Factoring khong những khoản phải thu mà còn các loại địch vụ khác mà ngắn hàng hay tô chức tín dụng khác có thể cùng cấp cho người bán
Trang 11đồng, còn nếu các bên không có trụ sở thương mại thì cần phải xác định địa
điểm thường trú của họ
Hiện nay đã có nhiều quốc gia tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán
hàng hóa quốc tế, vì vậy có thể nỏi rằng pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới xác đình tính quốc tế của hợp đồng thương mại quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ của các bên ký kết hợp đồng Chúng tôi cho rằng, việc xác
định tru sở thương mại của thương nhân là một việc đơn giản hơn nhiều so với xác định "tính quôc gia" (quốc tịch) của họ trong nhiều trường hợp như đã
duoc noi dén 6 trén
Cũng cần phải nói thêm rằng, một số tác giả còn xác định tính quốc tế
của hợp đồng thương mại quỏc tế, cụ thể là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế dựa trên dấu hiệu đồng tiền thanh toán '° Tôi cho rằng, đồng tiền
thanh toán là ngoại tệ của một trong các bên chỉ có thể là đặc điểm của hợp
đồng thuơøng mại quốc tế mà thôi
Nnu vay co thé dua ra khái niêm chung cho tất cá các Hợp đồng thuơng mại quốc tế nhụ sau
Hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng được ký kết giữa các thuong
nhân có irụ sở thương mại (địa điểm kinh doanh) nằm trên lãnh thổ của các
quốc gia khác nhau
1.2 Chủ thể của hợp đồng thương mại quốc tế
Trên thực tế thì pháp luật thương mại quốc tế không có sự điều chỉnh đác
biệt nào đối với chủ thể của Hợp đồng thương mại quốc tế Điều này được giải
thích bởi chủ.thể của hoạt động nảy (pháp nhân và cá nhân - thương nhân) có
được quyện kỷ kẻt Hợp đồng thương mại quốc tế phù hợp với pháp luật quốc
gia áp dụng đối với các chủ thể đó Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
Hợp đồng thương mại quốc tế được coi là hợp pháp khí chủ thể của hợp
đồng hợp pháp, tức là có năng lực pháp luật và người ký kết có năng tực hành
vi và thảm quyền ký kết hợp đồng
Chủ thể bên nước ngoài là thuong nhân và tự cách pháp lý của họ được
xác đỉnh căn cứ theo pháp luật của nước mà thương nhàn đó mang quốc tịch Chủ thể bên Việt Nam phải lä thương nhân được phép hoạt động thương
mại trục tiếp vỏi nước ngoải
Theo quy định của Điều 8 Nghị Định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998
được sửa đổi bởi Nghị Định 44/2001/ NĐ-CP ngày 2/8/2001, thương nhân
'" Xem: Tạp chí Nhà nước uữ Pháp luật, số /2004
Trang 12được phép xuất khẩu tất cả các loại hàng hoá không phụ thuộc ngành nghề,
ngành hàng được ghi trong chúng nhận đăng kỷ kinh doanh trừ hàng hoá nằm
trong danh mục các loại hàng hoá cấm xuất khẩu, được nhập khẩu hàng hoá
theo ngành nghề, ngành hàng được ghi trong chứng nhận đăng ký kinh
doanh Trước khi tiến hành hoạt động xuất, nhập khẩu, chủ thể kinh doanh
phải đăng ký mã số kinh doanh xuất, nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh, thành
phố trục thuộc Trung ương
Việc Nhà nước Việt Nam công nhận năng lực pháp luật của pháp nhân và thể nhân nước ngoài là điều kiện cần thiết để những chủ thể nói trên có khả nãng thục hiện những giao dịch thương mại với các thương nhân của chúng 1a, cùng như cho việc tiến hành hoại động thương mại trên lãnh thể của Việt Nam Tuy nhiên trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc
tế, việc xác định năng lực pháp luật của các bên nước ngoài trong hợp đồng
đuợc ký kết giữa họ với doanh nghiệp Việt Nam chúng ta trong nhiều trường
hợp là điều hoàn toàn không dễ dàng Điều này cỏ thể giải thích bởi việc,
trong thực tiễn ở Việt Nam chúng ta có rất nhiều cái gọi là công ty ma, doanh
nghiệp được thánh lập để nhập một lô hàng nào đó, sau đó thì không thể tìm
thấy chúng Chính vì vậy để tránh rủi ro, trong hợp đồng thương mại quốc tế
các doanh nghiệp của Việt Nam chúng ta nên chọn phương thức than toán
phù hợp Ví dụ, nên chọn phương thức thanh toán bằng tin dụng chừng từ
trong các hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, còn khi nhập khẩu nên chọn điều
kiện giao hàng FOB
1.3 Đối tượng của hợp đồng thương mại quốc tế
Sự phát triển của thương mại quốc tế đã mở rộng các loại đổi tượng của
nó Nếu như trong thời kỳ mà hoạt động thương mại quốc tế mới hình thành thì
nó chỉ có một đối tượng duy nhất đó là hàng hóa hữu hinh (hành hóa có khối lượng, chất lượng, thể tich vả loại hàng hóa đặc biệt là tiền), thì vào cuối thế
kỷ 19 đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế được mở rộng bao gồm cả hàng hóa vô hình Trước hết là quyền tài sản, mà cụ thể là các quyển đặc biệt
đối với kết quả của hoạt động trí tuệ, đổi với công việc và dịch vu cũng như
các quyền liên quan đến các loại giấy tờ có giá trị như tài sản
Mặc dù vậy, trước đây cũng như hiện nay, trong hoạt động thương mại
quốc tế, mua bán hàng hóa vẫn là loại giao dịch phổ biến nhất, được kỷ kết
với số lượng nhiều nhất, có gia trị lớn nhất
Về mặt nguyên tắc, đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế giống
với đối tượng của hoạt động thương mại được pháp luật Việt Nam quy định vì
giao dịch thương mại quốc tế theo bản chất là một loại giao dịch thương mại
Tuy nhiên có một số đối tượng của hợp đồng thương mại không được coi là
Trang 13đối tượng của hợp đồng thương mại quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam Việc loại bỏ một đối tượng nào đó ra khỏi hoạt động thương mại quốc tế
có nghĩa là các doanh nghiệp Việt Nam không không được phép ký kết hợp
đồng thương mại quốc tế liên quan đến những đối tượng đó Ví dụ, theo Quyết
định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4-4-2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý
xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001-2008 thì gỗ tròn, gỗ xẻ, củi, than làm
từ gỗ rừng tự nhiên không thể là đối tượng của xuất khẩu, một số hàng tiêu dùng đã qua sử dụng, phương tiện vận tải tay lái nghịch, một số vật tư,
phương tiện đã qua sử dụng không thể là đối tượng của nhập khẩu `
Như vậy đổi tượng của Hợp đồng thương mại quốc tế bao gồm: mua bán
hàng hóa vật hữu hình; mua bán, chuyển giao kết quả của sở hữu công nghiệp, thông tin; thực hiện công việc; cung cấp dịch vụ thương mại không bị
Pháp luật Việt Nam cấm
1.4 Hình thức của hợp đồng thương mại quốc tế
Hợp đồng có hiệu lực khi nỏ được các bên ký kết theo hình thức do luật
định Pháp luật của nhiều nước cho phép các bên được tự do trong việc lựa
Chọn hình thức của hợp đồng ngoại trừ một số trường hợp pháp luật bắt buộc
phải tuân thủ theo hình thức nhất định Sự không tuân thủ hình thức của hợp
đồng không phải là căn cứ để tranh cãi về hiệu lực của hợp đồng, nếu như
tuật không trực tiếp quy định những hậu quả khác của việc không tuân thủ
hình thức do luật định Theo quy định của khoản 4 Điều 81 Luật Thương mại
1997 thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được ký kết bằng văn bản,
còn trong Luật Thương mại 2005 quy định này không được tìm thấy Tuy nhiên
có thể nói rằng hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng thương mại quốc
tế nói riêng, trong mọi trường hợp, phải được ký kết bằng văn bản
Sự tuân thủ hình thức của hợp đồng được luật quy định (chủ yếu là hình
thức văn bản) được chế ước trước hết bằng một số chế tài nhất định trong
trường hợp không tuân thủ quy định này: Hình thức với nguy cơ hợp đồng
không có hiệu lực; hình thức với mục đích là chứng cứ; hình thức để đạt được
kết quả nhất định của hành vi pháp lý Nguyên tắc tự do lựa chọn hình thức
của hợp đồng cũng được áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế Ví dụ,
Bệ luật Dân sự của Pháp khi quy định hình thức văn bản bắt buộc với mục đích là bằng chứng trong trường hợp giá trị của hợp đồng lớn hơn phạm ví luật
đỉnh và quy định nay không áp dụng đối với hợp đồng thương mại
Sư dễ dãi đổi với hình thức của hợp đồng thương mại quốc tế được quy
định bởi sự cùng tồn tại các quy phạm pháp luật xung đột, mà các quy phạm
ee
" Xom: Phu lục số 1, Quyết định số 46/2001 QĐ-TTg ngày 4-4-2001
Trang 14này cho phép hợp đồng được tuân thủ theo quy định của luật áp dụng hoặc của pháp luật nơi hợp đồng được ký kết Điều 11 Công ước Viên 1980 quy
định rằng, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không nhất thiết phải được ký hay xác nhận bằng văn bản, sự tồn tại của hợp đồng có thể được chứng minh bằng bất kỹ cách não, trong đó có cả lõi khai của người làm chứng Tuy nhiên Điều 12 của Công ước lại quy định rằng, những quy định của Điều 11 Công ước không được áp dụng trong trường hợp nếu một trong các bên có trụ sở thương mại nằm trên lãnh thổ của quốc gia không tham gia Điều 96 của Công ước tức là hợp đồng phải được ký kết bằng văn bản nếu pháp luật của quốc
gia nây quy định Yêu cầu nay 1a vo điều kiện và các bên không được khước
từ và thay đổi nó trong hợp đồng Nếu hợp đồng bắt buộc phải được ký bằng
văn bản thì mọi thay đổi, bổ sung của nó cũng phải được lập thành văn bản
1.5 Phân loại hợp đồng thương mại quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế được thực hiện bằng nhiều loại hợp đồng
khác nhau, không một ai có thể nói chính xác được rằng có các loại hợp đồng
cụ thể nào Ngay cả trong Luật Thương mại 1987, Luật Thương mại 2005 và trong Pháp lệnh trọng tài thương mại ngày Ø5 tháng 2 năm 2003 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội cũng không có quy định rõ các loại hợp đồng thưởng
mai Không riêng gì pháp luật của Việt Nam chúng ta mà ngay ca pháp luật
của tất cả các nước cũng vậy Tuy nhiên có thể nói rằng hợp đồng thương mại quốc tế là tất cả các hợp đồng thương mại được sử dụng trong hoạt động thương mại quốc tế và không trải với pháp luật Việt Nam, chúng có thể được
quy định hay không được quy định trong pháp luật của Việt Nam
Trong thực tiễn, căn cứ vao đổi tượng của hoạt động thương mại quốc tế
có thể tạm phân chia hợp đồng thương mại quốc tế thành bốn nhóm cơ bản
sau đây:
- Thứ nhất, Hợp đồng thương mại quốc tế liên quan đến mua bán, trao đổi
hàng hoá Loại này là loại hợp đồng chủ yếu trong hoạt động thương mại
quốc tế, bao gồm:
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa;
+ Hợp đồng trao đổi hàng hoá, ví dụ, thương nhân Việt Nam có thể đối gạo lấy phân bón, đổi gạo tấy sắt thép với thương nhân của Liên bang Nga ; + Mua bán thông qua đấu thầu, đấu giá
Trong hệ thống các hợp đồng thương mại quốc tế thì có thể nói rằng, hợp đồng mua ban hang hoa quốc tế chiếm vị trí trung tâm Có một lúc nảo đó mua bán hàng hóa quốc tế là hình thức giao dịch thương mại duy nhất giữa các quốc gia và hiện nay hình thức này vẫn là hình thức giao dịch chủ yếu,
14