1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT MÔN HỌC LUẬT NGÂN HÀNG

15 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi Thảo Luận Thứ Nhất Môn Học Luật Ngân Hàng
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Ngân Hàng
Thể loại Bài thuyết trình
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 63,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT MÔN HỌC LUẬT NGÂN HÀNG CÂU HỎI TỰ LUẬN 1. Qua các giai đoạn trong lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam và pháp luật ngân hàng Việt Nam: a. So sánh hoạt động ngân hàng sơ khai với hoạt động ngân hàng hiện nay? • Giống nhau: Hoạt động ngân hàng cho dù là sơ khai hay hiện đại đều là hoạt động kinh doanh hàng hóa đặt biệt, đó là tiền tệ, trên một thị trường đặc biệt. Vừa có điểm giống với việc kinh doanh hàng hóa thông thường, vừa khác với các hoạt động kinh doanh khác (chủ thể, đối tượng, cách thức hoạt động, …). Dòng tiền tệ sẽ di chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu. • Hoạt động ngân hàng sơ khai gồm: Hoạt động nhận giữ tiền và cho vay lại Hoạt động mua bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ (kinh doanh ngoại tệ) Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (cung ứng dịch vụ thanh toán) Các hoạt động này mang tính tự phát, không có quản lý và mang tính tư nhân • Hoạt động ngân hàng hiện nay: (theo Khoản 1 Điều 6 Luật NHNNVN 2010 đã được sửa đổi, bổ sung) Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. => Như vậy, có thể thấy điểm khác biệt của hoạt động ngân hàng hiện đại là không có hoạt động kinh doanh ngoại tệ, nói cách khác ở hiện đại người ta không xem hoạt động mua bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ là hoạt động ngân hàng. b. So sánh quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng trên thế giới và Việt Nam?

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MÔN HỌC LUẬT NGÂN HÀNG

Trang 2

CÂU HỎI TỰ LUẬN

1 Qua các giai đoạn trong lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam và pháp luật ngân hàng Việt Nam:

a So sánh hoạt động ngân hàng sơ khai với hoạt động ngân hàng hiện nay?

Giống nhau: Hoạt động ngân hàng cho dù là sơ khai hay hiện đại đều là hoạt động kinh

doanh hàng hóa đặt biệt, đó là tiền tệ, trên một thị trường đặc biệt Vừa có điểm giống

với việc kinh doanh hàng hóa thông thường, vừa khác với các hoạt động kinh doanh khác (chủ thể, đối tượng, cách thức hoạt động, …) Dòng tiền tệ sẽ di chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu

 Hoạt động ngân hàng sơ khai gồm:

- Hoạt động nhận giữ tiền và cho vay lại

- Hoạt động mua bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ (kinh doanh ngoại tệ)

- Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (cung ứng dịch vụ thanh toán)

Các hoạt động này mang tính tự phát, không có quản lý và mang tính tư nhân

 Hoạt động ngân hàng hiện nay: (theo Khoản 1 Điều 6 Luật NHNNVN 2010 đã được sửa đổi, bổ sung) Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

=> Như vậy, có thể thấy điểm khác biệt của hoạt động ngân hàng hiện đại là không có hoạt động kinh doanh ngoại tệ, nói cách khác ở hiện đại người ta không xem hoạt động mua bán, chuyển đổi các loại ngoại tệ là hoạt động ngân hàng

b So sánh quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng trên thế giới và Việt Nam?

 Giống nhau: (1) Ban đầu sự hình thành ngân hàng cả ở Việt Nam và trên thế giới đều

xuất phát với mục đích hoạt động tiền tệ, tất nhiên bởi vì bối cảnh lịch sử không

giống nhau nên nhu cầu ban đầu hình thành ngân hàng không giống nhau (2) Ở Việt

Nam và thế giới đều hình thành hệ thống ngân hàng 01 cấp trước tiên sau đó mới

phát triển thành hệ thống ngân hàng 02 cấp.

 Khác nhau:

Tiêu chí Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng trên thế giới Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng trên Việt Nam

Hoàn cảnh

(trước khi

có ngân

hàng):

Xuất hiện tài sản dư thừa, nhu cầu trao

đổi và tích trữ của cải, cần quy đổi hàng

hóa thành tiền Từ đó xuất hiện người

nhận trách nhiệm giữ tiền, người trung

gian làm nghề đổi tiền => nhu cầu vốn

tăng, nghề đổi tiền ngày càng phát triển,

xuất hiện những hoạt động mới như vay

tiền, cho vay, nhận gửi tiền, đổi tiền…

Trước năm 1951, không tồn tại chế định ngân hàng tại Việt Nam, thực dân Pháp thành lập Ngân hàng Đông Dương dành cho 3 nước Đông Dương nhằm thay mặt

CP Pháp, kiểm soát hệ thống tiền tệ của các nước thuộc địa

Thời điểm

và quá

trình

Ở thế kỷ 15 sự liên kết các “hội buôn”,

“công ty” hình thành nên các ngân hàng

đầu tiên trên thế giới nhưng đây mới chỉ

là những ngân hàng 01 cấp; tới thế kỉ 19

Sau năm 1945 Việt Nam bắt đầu xây dựng nền tài chính tiền tệ độc lập (trước 1951: nghề kinh doanh tiền tệ kém phát triển, chủ yếu là đổi tiền, cho vay nặng

Trang 3

việc phát hành tiền ồ ạt không có kiểm

soát tạo nên một chuỗi tác động khiến

nền kinh tế bị đình trệ và suy sụp cần có

sự phân chia và kiểm soát của nhà nước

từ đây hệ thống ngân hàng 02 cấp ra đời

và phát triển cho tới hiện tại Ban đầu,

khi nhà nước can thiệp tạo ra 2 loại hình

ngân hàng là NH cấp 1 được phát hành

tiền và kinh doanh tiền cùng NH cấp 2

chỉ được kinh doanh tiền nhưng điều

này làm khó khăn cho cạnh tranh của

các NH cấp 2 và các NH cấp 1 thì vẫn

được phát hành tiền theo ý thích Nhà

nước quyết định hạn chế quyền của NH

cấp 1 chỉ cho quyền phát hành tiền và

không được kinh doanh tiền nữa Sau

đó, Nhà nước tiến hành quốc hữu hóa

các NH cấp 1 nhằm kiểm soát loại tiền

và từ đó ra đời

Ngân hàng cấp 1: NHTW độc quyền

phát hành tiền

Ngân hàng cấp 2: các NH trung gian

không được phát

lãi)

Tới năm 1951 thành lập Nha tín dụng thuộc Bộ Tài chính và sau đó là xây dựng Ngân hàng Quốc gia VN (sau đổi tên thành Ngân hàng quốc gia Việt Nam) làhệ thống NH một cấp vừa thực hiện chức năng quản lí vừa thực hiện chức năng của một ngân hàng thương mại và từng bước phát triển;

Từ 1987-1990: thí điểm hệ thống ngân hàng 02 cấp

Từ 1990 đến nay dần hoàn thiện hệ thống ngân hàng 02 cấp: Ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại

Hình thức Từ thế kỉ 15 đến thế kỉ 18: hoạt động

tiền tệ bao gồm cả việc phát hành tiền tệ

và kinh doanh tiền tệ (như giữ hộ tiền,

vay và cho vay, ) Đây là hình thức của

hệ thống ngân hàng 01 cấp.Và khác với

ngân hàng một cấp ở Việt Nam thì ngân

hàng 01 cấp này thuốc sở hữu tư nhân

và hoạt động một cách tự do (nói kĩ hơn

ở câu 1.c)

Từ thế kỉ 19, hình thành hệ thống ngân

hàng 02 cấp: Cấp ngân hàng phát hành

(cấp 1): thực hiện nghiệp vụ phát hành

tiền tệ (ngoài ra tới hiện tại còn quản lý

hoạt động của các ngân hàng cấp 2);

Cấp ngân hàng kinh doanh tiền tệ (cấp

2): thực hiện kinh doanh tiền tệ

Năm 1951-1987, Việt Nam thành lập hệ thống ngân hàng 01 cấp có các chức năng: Quản lý phát hành tiền và lưu thông tiền; Quản lý kho bạc NN và HĐ tín dụng, ngoại hối, huy động vốn và cho vay; Đấu tranh tiền tệ với địch Ngân hàng này huộc sở hữu nhà nước nhưng lại có 02 chức năng phát hành tiền và kinh doanh tiền => đây là một đặc điểm riêng biệt của ngân hàng Việt Nam thởi bấy giờ, lý do cho việc này là

vì hoàn cảnh lịch sử đất nước thời điểm

đó yêu cầu nhà nước phải dành được tự chủ và phát triển về tiền tệ nhanh nhất

có thể nhưng tình trạng kinh tế quá non kém khiến nhà nước không thể để các chủ thể thông thường tự do thành lập ngân hàng như thế giới

Từ năm 1987-1990, thí điểm hệ thống ngân hàng 02 cấp: gồm NHNN và Các ngân hàng chuyên doanh (trực thuộc NHNN) Thí điểm mô hình hệ thống ngân hàng 02 cấp

Trang 4

Từ sau năm 1990 hoạt động theo hệ thống ngân hàng 02 cấp

c So sánh hệ thống ngân hàng một cấp và hệ thống ngân hàng hai cấp? Ưu và nhược điểm của từng hệ thống?

 Hệ thống ngân hàng 01 cấp:

nhưng nó không có hệ thống thứ bậc như ngân hàng 02 cấp

hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ (nhận gửi tiền và cho vay lại )

Ưu điểm: Tự do trong hoạt động, tiếp cận các nguồn vốn đa dạng, nhanh chóng, lĩnh vực kinh

doanh, thuộc sở hữu tư nhân và được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng thoải mái

Nhược điểm: Đối với ngân hàng 01 cấp nhược điểm của nó là sự tự do quá mức trong phạm vi và

cách thức hoạt động của nó, không có sự quản lý hạn chế từ nhà nước Khi để các chủ tư nhân được tự do như vậy họ chỉ quan tâm đến lợi nhuận cá nhân từ đó dẫn đến sự phát hành tiền ồ ạt dẫn đến suy sụp nền kinh tế và từ nhược điểm lớn này cần có sự ra đời của hệ thống ngân hàng

02 cấp

 Hệ thống ngân hàng 02 cấp:

- Về hình thức sở hữu: Ngân hàng cấp 1 thuộc sở hữu của nhà nước, ngân hàng cấp 2 có thể thuộc sở hữu của nhà nước hoặc của tư nhân hoặc cả hai

- Tổ chức: Hình thành có sự quản lý của nhà nước, có tính hệ thống phân chia hoạt động, hợp tác, liên kết với nhau thành một hệ thống thống nhất, hai cấp ngân hàng có hai chức năng rõ rệt

- Phạm vi hoạt động: Có sự tách bạch giữa chức năng phát hành tiền và chức năng kinh doanh tiền tệ Ngân hàng cấp 1 (NHTW) chỉ được phát hành tiền không được kinh doanh tiền, ngân hàng cấp 2 (ngân hàng trung gian, các tổ chức tín dụng, ) không được phát hành tiền chỉ được kinh doanh tiền

- Có sự can thiệp, điều chỉnh, quản lý của nhà nước

Ưu điểm: Ngân hàng 02 cấp có sự can thiệp, điều chỉnh, quản lý của nhà nước vậy nên đảm bảo

được tính an toàn trong hoạt động

Nhược điểm: Bởi vì sự quản lý của nhà nước tạo ra một khuôn khổ cho nên rất khó để các ngân

hàng tổ chức tín dụng tham gia mới vào hệ thống ngân hàng và cạnh tranh được; thủ tục rườm rà phức tạp khó khăn hơn trong tiếp cận vốn khi những chủ thể khác cần vốn để hoạt động, ngoài ra quy định về hoạt động của các ngân hàng là hoạt động có điều kiện, các tổ chức tín dụng muốn thực hiện thêm các hoạt động mới thì phải đáp ứng các điều kiện và xin cấp phép mới đây cũng

là một thủ tục khó

2 Chứng minh rằng một trong những nội dung cơ bản của Luật Ngân hàng là cơ chế pháp lý nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Các hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại đem lại nguồn lợi nhuận cao và cũng chịu nhiều rủi ro Bởi vì các giữa ngân hàng có sự liên kết mật thiết với nhau, hệ thống ngân hàng cùng thị trường tiền tệ có ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế Vì vậy phát triển hoạt động kinh doanh và hạn chế rủi ro là yêu cầu cấp thiết quan trọng đối với ngân hàng, chỉ khi hạn

Trang 5

chế được rủi ro ngân hàng mới thực sự phát triển và tạo sự ổn định cho nền kinh tế Vì thế việc thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro là nhân tố quan trọng quyết định tính sống còn của hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền kinh tế Ta có thể thấy trong các quy định của pháp luật về Ngân hàng cũng quy định rất nhiều cơ chế nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro

Các quy định Luật Ngân hàng là cơ chế pháp lý nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng được thể hiện qua các điều luật sau:

 Tại Điều 3, Luật NHNN 2010 quy định nhiệm vụ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

về chính sách tiền tệ quốc gia bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra

 Tại Điều 4, Luật NHNN 2010 về nhiệm vụ, quyền hạn Ngân hàng Nhà nước:

- Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền; bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm sự an toàn, hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc gia

- Kiểm tra, thanh tra, giám sát ngân hàng: Ngân hàng Nhà nước thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo quy định tại Điều 51, 55, 58, 59 Luật NHNN 2010

- Xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng theo quy định của pháp luật

=> Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan

 Tại Điều 12 Luật NHNN 2010, Ngân hàng Nhà nước quy định cơ chế điều hành lãi suất

áp dụng trong quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau và với khách hàng, các quan hệ tín dụng khác nhằm ổn định giá trị đồng tiền

=> Tránh xảy ra rủi ro khi thị trường tiền tệ có diễn biến bất thường, có sự biến động chính sách kinh tế

 Tại Điều 13 Luật NHNN 2010 quy định quản lý về hoạt động ngoại hối

=> Hạn chế rủi ro về tỷ giá

 Quyết định áp dụng biện pháp xử lý đặc biệt tại Mục 1 “Kiểm soát đặc biệt” Luật TCTD

2010, sửa đổi bổ sung 2017 đối với tổ chức tín dụng vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, gặp khó khăn về tài chính, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng Tổ chức tín dụng có nguy cơ:

- Mất khả năng chi trả (không bị thua lỗ, còn tài sản nhưng không đủ tiền mặt thời điểm đó để trả cho người gửi tiền) khi niềm tin của người dân vào ngân hàng bị lung lay

- Mất khả năng thanh toán (bị thua lỗ, không còn tài sản) có thể xảy ra khi gặp rủi

ro về tín dụng, cho vay nhưng không thu hồi lại được

=> Ngăn chặn rủi ro xuất phát khi niềm tin, tín nhiệm của mọi người vào Ngân hàng bị lung lay.Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền

Trang 6

tệ quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ như: Ngân hàng Nhà nước cho tổ chức tín dụng vay, Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh cho tổ chức tín dụng vay vốn nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tại Điều 11, 12, 13, 14, 15, 24, 25, 26 Luật NHNN 2010

=> Ngăn chặn tình trạng phá sản của các tổ chức tín dụng làm lòng tin người gửi vào hệ thống ngân hàng bị lung lay, phục hồi khả năng chi trả, hỗ trợ phát triển kinh tế và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo hệ thống ngân hàng an toàn, hiệu quả

Vậy một trong những nội dung cơ bản của Luật Ngân hàng là cơ chế pháp lý nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng

3 Rủi ro trong hoạt động ngân hàng xuất phát từ đâu? Pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện nay quy định như thế nào để hạn chế rủi ro này?

Hoạt động ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh có mức độ rủi ro cao Một số rủi ro cơ bản trong kinh doanh ngân hàng như: rủi ro tín dụng; rủi ro tỷ giá hối đoái; rủi ro lãi suất; rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp

Nguyên nhân của vấn đề này là: Thứ nhất, ngân hàng cho các chủ thể kinh doanh khác

vay vốn, là nhà cung cấp vốn cho nền kinh tế, khi các chủ thể kinh doanh này gặp rủi ro dẫn đến việc họ không có khả năng chi trả cho ngân hàng

Thứ hai, hoạt động ngân hàng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan, đồng thời là

lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với mọi biến động của nền kinh tế, đặc biệt là biến động xấu Ngân hàng là “chỗ trũng” trong nền kinh tế, tất cả các rủi ro của các chủ thể kinh doanh khác có thể chuyển lại một phần hoặc toàn bộ cho ngân hàng

Pháp luật ngân hàng Việt Nam hiện nay quy định như thế nào để hạn chế rủi ro này

Một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động ngân hàng được thể hiện trong các quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng là nguyên tắc hạn chế, phân tán rủi ro

Từ đó pháp luật ngân hàng Việt Nam có các quy định được cụ thể hóa từ nguyên tắc trên:

- Các quy định về nghĩa vụ TCTD phải công bố thông tin, tuân thủ các nguyên tắc quản trị ngân hàng; (Điều 25 Luật các Tổ chức tín dụng 2010)

- Các quy định về hạn mức tín dụng, các quy định về các trường hợp cấm cho vay, các trường hợp hạn chế cho vay ( Điều 126 Luật các TCTD, Quyết định 43/QĐ-NH14 Quy chế về mua bán hạn mức tín dụng giữa các tổ chức tín dụng…)

- Quy định về qui trình đánh giá, thẩm định hồ sơ tín dụng; phân tích và đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư (Điều 35, 55, 58 luật NHNNVN)

- Quy định về các chuẩn mực tài chính và tỷ lệ đảm bảo an toàn, duy trì khả năng chi trả của TCTD; quy định trong việc trích lập các quỹ dự phòng rủi ro, tuân thủ các tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần, góp vốn liên doanh do NHNN quy định trong từng thời kỳ

- Các quy định pháp luật về bảo vệ quyền của người gửi tiền trong đó có quy định về bảo hiểm tiền gửi cho người gửi tiền (Luật Bảo hiểm tiền gửi, Thông tư 48/2018/TT-NHNN quy định

về tiền gửi tiết kiệm…)

Trang 7

4 Hiểu thế nào là hoạt động ngân hàng? Trình bày các đặc điểm của hoạt

động ngân hàng?

Khái niệm hoạt động ngân hàng: (Khoản 1 Điều 6 Luật NHNN 2010 và khoản 12 Điều 4 Luật

Các TCTD 2010) “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

Về mặt bản chất: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh, hoạt động chính sinh ra lợi nhuận Hoạt động ngân hàng phải là hoạt động có tính chất thường xuyên, liên tục, tức là sinh ra

để tiến hành hoạt động ngân hàng lặp đi lặp lại tạo tính chuyên nghiệp Nội dung hoạt động ngân hàng phải phải thuộc một hoặc một số hoặc cả ba nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

(1) Yếu tố chủ thể

- Chủ thể thực hiện hoạt động ngân hàng: Tổ chức tín dụng, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài

- Phải được Ngân hàng nhà nước cấp phép hoạt động ngân hàng tại Việt Nam

- Mỗi loại hình tổ chức tín dụng có phạm vi hoạt động khác nhau

- Tổ chức tín dụng chỉ được tiến hành các hoạt động được ghi nhận rõ trong giấy phép do Ngân hàng nhà nước cấp

(2) Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện

+ Nguyên nhân:

- Đối tượng kinh doanh là tiền tệ

- Hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro

- Hoạt động quan trọng của nền kinh tế

- Hoạt động ngân hàng là hoạt động nhạy cảm với các biến động kinh tế + Điều kiện kinh doanh hoạt động ngân hàng:

- Vốn pháp định;

- Điều lệ hoạt động;

- Tính khả thi của phương án kinh doanh;

- Năng lực của người điều hành

(3) Hoạt động ngân hàng mang đặc điểm cạnh tranh song hành với hợp tác

+ Tính cạnh tranh: Cạnh tranh để tìm kiếm khách hàng từ đó tối đa hóa lợi nhuận + Tính hợp tác:

- Đối tượng kinh doanh tiền tệ

- Hợp tác để hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng

- Mang lại lợi nhuận

5 So sánh sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh

doanh khác

Tiêu chí Hoạt động ngân hàng Hoạt động kinh doanh khác

Khái niệm Khoản 1 Điều 6 Luật NHNN 2010

quy định

Khoản 21 Điều 4 Luật doanh nghiệp

2020 quy định

Trang 8

“1 Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

a) Nhận tiền gửi;

b) Cấp tín dụng;

c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.”

“21 Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch

vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.”

Đối tượng Tiền tệ hoặc là dịch vụ Ngân hàng Tài sản hàng hóa, các dịch vụ

Nội dung

Bao gồm các hoạt động tín dụng như nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán nhằm thực hiện các hoạt động nghiệp vụ để sinh lợi nhuận và

ổn định lưu thông tiền tệ trong thị trường

Các hoạt động gồm mua bán, trao đổi hàng hóa, các hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi nhuận là chủ yếu

Cơ cấu tổ chức Cơ cấu tổ chức hoạt động ngân hàng rất chặt chẽ, chịu sự điều chỉnh trực

tiếp của ngân hàng nhà nước VN

Có thể có hoặc không tổ chức theo một bộ máy, các mô hình kinh doanh thì rất đa dạng có thể là hộ kinh doanh, thành lập các công ty, doanh nghiệp

Chủ thể thực

hiện

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và một số chủ thể được nhà nước cho phép hoạt động

Các chủ thể này phải được nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng

Không bắt buộc phải là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và không nhất thiết phải có giấy phép kinh doanh như người kinh doanh nhỏ lẻ,

tổ hợp tác, hộ gia đình

Loại hình hoạt

động kinh

doanh

Là hoạt động kinh doanh có điều kiện:

- Vốn pháp định

- Điều lệ hoạt động

- Tính khả thi của phương án kinh doanh

- Năng lực của người điều hành

Có thể là hoạt động KD có điều kiện (vd: kinh doanh bảo hiểm; kinh doanh xăng, dầu ) hoăc hoạt động KD không có điều kiện (vd: bán lẻ thuốc lá; bảo hành, bảo dưỡng ô tô )

Tính chất hoạt

động

Mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận Có độ rủi ro cao và có tính dây chuyền đối với nền kinh tế

Chủ yếu vì mục đích lợi nhuận, ít rủi

ro hơn và ít ảnh hưởng dây chuyền trong nên kinh tế

6 Có quan điểm cho rằng: “Khái niệm hoạt động Ngân hàng hiện nay còn quá hẹp, gây khó khăn cho các TCTD khi muốn mở rộng hoạt động kinh doanh của mình thì phải xin phép NHNN” Anh/chị có nhận xét gì về ý kiến này.

Trang 9

Hiện nay, khái niệm hoạt động Ngân hàng được quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật NHNN 2010 và Khoản 12 Điều 4 Luật các TCTD 2010 Theo đó, hoạt động Ngân hàng chủ yếu xoay quanh 3 hoạt động chính:

- Nhận tiền gửi

- Cấp tín dụng

- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản

Ví dụ: Ví momo, moca, Viettelpay là hoạt động ngân hàng dưới nghiệp vụ: cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tiền mặt

Như vậy, ta sẽ hiểu là ngoài 3 hoạt động trên, những hoạt động khác không được coi là hoạt động Ngân hàng, nhưng trong thời đại phát triển hiện nay sẽ có rất nhiều các hình thức hoạt động tiền tệ mới mà ta không thể dự đoán trước Mà Luật pháp Việt Nam quy định khái niệm

hoạt động Ngân hàng bằng phương pháp liệt kê, nên dễ bỏ sót các hoạt động khác Do vậy, nhóm

cho rằng nhận xét trên đúng một phần, vì hoạt động ngân hàng thoe quy định chỉ gói gọn trong 3 hoạt động, hơi hẹp theo như nhận xét

Tuy nhiên, vế sau của câu nhận xét là vì hoạt động ngân hàng hẹp mà gây ra sự bất tiện cho các TCTD khi mà họ muốn mở rộng hoạt động kinh doanh thì phải xin phép NHNN thì nhóm em không hoàn toàn đồng ý vì hoạt động NH là hoạt động mang tính rủi ro cao và cũng là hoạt động kinh doanh có điều kiện, do vậy, sự cần thiết của việc can thiệp của NHNN trong hoạt động quản lý là hoàn toàn hợp lý TCTD chỉ được tiến hành các hoạt động được ghi nhận trong giấy phép, còn nếu muốn mở rộng phạm vi kinh doanh, các tổ chức này phải xin phép NHNN Điều này sẽ gây khó khăn cho các TCTD, nhưng ngược lại, sẽ giúp cho NHTW thực hiện được chức năng quản lý, hạn chế được việc các TCTD kinh doanh tràn lan, dễ gây bất ổn trong nền kinh tế

Tóm lại, theo ý kiến nhóm em, tụi em đồng ý rằng khái niệm hoạt động ngân hàng hẹp, nhưng việc các TCTD cần phải xin phép để tiến hành những hoạt động kinh doanh khác là hoàn toàn hợp lý

7 NHNNVN có được phép thực hiện hoạt động Ngân hàng hay không?

NHNNVN không được phép thực hiện hoạt động ngân hàng

Hoạt động NHNNVN được quy định tại chương III Luật NHNN 2010 Theo đó, NHNNVN chỉ thực hiện những hoạt động nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia hoặc điều tiết nền kinh tế, chứ không có ghi nhận nào về việc NHNN được phép thực hiện hoạt động Ngân hàng

Điều này cũng là phù hợp với đặc điểm của Ngân hàng 2 cấp: đó là NHTW chỉ được phép in tiền chứ không tham gia các hoạt động Ngân hàng

CÂU NHẬN ĐỊNH

1 Tiền đề cho sự xuất hiện hoạt động ngân hàng là hoạt động gửi giữ tiền.

Nhận định Sai, bởi vì nếu chỉ nói hoạt động gửi giữ tiền là tiền đề cho sự xuất hiện hoạt động ngân hàng là không đầy đủ Sự xuất hiện của hoạt động ngân hàng cần đủ 03 yếu tố sau:

Trang 10

Sự xuất hiện của tiền tệ, đây là yếu tố đầu tiên để xuất hiện hoạt động ngân hàng: khi có

sự phân công lao động, thay đổi phương thức sản xuất và xuất hiện công cụ lao động khi

đó của cải trong xã hội làm ra có dư thừa được tích lũy cần có sự trao đổi hàng hóa dư thừa Tuy vậy, hàng hóa dư thừa không thể bảo quản được lâu và có thể không phù hợp với nhu cầu trao đổi vậy nên cần có sự xuất hiện của vật trung gian thay thế đó là tiền tệ

xuất hiện làm vật trung gian trao đổi, nhưng nhu cầu của con người không cần sử dụng hết vì vậy tiền tệ dư thừa cần chỗ để cất giữ, những người này không yên tâm vì vậy họ cần một người có uy tín và đáng tin cậy (thường là tộc trưởng, người đứng đầu, ) giúp

họ giữ tiền và bảo đảm

nhân, thợ thủ công, trao đổi hàng hóa, ) tăng vậy nên họ tìm đến những người giữ tiền

và vay vốn Những người nhận giữ tiền sẽ nhận được hai khoản phí giữ tiền và vay tiền

từ người có nhu cầu giữ tiền và vay tiền, tiền được đưa từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn

=> Hoạt động nhận giữ tiền và cho vay lại hình thành Tiền đề cho sự xuất hiện hoạt động ngân hàng cần đủ 03 yếu tố trên

2 Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng, trong đó các ngân hàng vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh.

Nhận định Sai Hệ thống ngân hàng hai cấp là hệ thống ngân hàng gồm:

Ngân hàng cấp 1: Ngân hàng phát hành tiền, không được kinh doanh tiền tệ

Ngân hàng cấp 2: Ngân hàng không được phát hành tiền, chỉ được thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ

Vậy, hệ thống ngân hàng hai cấp gồm ngân hàng cấp 1 và ngân hàng cấp 2, mỗi cấp có một vai trò khác nhau chứ không cùng lúc đảm nhiệm hai vai trò vừa phát hành tiền vừa thực hiện hoạt động kinh doanh

3 Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện.

Nhận định Đúng Đây là một trong những đặc điểm của hoạt động ngân hàng

 Nguyên nhân là bởi vì hoạt động ngân hàng có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, chứa nhiều rủi ro và nhạy cảm với các biến động kinh tế cho nên khi kinh doanh hoạt động ngân hàng thì cần phải đảm bảo điều kiện

 Các điều kiện đó gồm vốn pháp định; điều lệ hoạt động; Tính khả thi của phương án kinh doanh; Năng lực của người điều hành

Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP quy định kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuộc nhóm lĩnh vực ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Ví dụ các TCTD cấp giấy phép thì phải đáp ứng các điều kiện về vốn và tính khả thi của phương án kinh doanh, năng lực quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và nhân viên của TCTD đó Được quy định cụ thể trong như Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng Điều kiện về tính khả thi của phương án kinh doanh

4 NHNNVN được phép kinh doanh tiền tệ.

Nhận định Sai

Theo quy định của Điều 2 NĐ 156/2013 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Ngân hàng nhà nước, nhận thấy không có điều khoản nào quy định cho phép NHNNVN kinh doanh tiền tệ

Ngày đăng: 21/08/2023, 08:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức Từ thế kỉ 15 đến thế kỉ 18: hoạt động - BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT MÔN HỌC LUẬT NGÂN HÀNG
Hình th ức Từ thế kỉ 15 đến thế kỉ 18: hoạt động (Trang 3)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w