Về mặt thực tiễn: Tiểu luận góp phần vào việc xác định đúng đắn nộidung cơ bản, cơ sở, điều kiện của việc áp dụng án tích và xóa án tích đối vớingười đã bị Tòa án kết án, đã thi hành án
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và được sửa đổi bổ sung năm 2009 là mộttrong những công cụ sắc bén và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trong việcphòng, chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền,thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc cũng như bảo vệ lợi ích của Nhà nước,quyền lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần giữ gìn, duy trì trật tự
an toàn xã hội Mặc dù, đã được thừa kế và tiếp thu những tinh thần và sự tiến
bộ của BLHSnăm 1985 nhưng kể từ năm 1999 đến nay, BLHSnăm 1999 đã bộc
lộ những bất cập không chỉ trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luậthình sự mà cả trên phương diện nhận thức và lý luận
Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiệnnay, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt ý luận và đưa ra các kiến giải lạppháp là vô cùng cần thiết và quan trọng không chỉ trong lĩnh vực pháp luật hình
sự nói riêng mà đối với cả hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung
Án tích là một trong những chế định rất quan trọng trong phần chung củaBLHS Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt nhận thức và lý luận là một đòihỏi cấp bách, không chỉ góp phần làm cho nhận thức một cách đúng đắn và khoahọc về chế định án tích mà còn giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụngchính xác các quy đnhj của pháp luật hình sự Bảo đảm các quyền con người,quyền và lợi ích chính đáng của công dân
Từ trước đến nay, về mặt lý luận, có rất ít công trình nghiên cứu một cáchtông thể, toàn diện và có hệ thống các vấn đề liên quan đến chế định án tích.Ngoài ra, việc hiểu vấn đề liên quan đến án tích cũng còn nhiều quan điểm khácnhau và chưa thống nhất Như vậy, đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứumột cách toàn diện và sâu sắc, điều đó đặt ra yêu cầu hết sức cần thiết trong điềukiện hiện nay
Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và toàn diện vềmặt lý luận vấn đề liên quan đến chế định án tích để đưa ra các lý giải khoa học
Trang 2và mô hình lý luận vấn đề này đồng thời cũng đưa ra các kiến giải lập pháp gópphần hoàn thiện pháp luật hình sự mà cụ thể là BLHSViệt Nam để giải quyết cácvấn đề còn bất cập và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy phạm phápluật này của các cơ quan tiến hành tố tụng là vô cùng cần thiết trong giai đoạnxây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Án tích trong luật hình sự Lý
luận và thực tiễn” làm tiểu luận của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua nghiên cứu và tham khảo BLHS1985, năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm
2009 và năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì có thể thấy án tích là mộttrong những chế định quan trọng và phức tạp trong pháp luật hình sự Việcnghiên cứu về chế định này vẫn chưa được quan tâm đúng mức Nhìn chung,mới chỉ có một số rất ít bài viết, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ lý giảivấn đề trên góc độ lý luận và cũng chưa đưa ra được một bức tranh tổng quátcũng như các kiến giải lập pháp về chế định này Ngoài ra, có một số giáo trình,sách chuyên khảo như: GS.TSKH Lê Văn Cảm, mục VII, Chương VIII – Cácbiện pháp tha miễn trong luật hình sự, sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn
đề cơ bản trong khoa học hình sjw (Phần chung), nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2005; TSKH Lê Cảm (Chủ biên), Mục VI, Chương XVII – Thời hiệuthi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
và xóa án tích, Chương XVIII – Những đặc thù trách nhiệm hình sự đối vớingười chưa thành niên phạm tội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Khoa luật –Đại học Quốc gia Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003
Bên cạnh đó còn có các bài viết sau đây: Hồ Sĩ Hơn, “Án tích theo luậthình sự Việt Nam 1999”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2001; PhạmHồng Hải, “Xóa án”, trong sách: Mô hình lý luận về BLHSViệt Nam Nhà xuấtbản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993;…
Từ một số nội dung đề cập ở trên cho thấy các công trình và bài viết nghiêncứu liên quan đến chế định án tích đã đưa ra những quan điểm và phần nào đãgiải quyết được một số vấn đề cơ bản mà lý luận và thực tiễn áp dụng các quyphạm pháp luật hình sự đặt ra Tuy nhiên, qua nghiên cứu sơ bộ thì cho thấy, chế
Trang 3định án tích với tư cách là một trong những chế định quan trọng và cơ bản trongpháp luật hình sự nhưng chế định này hiện nay vẫn còn nhiều thiếu sót và bấtcập.
Xuất phát từ những đòi hỏi của khoa học luật hình sự, về lý luận cũng như thực
tiến áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việc nghiên cứu đề tài tiểu
luận “Án tích trong luật hình sự Lý luận và thực tiễn” là một đòi hỏi
khách quan và cần thiết trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền vàcải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của tiểu luận
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của tiểu luận là nghiên cứu một cách đồng bọ, toàn diện để làmsáng tỏ về mặt lý luận và khoa học những nội dung cơ bản của chế định án tíchtrong pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời chỉ ra những điểm bất cập để đưa racác kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật lình sự Nâng caohiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền, lợiích hợp pháp của công dân
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, tiểu luận có những nhiệm vụ nghiêncứu sau:
- Về mặt ý luận: Tập trung nghiên cứu xung quanh nội dung của chế địnhnày trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các bộ luật để làm sáng tỏ về mặt lýluận của chế định này trong luật hình sự Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: Tập trung vào nghiên cứu việc áp dụng các quy phạmpháp luật của chế định án tích trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước
ta Từ đó tìm ra những thiếu sót, bất cập và những vướng mắc của việc áp dụngpháp luật hình sự liên quan đến chế định này trên thực tế, quy đó đưa ra được
mô hình lý luận về chế định án tích và đề xuất mô hình kiến giải lập pháp cụ thể
về chế định này
Trang 43.3 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu và giải quyết vấn đề chế định án tích theo pháp luậthình sự Việt Nam Đồng thời đề cập đến một số quy phạm liên quan đến tố tụnghình sự, Luật thi hành án hình sự,… những vấn đề lên quan án án tích và xóa ántích chưa được đề cập trong pháp luật hình sự của nước ta
Tiểu luận này nghiên cứu về chế định án tích trong quy định của BLHSViệtNam năm 1985, năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, năm 2015 sửa đổi bổsung năm 2017
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiểu luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài tiểu luận còn được thựchiện trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về cải cách tưpháp để thể hiện Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể và đặcthù như: Phương pháp phân tích, tỏng hợp, logic và so sánh
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu về chế định án tích có nghĩa là vai trò to lớn về mặt lý luận vàthực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự, tuy nhiên đây là một tiểuluận nên không thể nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về vấn đề án tích mà chỉ
có thể phân tích và xem xét tổng quan
Về mặt lý luận: Tiểu luận nghiên cứu đề cập riêng đến việc phân tích có
hệ thống những nội dung cơ bản của chế định án tích theo luật hình sự Việt Namvới những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên
Về mặt thực tiễn: Tiểu luận góp phần vào việc xác định đúng đắn nộidung cơ bản, cơ sở, điều kiện của việc áp dụng án tích và xóa án tích đối vớingười đã bị Tòa án kết án, đã thi hành án hoặc hết thời hạn thi hành án và đã trảiqua một thời gian thử thách nhất định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xửcủa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động truy cứu trách nhiệmhình sự, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chốngtội phạm ở nước ta
Trang 56 Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chế định án tích.
Chương 2: Chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về chế định
án tích và một số kiến nghị.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH 1.1 Khái quát lịch sử các quy phạm pháp luật về án tích từ năm 1945 đến
khi có Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
1.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985
Án tích là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật hình sự.Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985, thời kỳ đất nước ta mớithành lập chính quyền và trải qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, các nhàlàm luật thời kỳ nãy vẫn chưa thật sự quan tâm đúng mức và ghi nhận nó Mặc
dù vậy, chế định này cũng được đề cập rải rác trong một số văn bản pháp luậtcủa nhà nước ta trong giai đoạn này Ngày 20 tháng 10 năm 1945, Chủ tịchChính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh đã ban hành Sắclệnh số 52 về đại xá được đăng trên tờ Việt Nam Công báo, số 7, trang 78, tạiĐiều 4 của Sắc lệnh số 52 quy định: “Những tội được xá miễn đều coi nhưkhông phạm bao giờ…”, hay tại Điều 6 của Sắc lệnh: “Cấm tất cả các công chứchành chính pháp và các thẩm phán viên không được nhắc đến, hoặc trọng hồ sơmột vết tích gì về những tội đã được xá” Ngày 01 tháng 12 năm 1961, Tòa ánnhân dân (TAND) tối cao ban hành thông tư 2308/NCLP về xóa án tích đối vớingười được hưởng án treo Ngày 05 tháng 7 năm 1963, TAND có Công văn số
Trang 61082/NCLP khẳng định: “Tòa án không thể coi một người đã bị an treo nhưng
đã được xóa bỏ, nay lại phạm tội mới, như là tái phạm” Như vậy, từ rất sớmtrong pháp luật hình sự Việt Nam, án tích đã được ghi nhận là một trong nhữngcăn cứ quan trọng đối với Tòa án cũng như các cơ quan nhà nước khác có thẩmquyền áp dụng đối với người phạm tội Theo pháp luật thời kỳ này thì ngườiđang có án tích mà phạm tội mới cũng có thể bị xem xét việc tái phạm
1.1.2 Gia đoạn từ năm 1985 đến năm 1999
Ngày 27 tháng 6 năm 1985, BLHSđầu tiên của nước ta được Quốc hộikhóa VII kỳ họp thứ 9 thông qua Đây à một sự kiẹn quan trọng đánh dấu mộtbước tiến lớn đối với luật hình sự nước ta Chế định án tích đã chính thức đượcghi nhận trong một văn bản pháp lý có giá trị cao này Tại Chương 6 quy định
về việc quyết định hình phạt, miễn, giảm hình phạt Chế định án tích được gọivới tên là xóa án tích và được quy định từ Điều 52 đến Điều 56, ngoài ra còn cómột trường hợp đặc biệt là xóa án trong trường hợp người chưa thành niên phạmtội (Điều 67)
Án tích ngoài việc chính thức được ghi nhận trong BLHSViệt Nam năm
1985, các văn bản dưới luật, cụ thể là các Thông tư đã kịp thời được ban hành
để hướng dẫn các quy định liên quan đến án tích trong BLHS Ngày 01 tháng 8năm 1986, TAND tối cao đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tốicao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ban hành Thông tư liên ngành
số 02/TTLN quy định về việc xóa án tích, hướng dẫn cụ thể về thẩm quyền xóa
án, điều kiện cụ thể để được xóa án, thủ tục xóa án,… Thôg tư liên ngành nàysau đó đã được sửa đổi , bổ sung bằng Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 15tháng 7 năm 1989 Chế định án tích lần đầu tiên được ghi nhận trong BLHSViệtNam năm 1985 cùng các văn bản pháp lý khác đã tạo một hành lang pháp lýtương đối đầy đủ và rõ ràng, là căn cứ pháp luật quan trọng tại điều kiện thuận
ợi cho cơ quan tiến hành tố tụng thực thi pháp luật đúng với các quy định củapháp luật
Trang 71.1.3 Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2015
Ngày 21 tháng 12 năm 1999, BLHSViện Nam hiện hành đã được Quốc hộiKhóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua Đây là lần pháp điển hóa thứ hai chế định ántích đã được kế thừa và có sự đổi mới nhiều so với BLHSnăm 1985 Thuật ngữ
“xóa án” đã được thay đổi bằng “xóa án tích”
Ngoài ra, chế định án tích trong BLHSnăm 1999 được ghi nhận trong mộtchương riêng biệt (Chương IX), kác hẳn với chế định án tích trong BLHSnăm
1985, điều dó thể hiện ở việc các nhà làm luật nước ta đã đánh giá được tầmquan trọng của chế định này trong pháp luật hình sự Về thời hạn để được xóa
án tích trong BLHSnăm 1999 cũng được mở rộng hơn so với BLHSnăm 1985.Trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2015 thì BLHSnăm 1999 đã được sửađổi, bổ sung một số điều cho phù hợp với tình hình mới Ngoài việc quy địnhtrong BLHSnăm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, chế định án tích còn đượcquy định trong các luật và thông tư hướng dẫn các điều của BLHSnhư Luật ýlịch tư pháp năm 2010, Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩmphán TAND tối cao ngày 04 tháng 8 năm 2000 về hướng dẫn áp dung một sốquy định trong Phần chung của BLHSnăm 1999 Mặc dù, chế định án tích so vớicác giai đoạn trước đã có những ưu điểm, tiến bộ mới Song quy định về án tíchtrong BLHSnăm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 qua quá trình áp dụngthực tes vẫn bộc lộ những bất cập ngay trên cả phương diện lý luận
1.1.4 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay
BLHSnăm 2015 được thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015 tại kỳ họp thứ
X, Quốc hội khóa XIII Đây là lần thứ ba chế định xóa án tích được pháp điểnhóa trong Bộ luật hình sự 2015 và được quy định từ các điều 69 đến 73, chương
X Theo đó, chế định án tích được quy định tại Bộ luật hình sự 2015, sau đóđược sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có những quy định chi tiết, rõ ràng hơn vềxóa án tích, nhằm khắc phục một số bất cập trong quá trình áp dụng các quyđịnh của BLHSnăm 1999, quy định thời điểm bắt đầu và kết thúc án tích, xóa ántích, các trường hợp đương nhiên được xóa án tích, cơ quan ra quyết định xóa ántích, thủ tục xóa án tích… nhằm đáp ứng yêu cầu về mặt lập pháp và dễ dàngđược áp dụng trên thực tế
Trang 81.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của chế định án tích
án, xóa án trong trường hợp đặc biệt Việc Bộ luật hình sự không đưa ra đượckhái niệm án tích cụ thể đã gây ra không ít cách hiểu khác nhau trong giới luậthọc và khái niệm án tích, đặc điểm cũng như bản chất và ý nghĩa của án tích.Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng, "Án tích là hậu quả pháp lý của bản án kếttội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội" Quan điểm này theo tôi có một số
điểm cần sửa đổi bổ sung Thứ nhất, về bản chất mà coi bất kỳ ai bị Tòa án kết
án đều phải mang án tích, nhưng không phải ai trong số những người bị Tòa ánkết án cũng phải chịu những hậu quả pháp lý nhất định mà chỉ những ngườiphạm tội mới trong thời gian còn mang án tích mới phải chịu những tình tiếtđịnh khung tăng nặng hình phạt quy định tại Điều 40 và các điều luật khác phần
các tội phạm của Bộ luật hình sự; thứ hai, án tích không phải là hậu quả pháp lý
mà là điều kiện được quy định trước nhằm thử thách những người bị kết án, đãchấp hành xong hình phạt (cả chính và phụ) có trở thành công dân có ích cho xãhội, là người lương thiện hay không?; thứ ba, nếu hiểu án tích là hậu quả pháp lýcủa bản án kết tội sẽ gây ra hiểu nhầm rằng, người bị kết án bị coi là có án tíchtrong cả thời gian chấp hành hình phạt Trong khi đó, theo quy định của phápluật hình sự, người bị kết án bị coi là có án tích trong một khoảng thời gian nhấtđịnh sau khi đã chấp hành xong hình phạt
Vấn đề án tích tiếp tục được quy định trong khoản 5 Điều 3 và tại cácđiều từ Điều 63 đến Điều 67 chương IX BLHS 1999 Cũng giống như BLHS
Trang 91985, BLHS 1999, cũng không đưa ra được khái niệm án tích mà chỉ quy định
về nguyên tắc, các điều kiện để được xóa án tích đối với các trường hợp: Đươngnhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trongtrường hợp đặc biệt và cách tính thời hạn để xóa án tích Do vậy, trong lần phápđiển hóa lần thứ hai này, BLHS 1999 vẫn chưa thể đưa ra một cách hiểu thốngnhất trong giới luật học nói chung, cũng như giới nghiên cứu luật nói riêng vềvấn đề án tích Chính vì vậy, sau khi BLHS 1999 được thông qua và có hiệu lựctrên thực tế, trong giới luật học vẫn còn tồn tại những cách hiểu khác nhau vềbản chất của án tích nói chung và về thực chất của xóa án tích nói riêng Chẳnghạn, có quan điểm cho rằng “Xóa án tích là xóa bỏ bản án hình sự đối với mộtngười đã bị Tòa án kết án” Quan điểm này, theo tôi, rõ ràng là không chính xác.Vấn đề là ở chỗ, nếu hiểu “xóa án tích là xóa bỏ bản án” thì cũng có thể hiểu ántích là bản án Trong khi đó, xét về mặt bản chất thì án tích không thể là bản ánđược Hơn nữa, người bị kết án bị coi là có án tích sau khi đã chấp hành xonghình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với người đó Thực tế đã chứng minh rằng,bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm tội đã được người phạm tội chấphành xong Vậy thì không thể nói xóa án tích là xóa bản án kết tội như quanđiểm trên được
Tại các Điều từ 69 đến 73 Chương X Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổsung năm 2017, cũng chưa đưa ra được khái niệm về án tích Tuy nhiên, chếđịnh án tích được quy định trong BLHS2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cũngđược quy định chi tiết và rõ ràng hơn so với BLHS 1985 và BLHS 1999 sửa đổi
bổ sung năm 2009 về chế định xóa án tích Tại Điều 69 BLHS 2015 sửa đổi bổsung năm 2017, xóa án tích được hiểu là xóa bỏ việc mang án tích, là sự côngnhận coi như chưa bị kết án đối với người trước đó đã bị Tòa án xét xử, kết tội
Như vậy, vấn đề án tích trong pháp luật hình sự Việt Nam kể từ khi thànhlập nước cho đến nay đã được pháp điển hóa trong BLHS 1985 bằng chế địnhxóa án, trong BLHS 1999 và BLHS năm 2015 bằng chế định xóa án tích Mặc
dù vậy, trong cả ba lần pháp điển hóa nói trên, không hiểu vì lý do gì mà các nhàlàm luật đã không quy định một cách cụ thể, rõ ràng khái niệm án tích Trongkhi đó, khái niệm án tích là một trong những vấn đề quan trọng của chế định xóa
Trang 10án tích, bởi nó là cơ sở xuất phát để nghiên cứu những vấn đề khác có liên quan.Mặt khác, việc làm sáng tỏ khái niệm đó không những tạo ra một cách hiểuthống nhất trong giới luật học, mà còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật ápdụng đúng đắn, chính xác các quy định của Bộ luật hình sự về việc xóa án tích.
Vì vậy, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ khái niệm án tích chẳng những có ýnghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn
Thực tế nghiên cứu và áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy, từtrước đến nay chưa hề xuất hiện một định nghĩa pháp lý về án tích Tuy nhiên, ởcác mức độ khác nhau, trong khoa học luật hình sự Việt Nam và khoa học luậthình sự một số nước trên thế giới cũng có những nghiên cứu và cách hiểu khácnhau về khái niệm án tích
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam có một số quan điểm chủ yếu sau
về khái niệm án tích:
1- PGS.TS Phạm Hồng Hải: Án tích là hậu quả pháp lý của bản án kếttội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lýtrong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khitội phạm được thực hiện trong thời gian người ấy mang án tích [23, tr 276]
Theo quan điểm của chúng tôi, quan điểm trên của PGS.TS Phạm HồngHải có điểm chưa đúng là thực tế không phải mỗi bản án kết tội của Tòa án đềulàm phát sinh án tích như trường hợp miễn trách nhiệm hình sự và thực chất đãmiễn hình phạt (điểm 1 Điều 64 Bộ luật hình sự) không làm phát sinh án tích
2- ThS Hồ Sỹ Sơn: Án tích là vết tích đã từng bị kết án của người phạmtội; xuất hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa để trởthành người chưa bị kết án khi người này đáp ứng được những điều kiện mà Bộluật hình sự quy định hoặc tồn tại một khi người đã bị kết án dù đã chấp hànhxong hình phạt nhưng chưa đáp ứng được những điều kiện được quy định trong
Bộ luật hình sự và người đó còn phải chịu tình tiết định khung tăng nặng hìnhphạt nếu phạm tội trong thời gian mang vết tích đã từng bị kết án (theo Điều 49
Bộ luật hình sự) hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi vi phạmpháp luật mà theo quy định của Bộ luật hình sự, vết tích đã từng bị kết án là yếu
tố điều kiện cấu thành tội phạm [28, tr 65]
Trang 11Quan điểm trên của ThS Hồ Sỹ Sơn theo chúng tôi cũng có những điểm
cần đưa ra bàn luận Đó là, thứ nhất, án tích không phải xuất hiện khi người đó
chấp hành xong hình phạt mà thực tế, thời điểm chấp hành xong hình phạt chỉ
được căn cứ để xác định thời hạn để xóa án tích; thứ hai, án tích chỉ xuất hiện
cùng với thời điểm bản án kết tội có hiệu lực pháp luật Việc phạm tội trong thờigian đang chấp hành hình phạt được coi là tái phạm (Điều 49 Bộ luật hình sự);
và cuối cùng, việc dùng thuật ngữ "vết tích" là không có ý nghĩa pháp lý
3- Luật gia Nguyễn Thị Lan: Án tích là một dấu ấn cho thấy, người có ántích đã từng bị kết án vì đã phạm tội [20, tr 12-13]
Quan điểm của Nguyễn Thị Lan cũng có những điểm hạn chế nhất định
Đó là việc dùng thuật ngữ "dấu ấn" là không chính xác, nó không nêu bật đượcbản chất pháp lý của vấn đề án tích Và mặt khác, trên thực tế xét xử cho thấy bịkết án không phải là dấu hiệu chung nhất
4- PGS.TSKH Lê Cảm: Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết
án bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và
là giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện trách nhiệm hình sự, được thể hiệntrong việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án(bao gồm hình phạtchính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án) nhưng vẫn chưahết án tích hoặc chưa được xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự[22, tr 829]
Quan điểm trên của PGS.TSKH Lê Cảm, theo tôi cũng cần phải đưa ra
trao đổi một số vấn đề như sau Thứ nhất, việc cho rằng án tích là việc thực hiện
trách nhiệm hình sự là chưa chuẩn Thực ra ở đây, trách nhiệm hình sự chỉ được
thể hiện ở dạng thử thách người bị kết án trong một thời hạn luật định Thứ hai,
việc dùng thuật ngữ án tích để định nghĩa án tích là không hợp lý Tuy có một sốđiểm cần đưa ra bàn luận, nhưng theo chúng tôi, khái niệm án tích củaPGS.TSKH Lê Cảm là khái niệm đầy đủ nhất, thể hiện được rõ nét nhất bảnchất pháp lý của án tích
Từ những sự phân tích, nghiên cứu trên đây và tham khảo một số quanđiểm khác nhau về án tích, đồng thời, trên cơ sở thực tiễn công tác áp dụng cácquy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về xóa án tích, chúng ta có thể đưa ra
Trang 12định nghĩa khoa học về án tích như sau: Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội mà người bị kết án phải chịu hình phạt theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, gánh chịu trong thời hạn nhất định kể từ khi bản án đó có hiệu lực pháp luật cho đến khi hậu quả pháp lý đó được xóa bỏ theo quy định của pháp luật.
1.2.2 Các đặc điểm pháp lý cơ bản của án tích
Như vậy, xung quanh việc định nghĩa án tích, trong giới nghiên cứu khoahọc luật nói chung đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, theo tôi,
để định nghĩa được án tích một cách chính xác nhất thì trong định nghĩa án tíchphải được đưa ra cần thể hiện được bản chất pháp lý, điều kiện, nội dung cũngnhư giới hạn của án tích
- Đặc điểm thứ nhất: Án tích là một phần nội dung của trách nhiệm hình
sự
Trách nhiệm hình sự (TNHS) là một loại trách nhiệm pháp lý được áp dụngđối với người thực hiện hành vi bị BLHS coi là tội phạm Vì vậy, với đặc trưngcủa án tích là một phần nội dung của TNHS đồng nghĩa với việc nó cũng là mộtloại trách nhiệm pháp lý Cho nên, nếu không có việc thực hiện hành vi bị luậthình sự coi là tội phạm thì không thể bị truy cứu TNHS và không thể bị Tòa ánkết tội, từ đó sẽ không phát sinh án tích Nói cách khác, án tích chính là mộtphần nội dung của TNHS, thể hiện hậu quả pháp lý bất ợi mà người phạm tộiphải gánh chịu, đồng thời thể hiện tính nghiêm khắc của pháp luật hình sự đốivới người phạm tội
- Đặc điểm thứ hai: Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của người của người
bị kết án bị áp dụng hidnh phạt theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật củaTòa án
Lý luận và thực tiến cho thấy không phải bất cứ người phạm tội nào đã bịkết án và bản án của người đã có hiệu lực pháp luật cũng đều mang án tích Ví
dụ, trong trường hợp người phạm tội đã bị kết án nhưng được miiến hình phạt(Khoản 1 Điều 64 BLHS) Những trường hợp mang án tích chỉ là những người
bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòaán và bị áp dụng hìnhphạt theo quy định của BLHS Ngoài ra, những người bị kết án nhưng được áp
Trang 13dụng các biện pháp tư pháp như đưa vào trường giáo dưỡng, giáo dục tại xã,phường, thị trấn theo quy định tại Điều 7 BLHS hay biện pháp bồi thường về vậtchất, buộc công khai xin lỗi người bị hại theo quy định tại Điều 42 BLHS thì sẽkhông phải chịu hậu quả pháp lý này Như vậy, rõ ràng chế định này cũng chính
à đặc trưng cơ bản đánh giá mức độ nghiêm khắc của hình phạt so với các biệnpháp tư pháp khác
Sự bất lợi của một người khi mang án tích được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất: Nếu người đang trong thờigian mang án tích lại phạm tội mới do
cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý thì xácđịnh là tái phạm (khoản 1 Điều 49 BLHS) hay người đã bị kết án vềtội rấtnghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, đã tái phạm và chưa được xóa
án tích mà lại phạm tội do cố ý thì được xác định là tái phạm nguy hiểm (khoản
2 Điều 49 BLHS) Như vậy, sự bất lợi đó là việc người đnag mang án tích cópthể bị áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 48 BLHStrong quá trfnh định khung hình phạt và quyết định hình phạt
Thứ hai: Trong lý lịch tư pháp của người mang án tích và các giấy tờ chứngthực về nhân thân người đó sẽ ghi “có tiền án”, như vậy, rõ ràng án tích như một
“vết nhơ” trongl ý lịch của người mang án tích Người mang án tích sẽ bị hạnchế một số quyền của mình trong cuộc sống hàng ngày và việc quy định củapháp luật áp dụng đối với người đnag mang án tích như vậy là hoàn toàn đúngđắn, xuất phát từ chính sách phòng ngừa tội phạm nói chung trong pháp luậthình sự Việt Nam
- Đặc điểm thứ ba: Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết
Trang 14tiết giảm nhẹ hay tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 46, Điều 48 BLHS.
Về nhân thân của người bị kết án và bị áp dụng hình phạt còn thể hiện ở chỗ nóchỉ ra rằng người đang mang án tích tường là “tội phạm” đã thực hiện hành vinguy hiểm và gây ra những hậu quả nguy hại cho xã hội được Nhà nước và phápluật bảo vệ
Tuy nhiên, án tích phản ánh đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết án
và bị áp dụng hình phạt chỉ được hiểu khi người đó đang còn án tích, khi đã xóa
án tích hoặc trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì việc phạm tộicủa họ trước đây không được coi là nhân thân xấu để căn cứ quyết định hìnhphạt trong tố tụng hay trong các quan hệ xã hội khác
1.2.3 Bản chất pháp lý của án tích
Từ sự phân tích các đặc điểm cơ bản trên đây của án tích cũng như trênphương diện ý luạn khoa học luật hình sự và thực tiễn áp dụng các quy phạmcủa pháp luật hình sự về án tích, chúng ta có thể khẳng định bản chất pháp lýcủa án tích như sau:
Án tích là một chế định quan trọng trong pháp luật hình sự, việc xóa bỏ đi
án tích thể hiện chính sách hình sự nhận đạo của Đảng và Nhà nước tađược quyđịnh trong BLHS, người bị kết án sẽ chấm dứt hoàn toàn TNHS khi người đóđáp ứng được đầy đủ những điều kiện và yêu cầu của pháp luật hình sự để Tòa
án ra quyét định xóa án tích hay trong trường hợp đương nhiên xóa án tích
Trang 15Chương 2
Trang 16CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Chế định án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
BLHS Việt Nam năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 không quy định ántích trong một chương riêng mà mới chỉ quy định một nội dung của án tích đó làvấn đề xóa án tích, chưa có định nghĩa thế nào là án tích và các nội dung xungquanh vấn đề này như thời điểm bắt đầu có án tích, thời điểm kết thúc án tích,…Theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành thì chế định án tích được thể hiệnvới các nội dung sau:
2.1.1 Vấn đề xóa án tích
Điều 63 về xóa án tích quy định: “Người bị kết án được xóa án tích theoquy định tại các Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này Người được xóa án tíchcoi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận”
Xóa án tích là sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết án không cònmang án tích vì vậy không còn chịuh ậu quae nào do việc kết án mang lại haynói cách khác xóa án tích là việc chấm dứt hoàn toàn TNHS đối với người bị kết
án
Trong pháp luật hình sự, kết án là một sự kiện pháp lý, Tòa án không chỉbuộc tộ mà còn áp dụng hình phạt đối với ngườ phạm tội Với bản án buộc tội
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng vớ quyết định hình phạt, người bị kết
án phải chấp hành hình phạt Như vậy, việc kết án là một hiện tượng khách quankhông thể xóa bỏ, đó chính là lý do tại sao ở Chương IX BLHS Việt Nam năm
1990 không dùng thuật ngữ “xóa án” như cách gọi của BLHS năm 1985 mà lạidùng thuật ngữ “xóa an tích” với cách hiểu theo nghĩa gốc là án vốn dĩ đã tồntại, chỉ có thể xóa được “vết tích” của án đó mà thôi
Việc Tòa án kết án một người là sự đánh giá chính thức về mặt Nhà nướcđối với hành vi phạm tội mà người đó gây ra cho xã hội Hậu quả trực tiếp của
sự đánh giá đó là người phạm tội phải chịu hình phạt và mang án tích trong mộtthời gian nhất định, thời gian từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đếnkhi được xóa án tích Nếu trong thời gian này (Thời gian chưa được xóa án
Trang 17tích), người bị kết án lại phạm tội mới thì sẽ căn cứ để xem xét hành vi phạmtoọi đó là vi phạm hành chính hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong lĩnh vựchình sự Đồng thời là căn cứ để hạn chế một số quyền công dân như quyền xuất,nhập cảnh, hành nghề luật sư….
Ngoài ra, BLHS quy đnhj xóa án tích còn thể hiện chính sách hình sự nhậnđạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người chấp hành xong hình phạt, tạo điềukiện cho họ làm ăn và sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho
có tiền án” hoặc “tiền án: Không”, điều đó thể hiện chính sách hình sự nhân đạotrong pháp luật hình sự Việt Nam
2.1.2 Về đương nhiên xóa án tích
Đương nhiên xóa án tích được quy định tại Điều 64 BLHS Việt Nam năm
1999 như sau:
Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích:
1 Người được miễn hình phạt.
2 Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây: a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;
c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;
Trang 18d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm.
Mặc dù pháp luật hình sự chưa đưa ra khái niệm pháp lý thế nào là đươngnhiên xóa án tích, nhưng theo một số quan điểm phổ biến thì: “Đương nhiên xóa
án tích là trường hợp ngườ bị kết án mặc nhiên được coi là chưa cán án màkhông cần phài có sự xem xét, quyết định của Tòa án
Khác với việc xóa án tích theo quyết định của Tòa án, người bị kết án phải
có đơn xin yêu cầu cấp giấy chứng nhận xóa án tích khi đáp ứng đâyf đủ các yêucầu theo luật định, thì đương nhiên xóa án tích tránh được những thủ tục pháp lýphức tạp mà người được xóa án tích theo quyết định của Tòa án phải làm nhưviết đơn và xin các giấy tờ chứng nhận kèm theo gửi tới Tòa án có thẩm quyềnsau đó chờ phán quyết của Tòa án thì mới được coi là chưa có án
Điều 64 BLHS quy định về đương nhiên được xóa án tích được áp dụngđối vớ hai nhóm người: Người được miễn hình phạt và người bị kết án khôngphải về các tội được quy địnhtịa Chương XI – Các tội xâm phạm an ninh quốcgia và Chương XXIV – Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạmchiến tranh Trong BLHS, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đókhông phạm tội mới trong thời hạn được quy định trong điều này
Điều 64 BLHS năm 1999 còn quy định phạm vi rộng hơn các tội thuộctrường hợp đương nhiên được xóa án tích Thời gian để được đương nhiên xóa
án tích cũng được rút ngắn đáng kể so với BLHS năm 1985 Ngoài ra, liên quanđến thời hạn để người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, ngoài việc quyđịnh thời hạn để người bị kết án đương nhiên được xóa án tích theo quy định tạikhoản 2 Điều 64 BHS thì thời gian được rút ngắn so với quy định Quy định tạiĐều 66 BLHS năm 1999 còn án định một thời gian nhất định đối với người bịkết án nếu có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt hoặc có những thành tích khác đápứng được các yêu cầu, quy định của pháp luật thì có thể được Tòa án xem xétquyết định xóa án tích trước thời hạn quy định
2.1.3 Về xóa án tích theo quyết định của Tòa án
Điều 65 BLHS năm 1999 quy định:
Trang 191 Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã bị kết
án về các tội quy định tại Chương XI và Chương XIV của Bộ luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án trong các trường hợp sau đây:
a) Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn
ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;
b) Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc
từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;
c) Đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.
2 Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích.
Xóa án tích theo quyết định của Tòa án khác với đương nhiên được xóa ántích ở chỗ người bị kết án được Tòa án xem xét, quyếtđịnh xóa án tích và cấpgiấy chứng nhận cho người đó Theo quy định của pháp luật hình sự, xóa án tíchtheo quyết đnhj của Tòa án chỉ áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâmphạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạmchiến tranh Để được Tòa án xóa án tích, người bị kết án phải đáp ứng đầy đủcác điều kiện quy địnhtại khoản 1 Điều 65 BLHS năm Như vậy, nếu so sánh vềthời gian thử thách thì thời gian thử thách để Tòa án xóa án tích dài hơn so vớiviệc đương nhiên được xóa án tích, điều này thể hiện chính sách hình sự nhấtquán của Đảng và Nhà nước ta trong việc phân hóa TNHS
Ngoài những điều kiện như thời gian thử thách bắt buộc đối với người bịkết án tính từ khi chấp hanh xong bản án và các điều kiện phạm tội mới trongkhoảng thời gian đó Khi Tòa án xem xét quyết định xóa án tích co những người
Trang 20bị kết án quy định tại Điều 65 BHS phải căn cứ vào tính chất của tội phạm đãđược thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động củangười bị kết án
Thủ tục và quy trình xóa án tích của Tòa án được quy định khá chặt chẽ, có
sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan có liên quan như VKSND… và chínhquyền địa phương theo quy định tại Thông tư liên ngành số 02 ngày 01 tháng 8năm 1986 giữa Bộ Nội Vụ, Bộ Tư pháp, TAND tối cao và VKSND tối cao,nhằm đảm bảo sự dân chủ và khách quan Từ đó cho thấy sự chặt chẽ và thânjtrọng trong việc xóa án tích đối với tội phạm có tính chất nguy hiểm cao cho xãhội được quy định tại Chương XI và Chương XXIV BLHS
Tóm lại, xóa án tích theo quyết định của Tòa án chỉ áp dụng đối với nhữngngười phạm tội thuộc Chương XI và Chương XXIV BLHS với những điều kiệnđược quy định chặt chẽ tương ứng với hành vi nguy hiểm của người đã gây racho xã hội Điều đó thể hiện chính sách phân hóa tội phạm trong pháp luật hình
sự Việt Nam đồng thời cũng thể hiện chính sách hình sự nhận đạo của Đảng vàNhà nước ta đối với người phạm tội khi người đó đã chấp hành xong bản án vàđáp ứng được đầy đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 65 BLHS vầccsquy định khác theo quy định của pháp luật
2.1.4 Về xóa án tích trong trường hợp đặc biệt
Để khuyến khích người bị kết án tích cực rèn luyện, sớm hòa nhập vớ cộngđồng, trở thành người công dân có ích cho xã hội Điều 66 BLHS Việt Nam năm
1999 quy định về xóa án tích trong trường hợp đặc biệt Quy định tại Điều 66BLHS năm 1999 như sau:
Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt
và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị, thì có thể được Toà
án xoá án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định.
Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt là trường hợp rút ngắn thời hạn đểđược xóa án tích sớm hơn so với quy định chung của pháp luật hình sự, áp dụngđối với một số trường hợp đặc biệt dựa trên sự tiến bộ của người bị kết án