1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

40 223 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 342,5 KB
File đính kèm HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM.rar (59 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình phạt là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được quy định trong luật Hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội theo thủ tục do luật định, để tước hoặc hạn chế một số quyền

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ, trật tự xã hội, Nhà nước ta dùng nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý… vừa có tính thuyết phục, vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm Các biện pháp này đan xen hỗ trợ nhau và tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể của công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm trong từng thời kỳ mà biện pháp này hay biện pháp kia được đặt lên hàng đầu Trong các biện pháp đấu tranh đó, hình phạt tuy không phải là biện pháp đầu tiên, biện pháp quyết định nhưng nó giữ một vai trò rất quan trọng Hình phạt là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được quy định trong luật Hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội theo thủ tục do luật định, để tước hoặc hạn chế một số quyền hay lợi ích đối với người bị kết án Hình phạt có mục đích giáo dục, cải tạo người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội, phòng ngừa họ phạm tội mới và phòng ngừa những người khác phạm tội Hình phạt còn giáo dục mọi người tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm Trong lịch sử pháp luật hình sự các nước trên thế giới, lịch sử pháp luật Việt Nam, hình phạt đã thực sự trở thành công cụ, một phương thức có hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm Nhà nước coi hình phạt như là một công cụ

hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của xã hội, của Nhà nước "Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó" (C.Mác) Tuy nhiên, trong các thời đại khác nhau, ở

các kiểu nhà nước khác nhau, hình phạt được quan niệm và sử dụng ở mức độ và những xu hướng cũng khác nhau tùy thuộc vào bản chất của giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý

và truyền thống của mỗi nước, mỗi dân tộc Nhìn chung ở các thời đại trước và ở các xã hội có chế độ bóc lột thì hình phạt được sử dụng ở mức độ rất nghiêm khắc

và nhằm mục đích trừng phạt là chính Ngược lại, ở nhà nước xã hội chủ nghĩa, hình phạt vẫn được coi là công cụ hữu hiệu để đấu tranh chống tội phạm, tính nghiêm khắc và sự trừng phạt của hình phạt vẫn được duy trì nhưng mục đích không để trừng phạt người phạm tội mà là giáo dục cải tạo người phạm tội.

Trang 2

Từ trước đến nay có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến hình phạt, hệ thống hình phạt Tuy nhiên, việc nghiên cứu diễn ra ở nhiều cấp

độ, bình diện khác nhau, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về hình phạt Bên cạnh đó, thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam

đã và đang gặp không ít những vướng mắc khi quy định và áp dụng hình phạt Việc xác định ý nghĩa xã hội - pháp lý cũng như hiệu quả hình phạt nói chung và các loại hình phạt nói riêng cũng là một vấn đề nan giải, điều đó được chứng minh trên thực

tế rằng không phải cứ áp dụng hình phạt thật nặng thì tội phạm sẽ giảm.

Hơn nữa, trong thời gian qua, việc nghiên cứu pháp luật hình sự chưa làm rõ những dấu hiệu căn bản của từng loại hình phạt, vai trò và khả năng của nó trong việc giáo dục chung, phòng ngừa riêng trong tổng thể các hình phạt được pháp luật quy định cũng như trong các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, đáp ứng được yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta.

Hiện nay, đất nước ta trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập và giao lưu quốc tế thì hình phạt cần được nghiên cứu để làm rõ mục đích, tính chất, tác dụng, hiệu quả của hình phạt trong luật hình sự, quy định đầy đủ các hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm; quy định khung hình phạt tương xứng với từng tội phạm cụ thể; làm rõ điều kiện áp dụng và thi hành từng loại hình phạt Từ đó, cần đề ra những kiến nghị có

cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt đối với tội phạm.

Xét xử đúng, khách quan là vô cùng quan trọng song các bản án không thi hành được hoặc thi hành không đúng thì lao động của toàn bộ hệ thống cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và các hoạt động bổ trợ tư pháp khác mất hết ý nghĩa Trong

đó, việc thi hành các loại hình phạt khác nhau, đặc biệt là hình phạt tù là hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án góp phần đảm bảo quyền con người, quyền công dân; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Hiệu lực và hiệu quả của toàn bộ hệ thống tư pháp thể hiện ở giai đoạn thi hành án Đây là hoạt động hành chính tư pháp phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là quyền của con người do nhiều cơ quan nhà

Trang 3

nước có thẩm quyền phối hợp tổ chức thực hiện, nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh Tuy nhiên, thi hành án các loại hình phạt khác nhau hiện nay còn chưa được nhận thức một cách thống nhất Thực tiễn thi hành hình phạt vẫn còn nhiều tồn tại như: Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng không được thi hành; người bị kết

án tù, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng họ vẫn chưa đi chấp hành hình phạt tù tại trại giam; việc quản lý người bị kết án được hoãn hay tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù còn để xảy ra nhiều đối tượng lợi dụng bỏ trốn Công tác quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân trong các trại giam còn nhiều yếu kém, sơ hở, vi phạm, để phạm nhân phạm tội trong trại giam, trốn trại vẫn còn xảy ra, nhiều đối tượng sau khi ra khỏi trại giam đã gây ra những vụ án nghiêm trọng; việc hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân và công tác tái hòa nhập cộng đồng chưa thực hiện tốt, đặc biệt là chưa được xã hội hóa dẫn đến tỷ lệ tái phạm trong số những người đã chấp hành xong hình phạt tù còn khá cao Đặc biệt là công tác thi hành án đối với hình phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ còn lỏng lẻo, chưa đúng theo quy định

Nghiên cứu về hình phạt gắn liền với nhu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự trong cải cách tư pháp, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đã đặt ra vấn đề cải cách các cơ quan

tư pháp, trong đó làm rõ vai trò trung tâm của Tòa án trong việc quyết định hình phạt, cũng như hoàn thiện cơ chế thi hành án các loại hình phạt khác nhau đảm bảo thi hành nghiêm bản án, đảm bảo quyền con người, quyền công dân

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên nói lên tính cấp thiết của việc nghiên cứu

đề tài: "Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" và cũng chính là lý do mà tác giả chọn đề tài này là Tiểu luận đối với học viên

Lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử.

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học, sách báo pháp lý chuyên ngành trong nước nghiên cứu ở các mức độ và các bình diện khác nhau về đề tài hình phạt

và hệ thống hình phạt như: "Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam" của tập thể tác

giả Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia, 1995; "Tội phạm học, Luật hình sự và Tố tụng hình sự" của tập thể tác giả do

GS, TSKH Đào Trí Úc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1995; Luận án

tiến sĩ Luật học: "Các hình phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Sơn; một số luận văn thạc sĩ Luật học viết về đề tài hình phạt như: "Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Vĩnh; "Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của Đặng Đức Thạo;

"Những vấn đề về hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Phi Hùng; "Các hình phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam" của Lê Văn Hường…

Ngoài ra, cũng có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về vấn đề này Nhìn chung, các công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu có tính chất tổng thể hoặc là về những vấn đề chung của hệ thống hình phạt, hoặc là về một hình phạt cụ thể nào đó hay nghiên cứu về công tác thi hành án hình sự Các công trình nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa lý luận rất cao đối với vấn đề lập pháp hình sự nói chung và hình phạt trong Luật hình sự nói riêng Ở góc nhìn của một cán bộ Tòa

án, tác giả xin phép được nêu lên trong đề tài hiểu biết, nhận thức của mình về vấn

đề lý luận về hình phạt trong Luật hình sự và minh họa bằng số liệu cụ thể tại địa phương mình công tác để làm rõ hơn tình hình về việc áp dụng hình phạt của cơ quan xét xử cũng như những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án hình

sự tại địa phương Đề tài có lồng ghép nêu lên một số điểm mới về hình phạt trong

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để làm sinh động thêm nội dung Qua đó, nêu lên kiến nghị để công tác áp dụng pháp luật hình sự nói chung

và áp dụng hình phạt nói riêng của Tòa án nhân dân ngày càng nâng cao về tính chính xác, khách quan, đảm bảo thi hành được bản án nhằm nâng hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, ngừa tội phạm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội

3 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Để đạt được mục tiêu trên đây, các vấn đề khoa học được tiếp cận trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm;

về cải tạo, giáo dục người phạm tội; về tính nhân đạo của pháp luật, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài.

Tiểu luận sử dụng một số phương pháp tiếp cận để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tương ứng, đó là các phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, lý luận kết hợp với thực tiễn.

4 Những đóng góp mới về mặt khoa học của tiểu luận

Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến hình phạt Tuy nhiên, từ góc nhìn của một cán bộ Tòa án, tác giả xin nêu lên nhận thức của mình về vấn đề lý luận đối với hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, đánh giá việc áp dụng hình phạt của Luật hình sự trong thực tiễn tại địa phương Nghiên cứu thực tiễn áp dụng và thực tiễn thi hành hình phạt để tìm ra đâu

là căn nguyên của những vướng mắc, bất cập của thực trạng trong công tác xét xử cũng như thi hành án hình sự hiện nay Trên cơ sở thực tiễn, tiểu luận có những kiến nghị khoa học góp phần hoàn thiện chính sách hình sự của Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

5 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, kiến nghị và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của tiểu luận gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam Chương 2: Thực trạng áp dụng hình phạt ở Việt Nam, liên hệ thực tiễn ở địa phương Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt trong

Luật hình sự Việt Nam

Chương 1

Trang 6

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm và mục đích của hình phạt

1.1.1 Khái niệm hình phạt

Trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau trong khoa học Luật hình sự Việt Nam và nước ngoài về khái niệm hình phạt, các đặc điểm và mục đích của hình phạt, tác giả đã đưa ra khái niệm khoa học về hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật, vì thế nó được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, thần học, giáo dục học, đạo đức học, tâm lý học, tội phạm học, khoa học Luật hình sự.

Trong lĩnh vực khoa học Luật hình sự, hình phạt là một trong những đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trong đó việc làm sáng tỏ khái niệm hình phạt là một vấn đề hết sức quan trọng Tuy vậy, về vấn đề này trong khoa học Luật hình sự trong và ngoài nước từ trước đến nay vẫn còn tồn tại hai loại quan điểm khác nhau.

Ở Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của khoa học luật hình sự trên thế giới, các nhà nghiên cứu Luật hình sự nước ta luôn đi theo tư tưởng tiến bộ, nhân đạo về hình phạt nên đã đưa ra những quan niệm về hình phạt mà về cơ bản là thống nhất Mặc dù, trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định, chẳng hạn có ý kiến cho rằng: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong Luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm trừng trị và giáo dục họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” Bên cạnh đó là quan niệm: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất do luật quy định được Tòa án nhân dân nhân danh Nhà nước quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án” Định nghĩa pháp lý về hình phạt cũng được ghi nhận tại Ðiều 26 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS) năm 1999 như sau:

"Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ

Trang 7

hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định".

Như vậy, trong khoa học Luật hình sự Việt Nam và nước ngoài, cũng như trong luật thực định, đã có những quan niệm khác nhau về hình phạt và hầu như mỗi quan niệm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý, nó đã chỉ ra một cách tương đối rõ ràng hoặc là về một hoặc nhiều khía cạnh cơ bản của hình phạt.

Tóm lại, trên cơ sở tổng kết những quan điểm của các học gia trong và ngoài nước về khái niệm hình phạt và những quy định cụ thể của Luật hình sự Việt Nam,

có thể đưa ra khái niệm khoa học về hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được luật quy định, do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của họ nhằm giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm, bảo đảm cho Luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Để làm rõ thêm khái niệm của hình phạt nêu trên, tác giả xin nêu lên những đặc điểm (dấu hiệu) nhận biết để phân biệt với các chế định khác trong hệ thống pháp luật, phần này được làm rõ tại tiểu mục 1.1.2 và mục đích của hình phạt được làm rõ tại tiểu mục 1.1.3 ở phần tiếp theo

1.1.2 Đặc điểm của hình phạt

Nghiên cứu cho thấy, hình phạt có những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản sau:

- Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước

Hình phạt với tính chất là biện pháp trách nhiệm hình sự được Nhà nước sử dụng như là một công cụ, phương tiện quan trọng để trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội Nó thông thường gắn liền với việc áp dụng cưỡng chế của Nhà nước Tính cưỡng chế của hình phạt, tức là dùng quyền lực Nhà nước bắt phải tuân theo, được thể hiện ở nội dung trừng trị là một đặc điểm cơ bản của hình phạt; đặc điểm này cho phép phân biệt hình phạt với các biện pháp tác động xã hội khác Không có trừng trị thì không thể nói đến việc thực hiện các chức năng bảo vệ, phòng ngừa tội phạm của hình phạt, không thể nói nó là công cụ, phương tiện quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

- Hình phạt là sự thống nhất giữa trừng trị và cải tạo, giáo dục

Hình phạt theo Luật hình sự Việt Nam trước hết thể hiện ở chỗ nó tác động

Trang 8

trực tiếp đến người phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ không phạm tội mớ Với nội

dung là sự tước bỏ, hạn chế nhất định về quyền và lợi ích của người phạm tội theo quy định của pháp luật, hình phạt bản thân là trừng phạt của Nhà nước đối với người phạm tội Như vậy, nội dung của hình phạt trước hết là trừng trị, nếu không

có trừng trị thì không có hình phạt Tuy nhiên, bên cạnh trừng trị thì còn có cả nội dung giáo dục, cải tạo Chúng ta chỉ có thể nói đến hình phạt khi có sự tồn tại của hai yếu tố đó Nếu hình phạt chỉ có nội dung trừng trị mà không có nội dung giáo dục, cải tạo thì nó chỉ là biện pháp trả thù thuần túy Mối quan hệ giữa cưỡng chế

và thuyết phục cũng như giữa trừng trị và cải tạo, giáo dục trong hình phạt mang tính biện chứng, chúng luôn luôn vận động, chuyển biến, tác động qua lại với nhau.

- Hình phạt gắn liền với tội phạm

Pháp luật hình sự là bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng được quy định bởi

cơ sở kiến trúc hạ tầng Quy định hành vi nào là tội phạm và xử lý bằng loại hình phạt nào là thuộc về chính sách hình sự của Nhà nước, song chính sách đó "lại hoàn toàn không phải là sản phẩm của ý muốn chủ quan mà nó được quy định bởi nhu cầu xã hội đối với việc điều chỉnh và bảo vệ các quan hệ xã hội" Như vậy, cũng như tội phạm, hình phạt cũng phản ánh rõ nét nhu cầu xã hội trong từng giai đoạn phát triển của nó.

Hình phạt gắn với tội phạm là một đặc điểm của hình phạt Chừng nào, Nhà nước còn cần đến Luật hình sự và hình phạt thì nguyên tắc pháp lý cơ bản này sẽ làm nổi bật vị trí, vai trò của Luật hình sự và hình phạt và cho phép phân biệt với các ngành luật khác cũng như các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước Hình phạt chỉ được áp dụng và chỉ cho phép được áp dụng với tính chất là sự phản ứng Nhà nước và xã hội đối với tội phạm; nó là sự phủ định công khai, quyết liệt đối với tội phạm, là thể hiện sự không thể dung thứ của nhà nước và xã hội đối với các hành vi phạm tội Nhận thức rõ ràng về mối quan hệ giữa tội phạm và hình phạt như vậy có ý nghĩa định hướng quan trọng cho thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

- Hình phạt được luật quy định

Là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc, hình phạt chỉ có thể và phải được quy định chặt chẽ trong đạo luật quy định về tội phạm, chỉ có luật mới có thể

Trang 9

xác định hình phạt cho mỗi tội phạm và quyền làm luật chỉ có thể trao cho nhà làm luật - Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất của Nhà nước đảm nhiệm Ở Việt Nam, chỉ có Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất có thẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật quy định về tội phạm - tội phạm hóa (phi tội phạm hóa) và về hình phạt - hình sự hóa (phi hình sự hóa).

Yêu cầu hình phạt phải được văn bản pháp luật quy định là cơ sở quan trọng bảo đảm tính thống nhất trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm các quyền cơ bản của công dân không bị xâm phạm bởi sự tùy tiện trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Ðây không chỉ là một biểu hiện của nguyên tắc pháp chế trong việc quy định hình phạt, mà nó còn là sự thể hiện hiệu lực pháp luật của hình phạt.

- Hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án

Nguyên tắc pháp chế không chỉ ở khía cạnh quy định hình phạt, mà còn thể hiện ở hiệu lực thi hành của hình phạt Trong Bộ máy nhà nước, chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất mới có quyền nhân danh Nhà nước quyết định một người có phải chịu hình phạt hay không và nếu phải chịu thì loại và mức hình phạt cụ thể được áp dụng như thế nào Nghiên cứu cho thấy, trong các lĩnh vực khác không phải hình sự không bắt buộc Tòa án phải giải quyết, các đương sự có thể lựa chọn cách giải quyết khác, không thông qua Tòa án Còn trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ

án phải thông qua các giai đoạn tố tụng hình sự được quy định rất chặt chẽ, nghiêm ngặt Ðiều này xuất phát từ hậu quả pháp lý của việc giải quyết vụ án hình sự có ảnh hưởng rất lớn đến người phạm tội, biểu hiện cụ thể qua việc quyết định hình phạt như đã trình bày ở trên Vì thể, toàn Bộ quá trình tố tụng hình sự đưa đến việc Tòa án xét xử để định tội và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội đều do các

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước tiến hành, đó là: Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra tội phạm; Viện kiểm sát thực hiện công tác kiểm sát điều tra, thực hành quyền công tố của Nhà nước, thay mặt Nhà nước truy tố bị can và buộc tội bị cáo trước Tòa án Còn Tòa án thực hiện hoạt động xét xử theo trình tự Luật tố tụng hình sự quy định Hình phạt do Tòa án quyết định phải được tuyên một cách công khai bằng một bản án và phải là kết quả của một phiên tòa xét xử hình sự với đầy đủ trình tự, thủ tục do Luật tố tụng hình sự quy định Nguyên tắc pháp chế đòi

Trang 10

hỏi Tòa án chỉ được áp dụng hình phạt đối với những hành vi được pháp luật coi là tội phạm và hình phạt ấy phải được quy định trong hệ thống hình phạt hiện hành và trong chế tài của điều luật cụ thể quy định cấu thành tội phạm Khi quyết định hình phạt đối với từng trường hợp cụ thể, Tòa án phải tuân theo trình tự và các điều kiện

áp dụng từng loại hình phạt cụ thể, có nghĩa vụ phải tôn trọng giới hạn đã được xác định bởi luật và chỉ có thể áp dụng các hình phạt được Luật hình sự quy định Tòa

án không những không có quyền thiết lập hình phạt mới, không được quy định thêm nội dung, điều kiện và phạm vi của hình phạt, mà còn phải hành động trong những giới hạn mà nhà làm luật đã định Tòa án không có quyền quyết định hình phạt vượt mức tối đa mà khung hình phạt quy định đối với tội phạm được xét xử, nếu quyết định hình phạt vượt mức tối đa hay tuyên thêm một hình phạt, bao gồm

cả hình phạt bổ sung ngoài trường hợp luật định, phán quyết của Tòa án sẽ bị các Tòa án cấp trên sửa đổi, hủy bỏ Tuy nhiên, trong giới hạn luật định, Tòa án có quyền, tùy theo từng trường hợp phạm tội cụ thể tuyên hình phạt gắn mức tối đa hay gắn mức tối thiểu luật định Ngoài ra, Luật hình sự nhiều nước, trong đó có Luật hình sự Việt Nam còn cho phép Tòa án hai đặc quyền: áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất luật định hoặc áp dụng hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn luật định.

- Hình phạt là công cụ bảo đảm cho Luật hình sự thực hiện được nhiệm

vụ bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm

Ở Việt Nam đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, định hướng chủ yếu của đấu tranh phòng và phòng ngừa tội phạm nằm trong việc tiếp tục phát triển và mở rộng các mối quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa Cùng với việc củng cố và phát triển các mối quan hệ xã hội trong tổng thể của nó thì sự phát triển của Nhà nước và Pháp luật, trong đó có Luật hình sự với tư cách là các phương tiện quyền lực của giai cấp công nhân và tất cả người dân lao động đóng vai trò cơ bản Trong quá trình xây dựng có tính chất cách mạng các quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa, hình phạt nói chung và hình phạt bổ sung nói riêng là chế định đặc thù của Luật hình sự, cho nên chức năng, nhiệm vụ của Luật hình sự cũng đương nhiên là chức năng, nhiệm vụ của hình phạt, nhất là các chức năng bảo vệ, phòng ngừa tội phạm - các chức năng chuyên biệt, đặc thù riêng của Luật hình sự Hình phạt có thể bảo đảm cho Luật hình sự thực hiện được những

Trang 11

chức năng, nhiệm vụ nói trên, bởi khi áp dụng nó góp phần bảo vệ những quan hệ

xã hội là đối tượng bảo vệ của Luật hình sự, đó là lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của các tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục, cải tạo người bị kết án không phạm tội mới, đồng thời hình phạt còn nhằm giáo dục mọi công dân tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

1.1.3 Mục đích của hình phạt

Theo Luật hình sự Việt Nam mục đích của hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 27 BLHS năm 1999).

Như vậy, Luật hình sự Việt Nam thừa nhận mục đích của hình phạt nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và các nội dung trên để phục vụ mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Trong khoa học Luật hình sự, từ lâu đã có sự tranh luận về vấn đề: Trừng trị

có phải là mục đích của hình phạt hay không, hay là thuộc tính của hình phạt? Đa

số các nhà luật học quan niệm mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội để họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới cũng như việc giáo dục phòng ngừa chung Nhưng cũng có quan niệm cho rằng: Trừng trị là mục đích của hình phạt, bởi

vì để bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, bảo vệ sự công bằng xã hội thì không có lý

do gì người có lỗi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm lại không bị trừng phạt.

Theo chúng tôi, trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức để thực hiện hình phạt Và vì vậy, trừng trị là nội dung quan trọng nhất của hình phạt Nếu không có nó thì sẽ không có hình phạt Trừng trị là tiền đề quan trọng cho việc đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm Chính vì vậy trừng trị là nội dung không thể thiếu được của hình phạt mà khi quy định hoặc xác định hiệu quả của một loại hình phạt nào đó yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá được khả năng trừng trị của nó Nội

Trang 12

dung trừng trị để: Giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và các nội dung trên để phục vụ mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa Thông qua việc áp dụng hình phạt làm cho người phạm tội nhận thức rõ được những lỗi lầm, sai trái hành vi phạm tội của mình để cải tạo và giáo dục họ trở thành công dân có ích cho xã hội.

Hình phạt còn có mục đích ngăn ngừa người bị kết án phạm tội mới Đây là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt Tuy nhiên, việc phạm tội mới hay không phạm tội mới không phải là tiêu chí duy nhất trong việc đánh giá kết quả cải tạo của người phạm tội và hiệu quả của hình phạt, bởi lẽ nguyên nhân của việc tái phạm có thể rất khác nhau.

Hình phạt còn có mục đích giáo dục phòng ngừa chung Mục đích phòng ngừa chung được thể hiện ở việc ngăn ngừa người khác phạm tội Nhà nước quy định hình phạt trong BLHS và đặc biệt khi áp dụng hình phạt đối với người có hành vi phạm tội, trong từng trường hợp cụ thể không chỉ tác động trực tiếp đến chính bản thân người phạm tội mà còn tác động đến tâm lý những người khác trong xã hội

Với sự răn đe này hình phạt có mục đích ngăn ngừa giáo dục những người

"không vững vàng" tuân theo pháp luật, từ bỏ ý định phạm tội hoặc thận trọng hơn trong xử sự để tránh xử sự của mình trở thành phạm tội

Đối với các thành viên khác trong xã hội, hình phạt có mục đích giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật cho họ, động viên khuyến khích mọi người trong xã hội tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

1.2 Hệ thống hình phạt theo Pháp Luật hình sự Việt Nam

Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành quy định 2 loại hình phạt sau:

- Hình phạt chính: Là hình phạt cơ bản được áp dụng cho một tội phạm và được tuyên độc lập; đối với mỗi tội phạm tòa án chỉ có thể tuyên độc lập 1 hình phạt chính, bao gồm 7 loại chính: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình.

- Hình phạt bổ sung: Là hình phạt không được tuyên độc lập mà chỉ có thể

Trang 13

tuyên kèm theo hình phạt chính Đối với mỗi tội phạm tòa án có thể tuyên một hoặc nhiều hình phạt bổ sung nếu điều luật có quy định các hình phạt này, bao gồm 7 loại hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền; Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính.

1.2.1 Các hình phạt chính

- Cảnh cáo (Điều 29 BLHS): Là loại hình phạt có mức độ nghiêm khắc nhẹ

nhất trong hệ thống các hình phạt chính, không có khả năng đưa lại những hạn chế pháp lý liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi ích về thể chất, tài sản đối với người bị kết án mà chỉ gây ra những tổn hại về mặt tinh thần.

Nói về các điều kiện áp dụng hình phạt cảnh cáo, Điều 29 BLHS quy định:

“Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt”

- Phạt tiền (Điều 30 BLHS): Là hình phạt tước của người bị kết án một

khoản tiền nhất định sung quỹ Nhà nước Hình phạt tiền là một trong hai hình phạt

trong hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam có thể áp dụng vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung Về bản chất, hình phạt tiền tước ở người bị kết

án một số quyền về vật chất, tác động đến kinh tế (tài sản), thông qua đó mang lại hiệu quả của hình phạt Về điều kiện áp dụng hình phạt tiền, khoản 1 Điều 30

BLHS hiện hành quy định: “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định”.

- Cải tạo không giam giữ (Điều 31 BLHS): Là hình phạt không buộc người

bị kết án phải cách ly khỏi xã hội Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Toà

án “giao người bị cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục”.

Thời gian cải tạo không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến ba năm Về điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, theo quy định tại khoản 1 Điều 31, cải tạo không giam giữ áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng do BLHS quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi

Trang 14

thường trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

- Trục xuất (Điều 32 BLHS): Là hình phạt buộc người bị kết án phải rời khỏi

lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hình phạt này chỉ áp dụng đối với người nước ngoài Nếu xét thấy người nước ngoài phạm tội mà tính nguy hiểm

ở mức độ hạn chế và việc áp dụng hình phạt trục xuất đã đảm bảo tương xứng thì Toà án có thể áp dụng trục xuất với tư cách là hình phạt chính Trong trường hợp phạm tội mà tính nguy hiểm cao, việc áp dụng trục xuất như là hình phạt chính không đảm bảo được sự tương xứng thì Toà án chuyển việc áp dụng hình phạt trục xuất với tư cách là hình phạt bổ sung và áp dụng hình phạt chính là hình phạt khác cho tương xứng với tính nguy hiểm cho tội phạm đã thực hiện.

- Tù có thời hạn (Điều 33 BLHS): Là hình phạt buộc người bị kết án phải

cách ly khỏi xã hội, chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định Thời hạn phạt tù có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm Tuy nhiên, khi tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội hoặc của nhiều bản

án, mức hình phạt tù chung có thể lên đến tối đa là ba mươi năm.

- Tù chung thân (Điều 34 BLHS): Là hình phạt tù không có thời hạn, áp

dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị xử phạt

tử hình Hình phạt tù chung thân không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội (đoạn 2 Điều 34, khoản 5 Điều 69 BLHS hiện hành).

- Tử hình (Điều 35 BLHS): Là hình phạt nghiêm khắc nhất do Nhà nước áp

dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng (thường được gọi là tội tử) để

loại trừ vĩnh viễn người đó ra khỏi đời sống xã hội Theo Điều 35 BLHS 1999, “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” Trước hết, luật khẳng định, “tử hình là hình phạt đặc biệt” Tính chất đặc

biệt của hình phạt tử hình ở chỗ đây là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt Bởi vì, nếu như các loại hình phạt khác được áp dụng, người phạm tội chỉ có thể bị tước đi một số quyền hoặc lợi ích nhất định thì hình phạt tử hình đã tước đi tất cả các quyền và lợi ích của người phạm tội khi đã tước đi quyền sống của họ.

Tuy nhiên, luật định có những trường hợp không được áp dụng hình phạt tử hình theo quy định tại Điều 35 BLHS:

Trang 15

+ Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội + Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai khi phạm tội;

+ Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội;

+ Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai khi bị xét xử;

+ Không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi bị xét xử.

từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

- Cấm cư trú (Điều 37 BLHS): Cấm cư trú là buộc người bị kết án phạt tù

không được tạm trú và thường trú ở một số địa phương nhất định Thời hạn cấm cư trú là từ một năm đến năm năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù Cấm cư trú áp dụng phổ biến đối với các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm

sở hữu, và xâm phạm trật tự công cộng.

- Quản chế (Điều 38 BLHS): Quản chế là buộc người bị kết án phạt tù phải

cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định, có sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và nhân dân địa phương Trong thời gian quản chế, người

bị kết án không được tự ý ra khỏi nơi cư trú, bị tước một số quyền công dân theo

Điều 39 của Bộ luật này và bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Quản

chế được áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, người tái phạm nguy hiểm hoặc trong những trường hợp khác do Bộ luật này quy định Thời hạn quản chế là từ một năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

- Tước một số quyền công dân (Điều 39 BLHS): Công dân Việt Nam bị kết

án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật này quy định thì bị tước một hoặc một số quyền công dân

Trang 16

sau đây: Quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước; Quyền làm việc trong các cơ quan Nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân; Thời hạn tước một số quyền công dân là từ một năm đến năm năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.

- Tịch thu tài sản (Điều 40 BLHS): Là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản

thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ Nhà nước Cần lưu ý các điểm sau khi

áp dụng hình phạt tịch thu tài sản: Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong những trường hợp do BLHS quy định; tài sản tịch thu phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của người bị kết án; khi tịch thu toàn bộ tài sản nhưng vẫn để cho người bị kết

án và gia đình họ có điều kiện sinh sống.

1.3 Một số điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về hình phạt

- Về khái niệm hình phạt: Căn cứ Điều 30 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ

sung năm 2017) xin được gọi tắt là BLHS năm 2015, bổ sung khái niệm hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS năm 2015, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.

- Về mục đích của hình phạt: Căn cứ Điều 31 BLHS năm 2015, bổ sung

thêm mục đích của hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục

họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa

và đấu tranh chống tội phạm.

- Bổ sung thêm các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

Căn cứ Điều 33 BLHS năm 2015 Đây là quy định mới đặc biệt quan trọng tại BLHS năm 2015 mà cần phải có những hướng dẫn chi tiết để áp dụng.

* Hình phạt chính bao gồm:

+ Phạt tiền.

Trang 17

+ Đình chỉ hoạt động có thời hạn.

+ Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

* Hình phạt bổ sung bao gồm:

+ Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định.

+ Cấm huy động vốn.

+ Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.

Đối với mỗi tội phạm, pháp nhân thương mại phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

- Về hình phạt “Phạt tiền”: Căn cứ Điều 35 và Điều 77 BLHS năm 2015 thì

quy định lại các trường hợp phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính Đồng thời,

bổ sung hình thức phạt tiền đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

- Về hình phạt “Cải tạo không giam giữ”: Căn cứ Điều 36 BLHS năm

2015, bổ sung quy định đối với trường hợp cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập ngoài các quy định như sau: Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng; không bị khấu trừ đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự Đồng thời, bổ sung quy định sau: Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần Không

áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án Hình sự.

- Về hình phạt “Tù có thời hạn”: Căn cứ Điều 38 BLHS năm 2015, ngoài

các quy định đã được nêu tại BLHS năm 1999, bổ sung quy định sau: Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô

ý và có nơi cư trú rõ ràng Đây là một quy định rất mới và cũng cần có hướng dẫn chi tiết để cơ quan xét xử có thể vận dụng, áp dụng đúng tin thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tránh lạm dụng để trục lợi

- Về hình phạt “Tù chung thân”: Căn cứ Điều 39 BLHS năm 2015, thay

Trang 18

cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi” Đồng thời quy định không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

- Về hình phạt “Tử hình”: Căn cứ Điều 40 BLHS năm 2015 quy định

như sau:

+ Quy định cụ thể về hình phạt tử hình: Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do BLHS năm

2015 quy định.

+ Thay cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi” và

bổ sung đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình là người từ đủ 75 tuổi trở lên + Bên cạnh các đối tượng không thi hành án tử hình nếu bị kết án đã được quy định tại BLHS năm 1999, bổ sung thêm các đối tượng sau: Người đủ 75 tuổi trở lên; người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn + Ngoài trường hợp được ân giảm thì trường hợp không thi hành án tử hình nêu trên cũng được chuyển từ hình phạt tử hình sang hình phạt tù chung thân.

- Về quy định tước một số quyền công dân: Căn cứ Điều 44 BLHS năm

2015, bãi bỏ quyền bầu cử khỏi nhóm quyền công dân bị tước khi vi phạm pháp luật hình sự.

- Về quy định tịch thu tài sản: Căn cứ Điều 45 BLHS năm 2015, bổ sung

thêm các trường hợp áp dụng biện pháp tịch thu tài sản Tịch thu tài sản chỉ được áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma tuý, tham nhũng hoặc tội phạm khác do BLHS năm 2015 quy định.

Nhìn chung, các quy định mới về hình phạt của BLHS năm 2015 được xây dựng trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013 là tôn trọng quyền con người, đề cao tính nhân đạo trong chế định hình sự Việt Nam, phù hợp với xu hướng hội nhập quốc tế Đồng thời, bổ sung thêm chế định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội nhằm hoàn thiện dần pháp luật hình sự Việt Nam Đây là

Trang 19

lần đầu tiên, Luật hình sự Việt Nam quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội Vì vậy, trong quá trình áp dụng không thể tránh khỏi lúng túng và vướng mắc nên Tòa án nhân dân các cấp rất cần những hướng dẫn cụ thể, chi tiết để áp dụng chế định này, cùng cần sơ, tổng kết để rút

ra những bài học, kinh nghiệm trong việc áp chế định mới này để hoàn thiện dần trong thời gian tới.

Trang 20

Chương 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÌNH PHẠT Ở VIỆT NAM, LIÊN HỆ

THỰC TIỄN Ở ĐỊA PHƯƠNG

2.1 Thực trạng áp dụng hình phạt ở Việt Nam

Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam tương đối phong phú và đa dạng với nhiều loại hình phạt khác nhau, tính chất mức độ nghiêm khắc khác nhau cho phép trong mọi trường hợp nguyên tắc công bằng và nguyên tắc cá thể hóa hình phạt có thể được thực hiện Việc nghiên cứu về hình phạt có thể được tiến hành từ nhiều góc độ Việc phân tích quy định pháp luật hình sự và việc quyết định của Tòa án là việc làm không thể thiếu được khi nói về mỗi loại hình phạt, bởi vì hình phạt phải do pháp luật hình sự quy định, do đó xem xét cơ sở pháp luật của nó

là điều đầu tiên phải làm Mặt khác, hình phạt được quy định là để áp dụng trong thực tiễn Vì vậy, xem xét đến các căn cứ của việc quyết định các loại hình phạt trong thực tiễn cũng là điều cần thiết Mỗi một hình phạt chỉ có ý nghĩa khi nó được

áp dụng đúng cho từng đối tượng phạm tội để đạt cho được các mục đích của nó.

Vì vậy, các dấu hiệu bắt buộc của hình phạt có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận thực tiễn áp dụng pháp luật.

Trước hết đối với Thẩm phán, người áp dụng pháp luật của Tòa án, các nội dung pháp lý của hình phạt cho phép phải hiểu được khả năng răn đe, giáo dục của hình phạt, hiệu lực và hiệu quả của nó.

Đối với người bị kết án, họ có thể thấy họ phải chịu những hạn chế gì, phải làm những gì khi chấp hành bản án Đây là tác động của hình phạt vào ý thức của người bị kết án.

Đối với cơ quan thi hành án, việc xác định những nội dung của hình phạt có ý nghĩa quyết định đến việc tổ chức thi hành các biện pháp cưỡng chế trong thực tiễn sao cho phù hợp với những đòi hỏi của hình phạt Đây chính là tiêu chí để kiểm tra, đánh giá mức độ cải tạo của người bị án.

Đối với mọi công dân, việc pháp luật xác định rõ một điều luật, các nội dung chính thức của hình phạt sẽ giúp họ hiểu được nội dung trừng trị của hình phạt góp phần nâng cao ý thức pháp luật của công dân và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung rất lớn.

Ngày đăng: 11/03/2021, 07:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w