Nghị quyết số 08 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ:“Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục tố tụng
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình
sự Việc áp dụng thủ tục rút gọn sẽ rút ngắn được đáng kể thời hạn điều tra,truy tố và xét xử nhưng vẫn đảm bảo được yêu cầu về xử lý tội phạm, gópphần thiết thực vào cuộc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung
Nghị quyết số 08 – NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ:“Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục tố tụng rút gọn đối với những vụ án đơn giản, phạm tội quả tang, chứng cứ rõ ràng, hậu quả ít nghiêm trọng…”
Thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 có một chương mới quy định về thủ tục rút gọn (chương XXXIIIgồm 7 điều từ Điều 317 đến Điều 323), bao gồm những quy định về phạm vi,điều kiện, thẩm quyền, thời hạn và thủ tục áp dụng Tuy nhiên, những quyđịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn lại có nhiềuđiểm chưa hợp lý, một số quy định còn chung chung, chưa cụ thể, rõ ràngtrong khi hiện nay chưa có một văn bản nào hướng dẫn áp dụng các quy địnhnày, do đó hiệu quả áp dụng trong thực tế không cao, chưa đạt được mục đích
mà Bộ luật Tố tụng hình sự đề ra
Nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của thủ tục
rút gọn trên thực tế, tôi nghiên cứu đề tài tiểu luận:“Một số vấn đề về áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử vụ án hình sự”, trên cơ sở tình hình thực tế áp
dụng quy định này tại tỉnh Nghệ An, với mong muốn đưa ra một cái nhìn cơbản và toàn diện về thủ tục rút gọn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam vàthực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong quá trình xét xử các vụ án hình sự
2 Tình hình nghiên cứu:
Là một thủ tục tố tụng tiến bộ với nhiều ưu điểm được Bộ luật Tốtụng hình sự năm 2003 quy định trên cơ sơ kế thừa và phát huy những quyđịnh trước đây, thủ tục rút gọn được các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt độngthực tiễn quan tâm và nghiên cứu Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, cácbài viết đó chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của Bộ luật tố
Trang 2tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn và cũng chưa đề cập nhiều đến thựctiễn áp dụng các quy định này trong thực tiễn, có một số ít bài viết đề cập đếnthực tiễn áp dụng cũng như những bất cập, vướng mắc khi giải quyết án hình
sự theo thủ tục này, tuy nhiên cũng chỉ mới dừng lại ở phạm vi một số địaphương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu lý luận
và thực tiễn về thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng hình sự, tìm ranhững bất cập trong quy định về thủ tục rút gọn của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục rút gọn và một số giải pháp nâng cao hiệuquả áp dụng thủ tục này trong tố tụng hình sự
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn như:khái niệm thủ tục rút gọn; trình tự, thủ tục các quy định của pháp luật trongviệc áp dụng thủ tục rút gọn; ý nghĩa của thủ tục rút gọn…
- Nghiên cứu và đánh giá các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2003 về thủ tục rút gọn
- Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2003 về thủ tục rút gọn; xác định nguyên nhân của thực trạng đó
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự
- Những quy định về thủ tục rút gọn theo pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam (Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm2015)
- Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự Việt Namtại tỉnh Nghệ An
Với những đối tượng nghiên cứu nêu trên, phạm vi nghiên cứu đề tàiđược xác định như sau:
- Những quy định về thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 vềthủ tục rút gọn từ năm 2014 đến năm 2017 của TAND 2 cấp Tỉnh Nghệ An
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sơ phương pháp luận, quan điểm duyvật lịch sử, duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm củaĐảng và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp
Tiểu luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phươngpháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, lịch sử, phương pháp kết hợpgiữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của tiểu luận:
- Tiểu luận đã làm sáng tỏ những dấu hiệu đặc trưng của thủ tục rútgọn trong tố tụng hình sự Việt Nam Xây dựng khái niệm về thủ tục rútgọn, nêu lên mục đích, ý nghĩa của thủ tục rút gọn góp phần thống nhấtnhận thức về vấn đề này
- Tiểu luận đã phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hiện hành
về thủ tục rút gọn, thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn trong thời gian qua; đưa
ra những quy định mới, bổ sung về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015, từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá, xác định nguyên nhâncủa thực trạng áp dụng thủ tục rút gọn; xác định những bất cập trong các quyđịnh của pháp luật về thủ tục rút gọn cần được hoàn thiện, những vướng mắctrong việc áp dụng thủ tục rút gọn cần được giải quyết
- Tiểu luận đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện quyđịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục rút gọn và một sốgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục rút gọn trong thực tiễn
7 Kết cấu của tiểu luận:
Tiểu luận bao gồm: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, kiếnnghị; mục lục; danh mục tài liệu tham khảo
Phần nội dung của tiểu luận gồm hai chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục rút gọn trong Luật tố
tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án nhân dân 2 cấp
tỉnh Nghệ An và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụngthủ tục rút gọn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 4Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1 Khái niệm về thủ tục rút gọn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam:
Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt trong tố tụnghình sự, được rút ngắn về thời gian tố tụng, giản lược một số thủ tục nhấtđịnh nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc chung của tố tụng hình sự, nhằmgiúp cho việc điều tra, truy tố, xét xử được nhanh chóng đối với những vụ
án nhất định
Dưới góc độ là một thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự, thủ tục rútgọn có những đặc điểm sau:
+ Rút ngắn về thời gian tố tụng: Một đặc điểm đặc trưng của thủ tục
rút gọn là thời hạn tiến hành tố tụng theo thủ tục này có sự rút ngắn sovới thủ tục thông thường Thời hạn giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn
là không quá ba mươi ngày, theo đó thời hạn điều tra là mười hai ngày,thời hạn truy tố là bốn ngày và thời hạn xét xử là mười bốn ngày Trongkhi thủ tục tố tụng thông thường thì thời hạn điều tra vụ án hình sự đốivới tội ít nghiêm trọng là không quá hai tháng (sáu mươi ngày) kể từ khikhở tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra và có thể gia hạn điều tra mộtlần không quá hai tháng (sáu mươi ngày) Như vậy thời hạn điều tra một
vụ án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng theo thủ tục tố tụng thôngthường tối đa không quá 120 (một trăm hai mươi) ngày Như vậy, ở giaiđoạn điều tra, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắn được 108(một trăm linh tám) ngày
Ở giai đoạn truy tố thì thời hạn quyết định truy tố là không quá 20(hai mươi) ngày kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án và kếtluận Điều tra Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởg Viện kiểm sát cóthể gia hạn nhưng không qua mười ngày Như vậy, thời hạn truy tố một vụ
án hình sự đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngàynhưng với thủ tục rút gọn thời hạn truy tố tối đa là 04 (bốn) ngày Như
Trang 5vậy, ở giai đoạn truy tố, khi áp dụng thủ tục rút gọn thì thời hạn rút ngắnđược 26 (hai mươi sáu) ngày.
Ở giai đoạn xét xử thì thời hạn chuẩn bị xét xử là không quá 30 (bamươi) ngày kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án Đối với những vụ án phức tạp,Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưngkhông quá mười lăm ngày Như vậy, thời hạn chuẩn bị xét xử một vụ ánhình sự đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 45 (bốn mươi lăm)ngày nhưng với thủ tục rút gọn thời hạn chuẩn bị xét xử tối đa là 14 (mườibốn) ngày Như vậy, ở giai đoạn xét xử, khi áp dụng thủ tục rút gọn thìthời hạn rút ngắn được 31 (ba mươi mốt) ngày
Do đó, với thủ tục tố tụng thông thường thì thời hạn điều tra, truy tố vàxét xử đối với tội ít nghiêm trọng là 195 ngày còn thủ tục rút gọn chỉ có 30ngày, rút ngắn được 165 ngày (05 tháng 15 ngày), là một thời gian đáng kể
+ Giản lược về thủ tục tố tụng: Thủ tục rút gọn chỉ áp dụng với một
số vụ án nhất định, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Khi kết thúcđiều tra, Cơ quan điều tra quyết định đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án choViện kiểm sát mà không phải làm bản kết luận điều tra Việc truy tố bị cantrước Toà án cũng chỉ bằng quyết định truy tố thay cho bản cáo trạng
Ở các nước khác nhau, quy định giản lược về thủ tục tố tụng theo thủtục rút gọn cũng khác nhau nhưng điểm chung là đều quy định về việc giảiquyết vụ án giản lược hơn Tại Đức, Cơ quan công tố sẽ gửi đề nghị bằng vănbản hay bằng lời cho Thẩm phán Tòa hình sự và Tòa án có Thẩm phán khôngchuyên để có quyết định áp dụng thủ tục xét xử nhanh Khi Cơ quan công tốgửi đề nghị thì phiên tòa chính thức được mở ngay lập tức với thông báo ngắngọn mà không cần phải ra quyết định mở phiên tòa chính thức Cơ quan công
tố cũng không nhất thiết phải gửi cáo trạng đến Tòa án trước khi mở phiên tòachính thức mà có thể đưa ra cáo buộc ngay khi bắt đầu phiên tòa chính thức,nội dung cáo buộc sẽ được ghi lại trong biên bản phiên tòa; Ở Nhật Bản, hệthống Tòa án giản lược giải quyết vụ án theo trình tự giản lược chỉ có 1 thẩmphán tiến hành tố tụng Đối với vụ án giải quyết theo trình tự giản lược thìtheo yêu cầu của công tố viên, 1 Thẩm phán của Tòa án giản lược xem xét hồ
sơ do Công tố viên đệ trình quyết định một khoản tiền nộp phạt thích hợp cho
Trang 6người phạm tội mà không cần tổ chức xét xử công khai Nếu không đồng ýlện nộp phạt thì trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày nhận được thông báo vềlệnh xử phạt theo thủ tịc giản lược người phạm tội có thể đề nghị xét xử vụ ántheo thủ tục thông thường; Ở Trung Quốc, Tòa án nhân dân có thẩm quyền ápdụng thủ tục rút gọn do 1 Thẩm phán xét xử; Ở Pháp nếu quyết định áp dụngthủ tục rút gọn thì Viện công tố chuyển hồ sơ truy tố và các kết luận của mìnhcho Thẩm phán Tòa vi cảnh, Thẩm phán ra quyết định hình sự tha bổng hayphạt tiền bị cáo mà không cần thiết phải tiến hành xét hỏi trước và Thẩm phánkhông cần phải nêu căn cứ của Quyết định Việc xét xử theo thủ tuc rút gọntại Tòa vi cảnh do 1 Thẩm phán tiến hành
+ Nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ khi áp dụng thủ tục rút gọn: Theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, việc áp dụng thủ tục rútgọn vẫn phải đảm bảo tôn trọng nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự quyđịnh tại chương II Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như: Nguyên tắcpháp chế xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơbản của công dân; Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản ánkết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật; Nguyên tắc đảm bảo quyền bàochữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Nguyên tắc xét xử công khai;Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia;Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chi tuântheo pháp luật; Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số;Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấ xét xử; Nguyên tắc bảo đảm hiệu lựccủa bản án và quyết định của Tòa án
+ Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn: Theo quy định tại Điều 319 Bộ
luật tố tụng hình sự thì thủ tục rút gọn chỉ áp dụng khi có đủ các điều kiện sauđây: “Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; Sự việc phạm tội đơngiản, chứng cứ rõ ràng; Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;Người phạm tội có căn cước lai lịch rõ ràng”
Như vậy thủ tục rút gọn chỉ đượcc áp dụng khi thỏa mãn 4 điều kiệnnêu trên
+ Mục đích của thủ tục rút gọn: Trong tố tụng hình sự, thủ tục rút
gọn được áp dụng nhằm giải quyết một số loại vụ án hình sự nhất định được
Trang 7nhanh chóng, kịp thời, giảm bớt gánh nặng về số lượng án cần giải quyết cho
cơ quan tiến hành tố tụng, hạn chế tình trạng án tồn đọng để quá hạn luậtđịnh; giúp tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức cho các cơ quan tiến hành tốtụng và người tiến hành tố tụng
Từ những dấu hiệu của thủ tục rút gọn đã phân tích trên đây, có thể
đưa ra một khái niệm về thủ tục rút gọn như sau: Thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự là một thủ tục tố tụng đặc biệt có sự rút ngắn về thời gian, giản lược về thủ tục, áp dụng đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, có tính chất ít nghiêm trọng nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình
sự và quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
2 Ý nghĩa của thủ tục rút gọn trong tố tụng hình sự:
Ý nghĩa về chính trị: Việc áp dụng thủ tục rút gọn nhằm mục đích
giải quyết nhanh chóng, kịp thời một số vụ án hình sự nhất định, góp phầnnâng cao hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, đồng thờicũng góp phần hoàn thành một trong những mục tiêu quan trọng của cảicách tư pháp trong hoạt động tố tụng hình sự mà Nghị quyết số 48–NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020 và Nghị quyết số 49–NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 vềChiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra là: Tăng cường hiệuquả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm các quyền con người tronghoạt động tố tụng hình sự
Ý nghĩa về mặt pháp lý: Chế định thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003 có sự tiếp thu có chọn lọc các quy định tiến bộ củapháp luật nước ngoài và phù hợp với nền lập pháp nước ta về thủ tục này,đáp ứng yêu cầu xu thế quốc tế hoá mọi mặt của đất nước hiện nay
Ý nghĩa về mặt xã hội: Việc áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết
một số vụ án nhất định một cách nhanh chóng, sớm đưa tội phạm ra xử lýtrước pháp luật, góp phần giải quyết kịp thời tất cả các vụ án mà cơ quantiến hành tố tụng đã thụ lý, giảm lượng án tồn đọng, quá hạn ở các cơ quan
Trang 8này, đồng thời góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng có thời gian xử
lý các vụ án khác phức tạp hơn, cần nhiều thời gian hơn cho việc giảiquyết Ngoài ra, nó còn góp phần nhanh chóng khôi phục quan hệ xã hội bịxâm phạm, tội phạm sớm được xét xử, người bị hại sớm được khôi phụcquyền lợi, người phạm tội sớm phải chịu hình phạt nên cũng sớm trở vềhoà nhập cuộc sống, từ đó góp phần nhanh chóng ổn định trật tự xã hội Thủ tục rút gọn còn là biện pháp tiết kiệm thời gian, chi phí, công sứccho việc điều tra, truy tố, xét xử một số tội phạm nhất định; giảm tải gánhnặng công việc cho các cơ quan tư pháp; nâng cao hiệu quả đấu tranh phòngchống tội phạm trong quần chúng nhân dân, đáp ứng mong mỏi của nhândân về việc trừng trị tội phạm; đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian chonhững người tham gia tố tụng vì thời gian giải quyết vụ án ngắn nên ngườitham gia tố tụng không phải mất nhiều thời gian cho vụ án
Thủ tục rút gọn còn góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào phápluật, vào hệ thống cơ quan tư pháp nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung
3 Lịch sử phát triển và những quy định hiện hành về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
3.1 Lịch sử phát triển:
Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt, được quy địnhtrong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Song qua nghiên cứu lịch sử lập phápcủa Nhà nước ta, cho thấy thủ tục này không phải là vấn đề mới, mà đã đượcquy định ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 33c/SL ngày13/9/1945, thành lập Tòa án quân sự ở các địa phận khác nhau trong phạm vi
cả nước nhằm bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng Quy định về thủ tục rútgọn, được quy định tại Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về thẩm quyền củacác Tòa án quân sự và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án Cụ thểSắc lệnh 51 đã quy định, Tòa án sơ cấp có quyền chung thẩm một số vụ án
hình sự có tính chất vi cảnh như: “Những án phạt bạc từ 0,5đ đến 9đ”;
“Những án xử bồi thường từ 150đ trở xuống do nguyên cáo bị thiệt hại trong một vụ vi cảnh thỉnh cầu trong đơn khiếu, hay chậm nhất lúc việc vi cảnh đem
ra phiên xử” Sắc lệnh 51 còn quy định cho phép giản lược một số thủ tục đối
với những vụ án tiểu hình nhất định thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp
Trang 9trong giai đoạn điều tra, truy tố như : “Ông biện lý có thể cho trát gọi thẳng
bị can ra xét xử tại một phiên tòa tiểu hình gần nhất”; trong trường hợp là một vụ tiểu hình phạm pháp quả tang thì “Ông biện lý phải hỏi cung ngay bị can và có thể hạ trát tống giam rồi đưa bị can ra xét xử tại một phiên tòa gần
nhất”…Tại Điều 23, Sắc lệnh 51 – SL quy định “Nếu việc phạm pháp quả
tang có thể xử phạt từ 05 năm tù trở xuống thì viện công tố có thể đưa ngay
vụ án ra phiên tòa, không cần có cáo trạng… ” Tiếp đến trong giai đoạn từ
năm 1954 đến khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, các cơ quan có thẩmquyền cũng đã ban hành nhiều văn bản dưới luật, quy định về thủ tục rút gọnnhư: Thông tư số 139 ngày 28/5/1974 của Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn vềthủ tục điều tra, truy tố, xét xử các vụ án phạm pháp quả tang Thông tư nàyquy định: Đối với các vụ án phạm tội quả tang không thuộc loại trọng án có
đủ chứng cứ, bị can nhận tội thì cơ quan Công an lập biên bản đưa sang Việnkiểm sát nhân dân để quyết định chuyển thẳng sang Tòa án để xét xử Thông
tư số 10 – TATC ngày 08/07/1974 của Tòa án nhân dân tối cao quy định vềthủ tục rút ngắn trong việc điều tra, truy tố, xét xử một số vụ án hình sự ítquan trọng, phạm pháp quả tang, đơn giản, rõ ràng Tiếp đó Viện kiểm sátnhân dân tối cao ban hành Thông tư số 01-TT ngày 28/2/1975 hướng dẫn vềnội dung hoạt động của Kiểm sát viên trong công tác kiểm sát việc áp dụngthủ tục rút ngắn đối với các vụ án ít nghiêm trọng, phạm pháp quả tang, đơngiản, rõ ràng
Như vậy thủ tục rút gọn đã được pháp luật Tố tụng hình sự nước ta quyđịnh và áp dụng từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập Tuynhiên, trước đây những thủ tục này chỉ là thủ tục rút ngắn về thời gian tiếnhành tố tụng mà chưa đơn giản hóa các thủ tục tố tụng, chỉ đến khi Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 thì thủ tụcrút gọn mới được quy định chi tiết và đầy đủ hơn
3.2 Những quy định hiện hành về thủ tục rút gọn trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:
Thủ tục rút gọn, được quy định tại chương XXXIV bao gồm các quyđịnh từ Điều 318 đến Điều 324 Bộ luật TTHS năm 2003
Trang 103.2.1 Quy định về phạm vi, điều kiện và thẩm quyền áp dụng thủ tục rút gọn:
+ Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn:
Theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì thủtục rút gọn không áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng mà chỉ được ápdụng trong ba giai đoạn: Điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, các
Cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết vụ ánsau khi có quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát, quyết địnhnày được ban hành sau khi khởi tố vụ án, tức là trong giai đoạn điều tra vụ án.Mặt khác, nếu sau khi xét xử sơ thẩm có kháng cáo hoặc kháng nghịtheo trình tự phúc thẩm thì vẫn phải áp dụng theo thủ tục chung mà theoquy định tại Điều 242 Bộ luật Tố tụng Hình sự về thời hạn xét xử phúcthẩm thì “Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mởphiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày…” Như vậy, tổng số thời hạnđiều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 30 ngày trong khi thờihạn xét xử phúc thẩm là 60 ngày, đây là điều không hợp lý làm mất đi ý nghĩacủa thủ tục rút gọn
+ Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn:
Theo quy định tại Điều 319 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì thủtục rút gọn chỉ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
Điều kiện thứ nhất là người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang;
Điều kiện thứ hai là sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng – đây được xem là điều kiện mang tính định tính ( Sự việc phạm tội đơn giản là những sự
việc mà vấn đề cần chứng minh trong vụ án không phức tạp và dễ xác định;
Sự việc phạm tội có chứng cứ rõ ràng, có thể hiểu là những chứng cứ phản
ánh đầy đủ, chính xác và toàn diện những vấn đề phải chứng minh trong vụán
Điều kiện thứ ba là tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng:
“Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho
Trang 11xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đấy là đến ba năm
tù (Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2009)
Điều kiện thứ tư là người phạm tội có căn cước, lai lịch rõ ràng:
Lý lịch của bị can, bị cáo liên quan đến năng lực trách nhiệm hình sựcủa bị can, bị cáo; liên quan đến việc quyết định hình phạt (tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo) Căn cước, lai lịch củangười phạm tội rõ ràng thì thời gian điều tra, xác minh có thể đượcc rút ngắn,đảm bảo thời gian tố tụng Đặc điểm về căn cước lai lịch được hiểu một cáchchung chung nhất là nhân thân người phạm tội, bao gồm đặc điểm giới tính,
độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thành phần xã hội, hoàn cảnhgia đình, điều kiện sinh sống…
+ Về thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn:
Thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tạikhoản 1 Điều 320 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau:
“Sau khi khởi tố vụ án, theo đề nghị của Cơ quan điều tra hoặc xét thấy vụ án có đủ các điều kiện quy định tại điều 319 của Bộ luật này, Viện kiểm sát có thể ra Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn”.
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn phải được gửi cho Cơ quan điều tra
và bị can hay người đại diện hợp pháp của họ trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
ra Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị kháng nghị, bị can hayngười đại diện hợp pháp của họ có quyền kiến nại quyết định áp dụng thủ tụcrút gọn, thời hiệu khiếu nại là 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
Khiếu nại được gửi đến Viện kiểm sát đã ra Quyết định áp dụng thủ tục rútgọn và phải được giải quyết trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày nhận được khiếunại
3.2.2 Quy định về thời hạn và thủ tục điều tra, truy tố xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn:
* Về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo thủ tục rút gọn: + Thời hạn điều tra: Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là 12 (mười
hai) ngày, kể từ ngày ra quyết định khở tố vụ án Thời hạn điều tra đượctính dựa theo quy định chung tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003 là “kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra”
Trang 12+ Thời hạn truy tố: Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 thì sau khi nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án của Cơquan Điều tra thì Viện kiểm sát tiến hành xem xét lại toàn bộ hồ sơ vụ án vàtrong thời hạn không quá bốn ngày kể từ khi nhận được hồ sơ, Viện kiểm sátphải ra một trong các quyết định sau: truy tố bị can trước Toà án bằngquyết định truy tố, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, quyếtđịnh đình chỉ vụ án
+ Thời hạn xét xử sơ thẩm: Là 14 (mười bốn) ngày, kể từ ngày nhận
được hồ sơ vụ án Trong thời hạn này, Thẩm phán được phân công chủ toạphiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ; giải quyết các khiếu nại và yêu cầucủa những người tham gia tố tụng; tiến hành những việc khác cần thiết choviệc mở phiên toà, “trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày ra quyết định, Toà
án phải mở phiên toà xét xử vụ án”
Việc quy định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm rút ngắn rấtnhiều so với thủ tục thông thường như hiện nay Tuy nhiên, với thời hạn nêutrên thì việc giao hồ sơ vụ án và quyết định truy tố lại có những vướng mắc,
đó là pháp luật không quy định rõ khi nào thì Viện kiểm sát phải giao hồ sơ vụ
án choTòa án, khi nào thì phải giao quyết định truy tố cho bị can Do đó nếu
áp dụng thời hạn giao hồ sơ vụ án cho Tòa án, giao quyết định truy tố cho bịcan theo quy định chung thì lại không hợp lý
* Về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn:
Vụ án áp dụng thủ tục rút gọn là vụ án ít nghiêm trọng, người thựchiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, hành vi phạm tội đơn giản, chứng
cứ rõ ràng nên pháp luật cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng khôngphải thực hiện một số thủ tục tố tụng không cần thiết trong quá trình giảiquyết vụ án
+ Thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra: Theo Điều 321 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 thì: Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn làmười hai ngày, kể từ ngày ra quyết định khở tố vụ án; khi kết thúc điềutra, Cơ quan điều tra không phải làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định
đề nghị truy tố và gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
+ Thủ tục tố tụng trong giai đoạn truy tố: Trong thời hạn 4 (bốn)
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án Viện kiểm sát phải ra một trong
Trang 13những quyết định sau đây: Quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án; Quyếtđịnh trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Quyết định tạm đình chỉ vụ án; Quyết địnhđình chỉ vụ án.
Như vậy, các căn cứ để Viện kiểm sát ra một trong những quyếtđịnh trên vẫn phải tuân thủ theo các quy định chung của Bộ luật Tố tụnghình sự, thủ tục ra các quyết định này chỉ khác thủ tục chung ở quyếtđịnh truy tố thay cho bản cáo trạng trong trường hợp Viện kiểm sátquyết định truy tố bị can ra trước Toà án, còn hình thức của các quyếtđịnh khác không thay đổi, và khi ra các quyết định không phải là quyếtđịnh truy tố bị can ra trước Toà án, Viện kiểm sát còn phải ra quyết địnhhuỷ bỏ áp dụng thủ tục rút gọn
+ Thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm:
Trong thời hạn 7 (bảy) ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Thẩmphán được phân công chủ toạ phiên toà phải ra một trong các quyết định
sau đây: - Đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn;
- Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
- Tạm đình chỉ vụ án;
- Đình chỉ vụ án.
Như vậy các thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩmtheo thủ tục rút gọn về cơ bản giống như thủ tục tố tụng chung
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, một vướng mắc được thực tiễn nêu
ra là Tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử lúc nào?
Điều 324 Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định Tòa án phải giaoquyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo trước khi mở phiên tòa bao lâu
mà chỉ yêu cầu phải mở phiên tòa trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày raquyết định đưa vụ án ra xét xử Như vậy có thể hiểu, Tòa án giao quyếtđịnh đưa vụ án ra xét xử bất cứ lúc nào, thậm chí chỉ một ngày trước phiên tòaxét xử mà vẫn không bị xem là vi phạm Điều này có thể ảnh hưởng đếnquyền lợi hợp pháp của bị cáo trong việc nhờ người bào chữa, sắp xếp côngviệc để ra Tòa đúng thời gian (nếu bị cáo tại ngoại), không kịp xin thay đổingười tiến hành tố tụng…
Trang 14Phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự áp dụng thủ tục rút gọn vẫnphải tuân thủ mọi quy định chung như đối với các vụ án khác: xét xử trựctiếp, bằng lời nói và liên tục, thành phần Hội đồng xét xử gồm có mộtThẩm phán và hai Hội thẩm, sự có mặt của bị cáo, Kiểm sát viên, ngườibào chữa (nếu có), người làm chứng, và một số vấn đề khác và vẫn phảitiến hành theo trình tự: thủ tục bắt đầu phiên toà, thủ tục xét hỏi tại phiêntoà, tranh luận tại toà, nghị án và tuyên án.
Việc xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ án đã xét
xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn được tiến hành theo thủ tục chung.Nếu như ở giai đoạn điều tra và truy tố theo thủ tục rút gọn, thủ tục
tố tụng có sự giản lược, thì ở giai đoạn xét xử sơ thẩm pháp luật chỉ quyđịnh rút ngắn về thời hạn tố tụng mà không có sự giản lược về thủ tục tốtụng
3.2.3 Quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn trong thủ tục rút gọn:
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sựđược áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với nhữngngười chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang)nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họtiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hay có hành động gây cản trở cho việcđiều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự bao gồm: Bắt, tạmgiữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hay tài sản có giá trị
để đảm bảo Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi thẩmquyền của mình hay người có thẩm quyền quy định tại Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003 được áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn nêu trên khi cócăn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hay có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội(Điều 79 Bộ luật Tố tụng hình sự) Trong thủ tục rút gọn, các biện pháp nàyđều có thể được áp dụng (trừ bắt người trong trường hợp khẩn cấp vì vụ ántheo thủ tục rút gọn chỉ là bắt người phạm tội quả tang)
Trang 15Thủ tục rút gọn được áp dụng đối với các vụ án phạm tội quả tang nêntrong thực tế tạm giữ là biện pháp được áp dụng phổ biến với các vụ án Cácquy định về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ đượctiến hành theo thủ tục chung Thời hạn tối đa không quá 3 ngày, kể từ ngày
Cơ quan điều tra nhận người bị bắt, không được gia hạn tạm giữ
Việc áp dụng biện pháp tạm giam cũng phải tuân thủ các quy định vềcăn cứ, trình tự thủ tục, thẩm quyền như trường hợp tạm giam bình thường
Về nguyên tắc thời hạn tạm giam không vượt quá thời hạn tiến hành điều tra,truy tố, xét xử Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thời hạn tiến hành tố tụngtheo thủ tục tố tụng là 30 ngày (trong đó điều tra 12 ngày, truy tố 4 ngày, xét
xử 14 ngày) do đó thời hạn tạm giam tối đa là 30 ngày
4 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thủ tục rút gọn:
Thủ tục rút gọn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
là một trình tự thủ tục tố tụng đặc biệt nhằm điều tra, truy tố, xét xử nhanhchóng những vụ án ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, nhân thân người phạmtội rõ ràng Tuy nhiên, hơn 10 năm qua số lượng án hình sự được áp dụngtheo thủ tục rút gọn là rất hạn chế bởi trong quá trình thực hiện còn có nhữngvướng mắc, bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn Để khắc phục những hạn chế
đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2018) đã có những sửa đổi, bổ sung để thủ tục rút gọn được áp dụngrộng rãi hơn trong tố tụng hình sự
4.1 Về phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn:
Theo điều 318 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì thủ tục rút gọn chỉ
áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, không áp dụng đốivới xét xử phúc thẩm
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã quy định mở rộng phạm vi ápdụng thủ tục rút gọn đối với cả giai đoạn xét xử phúc thẩm (Điều 455), quyđịnh này sẽ giúp cho thủ tục rút gọn được áp dụng rộng rãi hơn trong thực tiễnxét xử
4.2 Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn:
Trang 16Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã quy định mở rộng hơn điều kiện
áp dụng thủ tục rút gọn, bổ sung thêm trường hợp người phạm tội tự thú vềhành vi phạm tội của mình và phải đáp ứng 3 điều kiện còn lại quy định tại
khoản 1 Điều 456: Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; Tội phạm
đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng Đồng thời điều luật này cũng đã sửa đổi cụm từ “có căn cước, lai lịch rõ ràng” bằng cụm từ “có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng” nhằm thống nhất
cách hiểu và áp dụng
Do phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn được mở rộng đối với cả xét xửphúc thẩm, nên Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định mớicác điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn xét xử phúc thẩm (khoản
2 Điều 456) Theo đó, thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm
khi có một trong các điều kiện: a Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo; b vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ 4 điều kiện quy định tại khoản 1 Điều
456 BLTTHS năm 2015 và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
4.3 Thẩm quyền áp dụng, hủy bỏ thủ tục rút gọn:
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì chỉ có Việnkiểm sát là chủ thể duy nhất có thẩm quyền áp dụng và hủy bỏ thủ tục nàytrong ba giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Quy định như vậy dẫn đến khôngchủ động và không đề cao trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Tòa án trongviệc giải quyết vụ án hình sự theo thủ tục rút gọn
Nhằm khắc phục những hạn chế bất cập trên, Bộ luật Tố tụng Hình sựnăm 2015 đã quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền áp dụng, hủy bỏ thủtục rút gọn cho cả 3 chủ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Đốivới quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Tòa án được gửicho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đểkiểm sát việc áp dụng thủ tục rút gọn Trong trường hợp xét thấy quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không đúng pháp luật, thì trongthời hạn 24 giờ Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng
Trang 17thủ tục rút gọn và gửi cho Cơ quan điều tra biết Còn đối với quyết định ápdụng thủ tục rút gọn của Tòa án trong trường hợp không đúng pháp luật thìViện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định;Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhậnđược kiến nghị của Viện kiểm sát.
4.4 Thời hạn tạm giam và thời hạn điều tra, truy tố, xét xử:
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi tăng thời hạn điều tra,thời hạn truy tố, thời hạn xét xử, theo đó cùng tăng thời hạn tạm giam chotương ứng Cụ thể là thời hạn điều tra và tạm giam trong giai đoạn điều tra là
20 ngày, thời hạn truy tố và tạm giam để truy tố là 5 ngày, thời hạn xét xử sơthẩm và tạm giam để xét xử sơ thẩm là 17 ngày, thời +hạn xét xử phúc thẩm
và tạm giam để xét xử phúc thẩm là 22 ngày
4.5 Về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử:
Điều 460, 461, 462 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về điềutra, quyết định truy tố, chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn về cơ bảnkhông có gì thay đổi nhiều so với Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, ngoạitrừ quy định bổ sung làm rõ hơn hình thức, nội dung của Quyết định đề nghịtruy tố, Quyết định truy tố; bổ sung thêm trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát
có thẩm quyền không truy tố bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án; quy định
rõ hơn về thời hạn phải gửi các quyết định đề nghị truy tố, quyết định truy tố,quyết định đưa vụ án ra xét xử của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 cũng đã bổ sung thêm 3 điều (463,
464, 465) để quy định rõ hơn về phiên tòa xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xửphúc thẩm và phiên tòa xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn Đó là:
- Về phiên tòa xét xử sơ thẩm: các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa sơthẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình
sự năm 2015, nhưng có điểm đáng chú ý là không có thủ tục nghị án, vì phiêntòa xét xử sơ thẩm do 01 Thẩm phán tiến hành
- Về chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Tại khoản 2 Điều 464 BLTTHS năm
2015 quy định, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phánđược phân công xét xử ban hành một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án Trường hợp Thẩm phán ban
Trang 18hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, thì trong thời hạn 7 ngày kể
từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án
- Về phiên tòa xét xử phúc thẩm cũng như phiên tòa xét xử sơ thẩm làkhông có thủ tục nghị án, vì phiên tòa xét xử phúc thẩm cũng chỉ do 01 Thẩmphán tiến hành
Như vậy, có thể thấy Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổsung, có nhiều quy định mới, quy định bắt buộc về thủ tục rút gọn, tạo điềukiện để các cơ quan tiến hành tố tụng đẩy nhanh quá trình xử lý tội phạmtrong tình hình mới Việc tổ chức quán triệt để nâng cao nhận thức và ý nghĩacủa việc áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định của BLTTHS 2015 là hết sứccần thiết Xác định rõ trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án là bắt buộc phải thực hiện khi có đủ điều kiện áp dụng, các cơ quan tiếnhành tố tụng không được né tránh và tùy ghi khi áp dụng thủ tục này Do vậy,mỗi Kiểm sát viên, đặc biệt là các Kiểm sát viên ở các đơn vị cấp huyện cầnnâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm khi được phân công thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự
Trang 19Chương 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 2 CẤP TỈNH NGHỆ AN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1 Thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án nhân dân 2 cấp tỉnh Nghệ An:
Thủ tục rút gọn đã được Tòa án nhân dân 2 cấp tỉnh Nghệ An áp dụng
để giải quyết một số vụ án đủ điều kiện theo quy định pháp luật và đã đạtđược những kết quả nhất định
+ Nghiên cứu thống kê tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự sơthẩm 2 cấp của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, như sau:
- Năm 2014 (tính từ ngày 01/10/2013 đến 30/9/2014):
Tổng số vụ án hình sự thụ lý là: 2408 vụ - 4701 bị cáo
Đã giải quyết, xét xử: 2237 vụ - 4330 bị cáo (đạt tỉ lệ: 92,8%) Trong đó có 10
vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn, chiếm tỉ lệ 0,44%
- Năm 2015 (tính từ ngày 01/10/2014 đến 30/9/2015):
Tổng số vụ án hình sự thụ lý là 2481 vụ - 4658 bị cáo
Đã giải quyết, xét xử: 2326 vụ - 4295 bị cáo (đạt tỉ lệ: 93,7%) Trong đó có 08
vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn (chiếm tỉ lệ 0,3%)
- Năm 2016 (tính từ ngày 01/10/2015 đến 30/9/2016):
Tổng số vụ án hình sự thụ lý là: 2561 vụ - 4513 bị cáo
Đã giải quyết, xét xử: 2306 vụ - 4172 bị cáo (đạt tỉ lệ: 90%) Trong đó có 21
vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn (chiếm tỉ lệ 0,9%)
- Năm 2017 (tính từ ngày 01/10/2016 đến 30/9/2017):
Tổng số vụ án hình sự thụ lý là: 1877 vụ - 3239 bị cáo
Đã giải quyết, xét xử: 1841 vụ - 3157 bị cáo (đạt tỉ lệ: 98%) Trong đó có 09
vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn (chiếm tỉ lệ 0,5%)
+ Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An hàng năm thụ lý, xét
xử giải quyết các vụ án hình sự, cụ thể như sau:
Trang 20- Năm 2014 (tính từ ngày 01/10/2013 đến 30/9/2014):
Tổng số vụ án hình sự thụ lý là: 82 vụ - 117 bị cáo.
Đã giải quyết, xét xử: 82 vụ - 117 bị cáo, đạt 100% Trong đó có 01 vụ án
được xét xử theo thủ tục rút gọn (chiếm tỉ lệ 1,2%)
- Năm 2015 (tính từ ngày 01/10/2014 đến 30/9/2015):
Tổng số vụ án hình sự thụ lý là: 83 vụ – 148 bị cáo
Đã giải quyết, xét xử: 82 vụ - 145 bị cáo, đạt tỉ lệ 98% Trong đó không có vụ
án nào được xét xử theo thủ tục rút gọn
Đã giải quyết, xét xử: 72 vụ – 150 bị cáo, đạt tỉ lệ 97% Trong đó không có vụ
án nào được xét xử theo thủ tục rút gọn
Qua số liệu thực tế nêu trên, có thể thấy tại Tòa án nhân dân 2 cấp tỉnhNghệ An việc áp dụng thủ tục rút gọn đã được thực hiện trong thực tiễn, mặc
dù tỷ lệ áp dụng không cao, chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng số các vụ án đượcxét xử
Tòa án nhân dân các huyện, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh Nghệ An có ápdụng thủ tục rút gọn để giải quyết những vụ án hình sự có đủ điều kiện theoquy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuy nhiên việc áp dụng thủ tục này nàycũng rất ít, thường tập trung ở một số TAND địa phương hàng năm thụ lý sốlượng lớn về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lạmdụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Đánh bạc”, “Cố ý gây thương tích” vàcác Tòa án có lượng án hình sự phải giải quyết hàng năm lớn như TANDThành phố Vinh, Thị xã Hoàng Mai, TAND huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu,
Đô Lương, Yên Thành… còn tại nhiều huyện thủ tục này có năm hầu
như không được áp dụng.
Việc giải quyết án hình sự theo thủ tục rút gọn chưa được sự quan tâmcủa các cơ quan tiến hành tố tụng và lượng án giải quyết theo thủ tục rút gọn