Việc xác định đúng, đầy đủ quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định vụ việc cóthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; các tài liệu chứng cứ cần thu thập; xá
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật tố tụng dân sự quy định, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ, việc dân
sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm
vị đơn khởi kiện đơn yêu cầu đó Căn cứ việc đương sự yêu cầu giải quyết vấn
đề gì để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp Việc xác định đúng, đầy đủ quan
hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định vụ việc cóthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; các tài liệu chứng cứ cần thu thập; xácđịnh đương sự của vụ án; xác định được căn cứ pháp luật cần áp dụng để giảiquyết Trên thực tế quan hệ pháp luật đa dạng, phức tạp nên việc xác định quan
hệ pháp luật tranh chấp dựa vào yêu cầu của đương sự trong một số trường hợpkhông hề dễ dàng, xảy ra nhiều khó khăn vướng mắc cho các cơ quan tiến hành
chức hội nghị tập huấn viết bản án cho toàn ngành Nghị quyết số
01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao về việc ban hành 93 biểu mẫu kèm theo Hoạt động này của Toà án là nhằmnâng cao chất lượng giải quyết các vụ việc giải quyết trong hệ thống ngành,trong đó có nội dung xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án
Thực tiễn, trong thời gian qua, tác giả được tiếp cận những vụ án của Toà
án địa phương, một số Toà án trong hệ thống ngành thấy những vướng mắc, bấtcập, sai sót trong việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp Với nhận thức làcần làm rõ một số vấn đề về lý luận, đánh giá việc xác định quan hệ pháp luật
Trang 2tranh chấp trên thực tiễn từ đó chỉ ra những vướng mắc, khó khăn và giải phápkhắc phục để rút kinh nghiệm cho bản thân và cho đồng nghiệp trong ngành.
Đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài tiểu luận này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có nhiều bài viết, công trình đã nghiên cứu ở cấp độ khác nhau liên quanđến “xác định quan hệ tranh chấp trong tố tụng dân sự lý luận và thực tiễn” Có
thể kể đến Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Vị trí, vai trò và chức năng
của Tòa án nhân dân trong bộ máy nhà nước qua các thời kỳ cách mạng Việt Nam" của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) năm 1996; Đề án: "Đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tư pháp" của Bộ Tư pháp năm 1996; Đề tài khoa
học cấp Bộ: "Những yêu cầu và giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
Tòa án nhân dân" của TANDTC năm 1999 Đây là những công trình, bài viết
đề cập đến những nội dung khác nhau, ở một số khía cạnh mang tính riêng lẻ
vấn đề xác định các tranh chấp phát sinh trong tố tụng dân sự, Đề tài "xác định
quan hệ tranh chấp trong tố tụng dân sự" là quá trình phân loại các tranh chấp
trong thủ tục tố tụng dân sự, trên cơ sở đó có cái nhìn tổng quan về hoạt độnggiải quyết vụ án dân sự tại hệ thống Tòa án, để giải quyết vụ án một cách triệt để
và chính xác nhất
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Là những qui định của pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật nội dung về cácloại quan hệ tranh chấp và thực tiễn giải quyết trong từng vụ án cụ thể trong Toà
án, đề tài còn phân loại từng các loại tranh chấp có thể phát sinh trong quá trìnhgiải quyết vụ án, từ đó có thể đưa ra những đường lối khắc phục, hạn chế nhữngsai sót trong việc giải quyết tranh chấp
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là xác định các loại tranh chấpthường gặp trong tố tụng dân sự, đồng thời nêu lên một số khó khăn vướng mắctrong quá trình giải quyết án và hướng giải quyết xử lý
Trang 34 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được triển khai trên cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứucủa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nêu những điểm bất lợi và có lợi trongviệc thực hiện theo bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét xử, những tổng kết củangành Tòa án, những số liệu thống kê về tình hình xét xử, về tổ chức cán bộ củacác cơ quan chức năng, dư luận xã hội làm cho những kiến nghị sửa đổi, bổsung pháp luật về việc xác định và giải quyết tranh chấp trong tố tụng dân sựkhông những chỉ dựa trên cơ sở lý luận mà còn có cơ sở thực tiễn
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của tiểu luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những bổ sung quan trọng về cơ sở lýluận làm sáng tỏ về nội dung của việc xác định quan hệ tranh chấp, xác định vaitrò ý nghĩa và tầm quan trọng của việc xác định quan hệ tranh chấp
Về thực tiễn, giúp cho những người làm công tác xét xử có cái nhìn đúngđắn, nhận thức rõ vai trò ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc xác định quan hệtranh chấp trong tố tụng dân sự Đây cũng là tài liệu để cho những người nghiêncứu pháp luật trong lĩnh vực có liên quan nghiên cứu tham khảo
Trang 4CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH QUAN HỆ PHÁP LUẬT TRANH CHẤP TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Khái niệm về quan hệ pháp luật tranh chấp trong tố tụng dân sự 1.1.1 Xác định quan hệ pháp luật dân sự
Quan hệ pháp luật là những quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh Trong hệ thống pháp luật, mỗi ngành luật điều chỉnh một nhóm quan
hệ xã hội khác nhau Quan hệ pháp luật dân sự là một dạng quan hệ pháp luật, vìvậy, nó mang đầy đủ đặc tính của quan hệ pháp luật về bản chất xã hội, bản chấtpháp lí, tính cưỡng chế nhà nước
Do tác động của các quy phạm pháp luật lên các quan hệ xã hội nên cácbên tham gia vào các quan hệ đó có các quyền và nghĩa vụ pháp lí tương ứng.Các quyền, nghĩa vụ pháp lí này được Nhà nước bảo đảm thực hiện Sự tác độngcủa các quy phạm pháp luật vào các quan hệ xã hội không làm mất đi tính xã hộicủa các quan hệ đó mà làm cho các quan hệ này mang một hình thức mới "quan
hệ pháp luật" Hậu quả của nó là các quyền và nghĩa vụ của các bên được Nhànước bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội mang tính chất ý chí - ý chí của Nhànước thông qua các quy phạm pháp luật mà nội dung của chúng được xác địnhbằng các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội tồn tại trong xã hội đó vào thời điểmlịch sử nhất định Ngoài ra, các quan hệ pháp luật còn mang ý chí của các chủthể tham gia vào quan hệ đó Ý chí của các chủ thể phải phù hợp với ý chí củaNhà nước và được thể hiện khác nhau trong từng quan hệ cụ thể, từng giai đoạncủa nó (phát sinh, thực hiện hoặc chấm dứt) Có thể chỉ thể hiện khi phát sinh,lúc thực hiện hay chấm dứt một quan hệ cụ thể, song ý chí của các chủ thể thamgia vào các quan hệ này phải phù hợp với ý chí của Nhà nước thể hiện qua các
Trang 5quy phạm pháp luật dân sự và các nguyên tắc chung của luật dân sự được quyđịnh trong Bộ luật dân sự.
Có nhiều quan hệ pháp luật xuất hiện trong cuộc sống, trong quan hệ giữacon người với con người, các quyền, nghĩa vụ của các bên có thể phát sinhnhưng nếu các bên không có tranh chấp thì những quan hệ đó chỉ là những quan
hệ xã hội Khi có tranh chấp, các bên có thể tự điều chỉnh các quan hệ với nhau
để một cách hoài hòa, thuận tiện (tự hoà giải, thương lượng ngoài tố tụng Toàán) mà không cần viện dẫn đến qui định, khuôn mẫu có sẵn do Nhà nước ấnđịnh ban hành (pháp luật) để phân biệt bên nào đúng, bên nào sai hoặc các bêncần có một cơ chế giải quyết, phán xét Tòa án là cơ quan có chức năng xét xử,các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, phán xử nhằm bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình theo một trình tự thủ tục nhất định
Từ những phân tích trên, tác giả xây dựng khái niệm xác định quan hệpháp luật tranh chấp như sau:
" Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là hoạt động nhận thức của con người trên cơ sở yêu cầu của đương sự, thông tin khác có trong một tình huống
cụ thể nhằm tìm đến những qui định của pháp luật để giải quyết vấn đề được chính xác, đúng đắn”.
1.1.2 Khái niệm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong Bộ luật tố tụng dân sự
Theo Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Bộ luật tố tụng
dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và trình tự, thủ tục yêu cầu
để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động Do đó, khi tiếp cận đến Toà án, đầu tiên đương
sự phải nêu rõ yêu cầu để Toà án giải quyết Trên cơ sở yêu cầu của đương sự, Toà án có trách nhiệm xác định quan hệ tranh chấp ban đầu Nếu đương sự
Trang 6chưa nêu rõ yêu cầu của mình thì Toà án cần phải hướng dẫn cho đương sự nêu
rõ để xác định họ có được quyền khởi kiện hay không, việc khởi kiện của họ có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hay không vvv Có thể nói, hoạt động
xác định quan hệ pháp luật tranh chấp ban đầu đã xuất hiện ngay khi đương sự
đã nộp đơn khởi kiện tại Toà án, công việc này thuộc về trách nhiệm của ngườiđược phân công xử lý đơn và trách nhiệm của người thụ lý vụ án
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không qui định cụ thể thế nào là xác địnhquan hệ tranh chấp mà chỉ liệt kê một số điều luật nói về tranh chấp thuộc thẩmquyền của Toà án là những tranh chấp về dân sự, về hôn nhân và gia đình, vềkinh doanh thương mại, về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án tạicác Điều 26, Điều 28, Điều 30 và Điều 32 Trong Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 tại Điều 188 qui định về phạm vi khởi kiện có qui định: “Cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về mộtquan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giảiquyết trong cùng một vụ án; Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể cùng khởikiện một cơ quan, một tổ chức, một cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặcnhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụán; Cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 của Bộ luật này có thể khởikiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luậthoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một
vụ án.”
Việc giải quyết nhiều yêu cầu (nhiều quan hệ tranh chấp) trong cùng một
vụ án đòi hỏi người giải quyết cần xác định được tranh hệ tranh chấp cần giảiquyết là những quan hệ tranh chấp nào, từ đó xác định thẩm quyền giải quyết vàđiều luật áp dụng, nên xiệc xác định tranh chấp là một vấn đề quan trọng để giảiquyết vụ án
Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả lại quyền sử dụng đất.Đồng thời A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc C phải tháo dỡ công trình mà C đã
Trang 7xây dựng trên đất đó Việc giải quyết các quan hệ pháp luật có cùng đương sự và
về cùng loại tranh chấp quy định trong một điều luật tương ứng tại một trong cácĐiều 26, 28, 30, 32 và 34 của BLTTDS
Ví dụ: A khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả nợ 100 triệu đồng.Đồng thời A còn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc B phải trả lại chiếc xe ôtô mà Bthuê của A do đã hết thời hạn cho thuê
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự, tại Mẫu số 52-DS Bản án dân sự sơ thẩm hướng dẫn “ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự,
để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).”
Trong trường hợp tại khoản tương ứng của điều luật quy định nhóm tranhchấp thì ghi cụ thể tranh chấp được giải quyết Ví dụ: Nhóm tranh chấp là hợpđồng dân sự quy định tương ứng tại khoản 3 Điều 26 của BLTTDS thì phải ghi
cụ thể tranh chấp đó là hợp đồng dân sự nào, giao dịch dân sự nào Nếu là hợpđồng thuê nhà ở thì ghi là “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự thuê nhà ở”; nếu
là hợp đồng vận chuyển hành khách thì ghi là “V/v tranh chấp hợp đồng dân sựvận chuyển hành khách”… Nếu là tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản thìghi là “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự mua bán tài sản”; nếu là tranh chấp
về mua bán nhà thì ghi là “V/v tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán nhà ở”.Nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì cũng phải ghi rõ hợp đồng kinhdoanh thương mại đó là gì Ví dụ: nếu tranh chấp về hợp đồng mua bán hànghóa thì ghi là “V/v tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại mua bán hàng
Trang 8hóa” vv… (Theo Điều 39 của Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán số HĐTP ngày 03/12/2012)
05/2012/NQ-Các loại tranh chấp dân sự phổ biến như: Tranh chấp về dân sự về quyền
sử dụng đất, ranh đất, hợp đồng vay tài sản, đồi tài sản …; Tranh chấp kinhdoanh, thương mại về hợp đồng tín dụn, hợp đồng mua bán hàng hóa; hợp đồngdịc vụ vận chuyển…; Tranh chấp lao động như về xử lý kỷ luật lao động theohình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợpđồng lao động, Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;Tranh chấp hôn nhân và gia đình như ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung của vợchồng hoặc tranh chấp về cấp dưỡng…
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, việc đề cao quyền con người, quyềnđược Điều 45 của Bộ luật tố tụng qui định nguyên tắc áp dụng pháp luật khichưa có khi chưa có điều luật áp dụng Đầu tiên Tòa án áp dụng tập quán để giảiquyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luậtkhông quy định Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sựtrong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định vàkhông có tập quán được áp dụng Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản củapháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể
áp dụng tập quán, tương tự pháp luật và Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụngtrong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố Lẽcông bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừanhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó
Như vậy, đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn một cách rõ ràng hơn về nhậnthức xác định quan hệ tranh chấp trong tố tụng dân sự Nghĩa là, chúng ta khôngchỉ căn cứ vào những qui định cụ thể của pháp luật tố tụng dấn sự, căn cứ vàoluật nội dung chuyên nghành mà còn phải căn cứ vào yêu cầu cụ thể của đương
Trang 9sự để tuỳ nghi xác định tên gọi của quan hệ đang tranh chấp mà chưa có phápluật điều chỉnh, hoặc xét xử theo nguyên tắc cơ bản của Luật dân sự, án lệ, lẽcông bằng Bên cạnh vụ án dân sự là vụ án có tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụgiữa cá nhân, tổ chức với nhau còn có việc dân sự là việc không có tranh chấp
về quyền và lợi ích nhưng có yêu cầu của cá nhân, tổ chức đề nghị Tòa án côngnhận một sự kiện pháp lý mà phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổchức này Có các việc yêu cầu về dân sự, các việc yêu cầu về hôn nhân và giađình, các việc yêu cầu về kinh doanh và thương mại, các việc yêu cầu về laođộng Trong tiểu luận này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu xác định quan hệpháp luật tranh chấp nghĩa là tiếp cận ở góc độ vụ án, nên không đề cập đến việcdân sự
Việc đưa ra một khái niệm khoa học về “Xác định quan hệ pháp luật tranhchấp trong tố tụng dân sự” có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nhận dạng quan
hệ pháp luật cần giải quyết cho vụ án, xác định từng các quan hệ tranh chấp củacác đương sự, cách thức lựa chọn áp dụng pháp luật nội dung và hướng giảiquyết một vụ án
Từ những phân tích trên, trên cơ sở “Khái niệm xác định quan hệ pháp
luật tranh chấp” được xây dựng ở mục 1.1.1, tác giả xây dựng khái niệm “Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong tố tụng dân” như sau:
"Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong tố tụng là hoạt động nhận thức của thẩm phán được phân công thụ lý đơn, thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử khi quyết định giải quyết vụ án trên cơ sở yêu cầu của đương sự, thông tin khác có trong một tình huống cụ thể nhằm tìm đến những thoả thuận, qui định của pháp luật, tập quán, áp dụng pháp luật tương tự, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết yêu cầu của đương sự được chính xác”.
Trang 101.2 Đặc điểm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong tố tụng dân sự
- Là hoạt động có tính bắt buộc không thể thiếu trong quá trình giải quyết
vụ án
Về nguyên tắc, khi thụ lý vụ án dân sự thì thẩm phán được phân công xemxét đơn khởi kiện đã xem xét, kiểm tra nội dung đơn khởi kiện của đương sự đểxác định quan hệ phát sinh tranh chấp Tuy nhiên, trong những trường hợp nhấtđịnh để đảm bảo tính chính xác thì nhiệm vụ của Thẩm phán được phân cônggiải quyết vụ án cần phải xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp giữa cácđương sự và pháp luật cần áp dụng để xây dựng hồ sơ vụ án Đây là hoạt độngthường xuyên của thẩm phán, cùng với những hoạt động tố tụng khác
- Là hoạt động phức tạp, được chi phối trong suốt quá trình giải quyết vụ án
Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án dân sự là mộtcông việc khó khăn, phức tạp nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà các tranhchấp phát sinh ngày càng đa dạng trong khi đó Bộ luật dân sự hay các luậtchuyên ngành khác chưa kịp thời điều chỉnh Bộ luật dân sự năm 2015 đã cónhiều quy định sửa đổi, bổ sung so với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 vềquan hệ nhân thân và quan hệ tài sản, song cũng không thể quy định bao trùmhết các tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai, trong khi Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự ngay
cả trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng
Không những vậy, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp còn có mộtkhó khăn nữa là trong một vụ án dân sự có thể chỉ có một quan hệ tranh chấpnhưng cũng có thể có nhiều mối quan hệ tranh chấp đan xen Vì theo quy địnhcủa Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân cóthể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân về một quan hệ phápluật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng
Trang 11một vụ án và ngược lại Do vậy, để xác định chính xác các quan hệ phát sinhtranh chấp thì thẩm phán phải căn cứ vào nội dung yêu cầu của đương sự đượcthể hiện trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lậpcủa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, và căn cứ vào quy định của phápluật nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội mà đương sự tham gia có tranh chấp
để từ đó xác định pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án
- Hoạt động xác định quan hệ pháp luật tranh chấp phụ thuộc vào ý chí chủ quan của thẩm phán, Hội đồng xét xử
Trong trường hợp mà vụ việc tranh chấp chưa có điều luật áp dụng để giảiquyết thì Thẩm phán phải căn cứ vào tập quán, khi các bên không có thỏa thuận,pháp luật không quy định và không có tập quán để áp dụng thì thẩm phán ápdụng tương tự pháp luật và nếu không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luậtthì Thẩm phán phải áp dụng án lệ và lẽ công bằng để giải quyết vụ án
Quy định áp dụng lẽ công bằng hiện nay cũng tồn tại nhiều quan điểmkhác nhau Nhưng quan điểm chung nhất thì lẽ công bằng chính là quyền tựnhiên, là một trong những quyền con người Trong tuyên ngôn độc lập của nước
Mỹ năm 1776 cũng thừa nhận “khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọingười sinh ra đều bình đẳng ” và trong tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam,Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc lại quan điểm này
Ngoài ra, Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,năm 1966 có hiệu lực ngày 23/3/1976 mà Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982cũng khẳng định một điều: “Mọi người đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quantài phán, mọi người đều có quyền xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án
có thẩm quyền, độc lập không thiên vị”
Do đó, khi áp dụng lẽ công bằng trong xét xử thì lẽ công bằng ở đâykhông chỉ là lương tâm hay nhận thức của người thẩm phán mà nó còn được quyđịnh dạng theo quy định tại Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 “Lẽ côngbằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận,
Trang 12phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền vànghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó” và đây cũng chính là mục
mà công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hướng tới
Việc xác định quan hệ tranh pháp luật tranh chấp này phụ thuộc vào ý chíchủ quan nhận định của thẩm phán khi chưa có điều luật áp dụng
Khi xác định quan hệ tranh chấp Thẩm phán không chỉ dựa vào yêu cầucủa các đương sự, mà còn căn cứ vào cách vận dụng pháp luật của mỗi thẩmphán đã đúng hay chưa, dựa vào kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của mỗingười để có thể áp dụng giống nhau về cách giải quyết nếu vụ việc đó diễn ratương tự đối với vụ án mà chúng ta đã giải quyết
Việc xác định quan hệ tranh chấp đúng hay sai ảnh hưởng rất lớn đến quátrình giải quyết vụ án hay là các khâu áp dụng pháp luật nội dung cho từng vụviệc xảy ra
1.3 Các loại quan hệ pháp luật tranh chấp phát sinh trong tố tụng dân sự
1.3.1 Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Căn cứ vào quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thìtranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mười bốn khoản,trong đó có mười ba khoản thể hiện cho mười ba loại dạng tranh chấp Đó là cáctranh chấp:
1- Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân
2- Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
3- Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự
4- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trườnghợp quy định tại khoản 2 Điều 30 của Bộ luật này
5- Tranh chấp về thừa kế tài sản
6- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trang 137- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặnhành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trườnghợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính.
8- Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồnnước theo quy định của Luật tài nguyên nước
9- Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp
về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và pháttriển rừng
10- Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy địnhcủa pháp luật về báo chí
11- Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.12- Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quyđịnh của pháp luật về thi hành án dân sự
13- Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng kýmua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Từ các quan hệ tranh chấp đó chúng ta xác định được pháp luật nội dung
để áp dụng cho từng vụ việc
Riêng đối với khoản 14 của Điều 26 qui định: Các tranh chấp khác về dân
sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theoquy định của pháp luật Các tranh chấp khác về dân sự trong khoản 14 này đượchiểu sẽ còn những dạng tranh chấp khác không thuộc mười ba dạng tranh chấp
đã được liệt kê, cũng có thể có những dạng tranh chấp mà chưa có pháp luậtđiều chỉnh mà Toà án sẽ xét xử theo lẽ công bằng chẳng hạn
Như vậy, với cách qui định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,chúng ta không thể biết được có chính xác bao nhiêu quan hệ pháp luật có tranhchấp
1.3.2 Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Trang 14Căn cứ vào quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thìtranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, cócác dạng tranh chấp như: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;chia tài sản sau khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trongthời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; tranhchấp về cấp dưỡng; tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mangthai hộ vì mục đích nhân đạo; tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữchung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kếthôn trái pháp luật
So với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình
2014 quy định rõ hơn các quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình cụ thể tạiKhoản 1, 6,7 và 8 Điều 28 Theo đó Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đãchính thức thừa nhận và cho phép mang thai hộ với mục đích nhân đạo (cụ thể
từ Điều 93 đến Điều 98) cũng đồng nghĩa có thêm loại quan hệ xã hội đượcpháp luật điều chỉnh và thẩm quyền giải quyết tranh chấp này thuộc về Tòa ánnhân dân
Trong điều luật này, có bảy dạng tranh chấp được qui định tại bảy khoảntương ứng, riêng đối với khoản 8 cũng là một khoản tuỳ nghi mà ở đó ngoài bảydạng tranh chấp nêu trên thì còn có những dạng tranh chấp khác có pháp luật nộidung qui định hoặc chưa có pháp pháp luật nội dung qui định
Trong vụ án hôn nhân và gia đình phức tạp nhất là về phân chia tài sản vàxác định quan hệ tranh chấp của nó Tài sản chung của vợ chồng theo quy địnhtại Điều 33 luật hôn nhân và gia đình năm 2014:
“1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được
Trang 15thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng
để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn liênquan, việc chia tài sản chung trong vụ án hôn nhân và gia đình hiện nay đượcxác định theo hai dạng Dạng thứ nhất là chia tài sản chung của vợ chồng và
dạng thứ hai là chia tài sản chung của những người bị Tòa án tuyên bố “không
công nhận là vợ chồng hoặc hủy hôn nhân trái pháp luật” Khi phân chia tài sản
chung của vợ chồng, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào Điều 217, 219 của Bộ luậtdân sự năm 2005 và các qui định từ Điều 59 đến Điều 61 của Luật Hôn nhân &Gia đình năm 2014 để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sảnchung hợp nhất (quyền ngang nhau) Nhưng khi phân chia tài sản của những
người bị “không công nhận là vợ, chồng hoặc hủy hôn nhân trái pháp luật” thì
quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sản chung được chia trên cơ sở căn cứvào các qui định tại Điều 216 của Bộ luật dân sự năm 2005 (sở hữu chung theophần), xác định phần, công sức đóng góp của các bên đối với khối tài sản(không ngang nhau về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản) Thực tiễn xét xử chothấy, rất nhiều trường hợp khi thụ lý vụ án yêu cầu chia tài sản chung sau khicác bên đã ly hôn, không những Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng quan
hệ tranh chấp và loại án đã giải quyết (như đã phân tích ở phần trên), mà cònphân tích không rõ cơ sở pháp lý hình thành khối tài sản chung Cụ thể, các bản
Trang 16án ban hành phần lớn không xác định rõ các bên trước đây được Tòa án xử cho
ly hôn hay là bị Tòa án tuyên bố “không công nhận là vợ chồng hoặc hủy hôn
nhân trái pháp luật” Trong khi đó, nội dung này và các chứng cứ liên quan đến
nội dung này là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng để xác định quyền lợi của cácbên khi phân chia tài sản chung Sai sót do xác định, phân định không đúng khốitài sản chung:Một số Hội đồng xét xử khi xem xét yêu cầu của đương sự đãkhông phân định được đâu là tài sản chung của vợ chồng, đâu là tài sản riêngcủa từng người, đâu là tài sản có liên quan đến người thứ ba, nhất là nhữngtrường hợp trước khi kết hôn một bên đã được cơ quan thẩm quyền cấp hoặccông nhận quyền sử dụng tài sản riêng hoặc sau khi kết hôn vợ, chồng được cha,
mẹ cho đất để làm nhà ở nhưng chưa làm thủ tục đầy đủ Theo đó, Hội đồngxét xử chỉ dựa trên tình hình thực tế của quá trình sử dụng tài sản đó để xác định
ý chí của các bên về nhập tài sản riêng vào tài sản chung
1.3.3 Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quenthuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới Khái niệm này được
sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây cùng với sựnhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của
cơ chế kế hoạch hóa đã ăn sâu trong tiềm thức và tư duy pháp lý của người ViệtNam
Tại Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “Hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hành hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác”.
Theo quy định trên, có thể hiều: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn(bất đồng hoặc xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thựchiện các hoạt động thương mại
Các tranh chấp thương mại nhìn chung có những đặc điểm sau đây:
Trang 17Thứ nhất, Chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại là thương nhân:
Quan hệ thương mại có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặcgiữa thương nhân với bên không phải là thương nhân Một tranh chấp được coi
là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân Ngoài ra cũng
có một số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranhchấp thương mại: tranh chấp giữa công ty – thành viên công ty; tranh chấp giữacác thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợpnhất, giải thể, chia, tách…công ty;
Thứ hai,căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại là hành vi vi phạm hợp
đồng hoặc vi phạm pháp luật:Trong nhiều trường hợp, tranh chấp thương mạiphát sinh do các bên có vi phạm hợp đồng và xâm hại lợi ích của nhau, tuynhiên cũng có thể có những vi phạm xâm hại lợi ích của các bên nhưng khônglàm phát sinh tranh chấp Nội dung của tranh chấp thương mại là những xungđột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại Cácquan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, nên nội dung tranh chấpthương liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên Ngoài ra, tranh chấpthương mại còn chịu chi phối của các yếu tố cơ bản của hoạt động này như: mụcđích sinh lợi, các yêu cầu về thời cơ kinh doanh và yêu cầu giữ bí mật thông tinliên quan đến hoạt động kinh doanh
Thứ ba, về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại:Tranh chấp
thương mại đòi hỏi được giải quyết thỏa đáng nhằm bảo vệ quyền lợi của cácbên, giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của công dân, góp phần ngăn ngừa sự viphạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương
xã hội Hiện nay tranh chấp thương mại được giải quyết bằng các phương thực:thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án Mỗi phương thức có sựkhác nhau về tính chất pháp lý, nội dung của thủ tục, trình tự tiến hành Các bên
có quyền tự do lựa chọn phương thức phù hợp, phụ thuộc vào lợi thế mà mỗi
Trang 18phương thức có thể mang lại, mức độ phù hợp của phương thức so với nội dungtính chất của tranh chấp và thiện chí của các bên.
- Hình thức giải quyết tranh chấp thương mại: Điều 317 Luật thương mại
2005 quy định về các hình thức giải quyết tranh chấp thương mại bao gồm:
+ Thương lượng giữa các bên
+ Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được cácbên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải
+ Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án đượctiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định
Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 những tranh chấp về kinhdoanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm 5 loại tranhchấp
1- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cánhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
2- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cánhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
3- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giaodịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty
4- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấpgiữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thànhviên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa cácthành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giảithể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hìnhthức tổ chức của công ty
5- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộcthẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Trang 19Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã kế thừa quy định về thẩmquyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mạitại Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Tuy nhiên, quy định tại khoản 1Điều này đã không đi theo hướng liệt kê cụ thể các tranh chấp phát sinh hoạtđộng kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh vớinhau và đều có mục đích lợi nhuận như quy định tại khoản 1 Điều 29 Bộ luật tốtụng dân sự năm 2004 nữa Khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015 đã thiết lập mộtquy tắc có tính khái quát trong việc xác định các tranh chấp kinh doanh, thươngmại thuộc thẩm quyền của Tòa án, được phân định thẩm quyền của Tòa án tronggiải quyết các tranh chấp dân sự tại Điều 26 BLTTDS năm 2015 trên 3 dấu hiệulà: tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại; giữa các chủthể có đăng ký kinh doanh; các chủ thể này đều có mục đích lợi nhuận do vậy,tranh chấp không thỏa mãn 03 dấu hiệu này có thể được coi là tranh chấp dânsự.
Khoản 2 Điều 30 BLTTDS 2015 tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ,chuyển giao công nghệ được phân biệt với khoản 1 của Điều luật này ở chỗkhông đòi hỏi dấu hiệu về đăng ký kinh doanh của các chủ thể có tranh chấpđồng thời phân biệt với thẩm quyền của Tòa án đối với tranh chấp dân sự quyđịnh tại Khoản 4 Điều 26 của Bộ luật này là ở dấu hiệu lợi nhuận các tranh chấp
về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thong tin giữa các chủ thể đều
có mục đích lợi nhuận thì được coi là tranh chấp về kinh doanh, thương mại, nếukhông thỏa mãn dấu hiệu này thì được coi là tranh chấp dân sự
Khoản 3 Điều 30 BLTTDS năm 2015 mở rộng thêm một dạng tranh chấp
nảy sinh từ thực tiễn là tranh chấp về giao dịch về chuyển nhương phần vốn góp
giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty, thành viên công ty.
1.3.4 Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án