1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti

38 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vị Thế, Chất Lượng Và Sự Lựa Chọn Khác: Tiến Tới Một Lý Thuyết Mới Về Vị Trí Dân Cư Đô Thị
Tác giả Hoàng Hữu Phê, Patrick Wakely
Người hướng dẫn Patrick Wakely, Giáo Sư Ngành Phát Triển Đô Thị
Trường học Đại học Tổng hợp London
Chuyên ngành Quy hoạch Phát triển
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2000
Thành phố Vương quốc Anh
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 915,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tương tự như vậy, những trường hợp ngày càng gia tăng của việc bỏ hoang các khu nhà ở với chất lượng công trình còn khá tử tế và giá thuê phải chăng, có hàm nghĩa về sự phân tán của nơi

Trang 1

Vị thế, chất lượng vμ sự lựa chọn khác:

Tiến tới một Lý thuyết mới về Vị trí Dân cư Đô thị

Hoàng Hữu Phê * và Patrick Wakely **

Giải thưởng Kỷ niệm Donald Robertson cho bài báo xuất sắc nhất trong năm 2000 của Tạp chí Đô thị học (Urban Studies),

một trong các tạp chí hàng đầu trên thế giới về nghiên cứu đô thị, xuất bản tại Vương quốc Anh (Vol 37, No 1, January 2000).

*

Hoàng Hữu Phê là cộng tác viên nghiên cứu Sau-Tiến sĩ tại Bộ môn Quy hoạch Phát triển, Khoa Kiến trúc - Quy

hoạch, Đại học Tổng hợp London E-mail: phebinh@cix.co.uk (phehoang@hotmail.com)

**

Patrick Wakely là giáo sư ngành phát triển đô thị, Đại học Tổng hợp London E-mail: p.wakely@ucl.ac.uk

Trang 2

Vị thế, chất lượng vμ sự lựa chọn khác:

Tiến tới một Lý thuyết mới về Vị trí Dân cư Đô thị

Hoàng Hữu Phê và Patrick Wakely Khoa Kiến trúc - Qui hoạch, Đại học Tổng hợp London

giải thích những xu thế và hiện tượng mới trong phát triển đô thị như sự trưởng giả hoá (gentrification), sự bỏ hoang (abandonment) v.v Các lý thuyết chủ đạo hiện nay, trong đó có nhấn mạnh các công thức địa tô cạnh tranh và sự lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở (access/space trade-off), tỏ ra sai lệch so với thực tế hiện tại của sự phân bố rời rạc nhà ở và các khu công nghiệp trong đô thị hiện đại Bài viết này cho rằng, sự tập trung chú ý vào (các) trung tâm vật lý của đô thị và (các) khoảng cách tới nó (hoặc chúng) nên chuyển tới hai loại tham số khác: vị thế nơi ở và chất lượng nhà ở Một mô hình tương tác giữa những tham số đó

có thể được dùng không chỉ để mô tả mà còn để dự đoán các hình thái phát triển dân cư khác nhau trong nhiều bối cảnh đô thị khác nhau Các yếu tố cấu thành của một lý thuyết mới về vị trí dân cư đô thị cũng được đưa ra

Từ khi von Thunen (1826) đưa ra ý tưởng của ông về vùng đô thị đồng tâm, các nhà

địa lý học, kinh tế đô thị và qui hoạch đô thị đã cố gắng xây dựng các lý thuyết về cấu trúc đô thị để giải thích và dự đoán hình thức các thành phố đã được hình thành và vận

động phát triển Tổng quan về các nỗ lực theo hướng đó có thể tìm thấy trong các công trình nghiên cứu của Hallett (1978), Hudson và Rhind (1980), Maclennan (1982), Kivell (1993), Balchin và các đồng tác giả (1995) Vì nhà ở chiếm phần lớn đất đai các khu đô thị, lý thuyết về cấu trúc đô thị chủ yếu là lý thuyết vị trí dân cư (residential location theory) Nói chung, các lý thuyết về vị trí dân cư hiện có rơi vào hai nhóm chính: cách tiếp cận thị trường và cách tiếp cận phi thị trường

Cách tiếp cận thị trường được các nhà kinh tế đô thị theo đuổi, mặc dù nó có nguồn

gốc từ những quan sát xã hội học của Trường phái Chicago vào những năm 1920 (Maclennan, 1982) Ba lý thuyết chính được dùng để giải thích vị trí nhà ở khu vực tư nhân là: 1) giảm thiểu chi phí đi lại; 2) lựa chọn chi phí đi lại/chi phí nhà ở và 3) chi phí nhà ở tối đa Một tóm tắt chi tiết về những lý thuyết đó được đưa ra trong công trình của Balchin và các đồng tác giả (1995) Trong ba lý thuyết, lý thuyết thứ hai được công nhận rộng rãi hơn cả, và vì vậy, nó trở nên lý thuyết được phát triển mạnh nhất về

vị trí dân cư Lý thuyết này về cơ bản cho rằng, nếu có cơ hội, một hộ gia đình cơ động hoàn hảo sẽ dời đến một khu đất, nơi họ có thể được thoả mãn những yêu cầu về diện tích ở trong khi phải tốn các chi phí đi lại ở mức chấp nhận được; nghĩa là làm một sự

lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở theo như cách được kiến nghị bởi Hurd (1903), Isard

(1956), Alonso (1964), Muth (1969), Evans (1973), Romanos (1976) và Thrall (1987) Mặc dù đã có những ý kiến tỏ ra e ngại, ngay cả trong thời kỳ ban đầu của thuyết này (Firey, 1947), sự thành công của nó trong việc tái tạo những qui luật định hình của các thành phố phương Tây đã làm cho nó trở thành công cụ phân tích được ưa chuộng (Basset và Short, 1980) Hiện nay lý thuyết này là “khuôn mẫu chủ đạo của nghiên cứu

Trang 3

kinh tế học đô thị” (Maclennan, 1982) và, gần đây, vào năm 1989, đã có một cố gắng

mở rộng nó ra thành một lý thuyết qui chuẩn (Fujita, 1989)

Cách tiếp cận phi thị trường có một lịch sử dài hơn rất nhiều so với cách tiếp cận

trước Nó bắt nguồn từ những công trình của các triết gia kinh điển như Plato và Aristotle (Roll, 1990) Về căn bản, cách tiếp cận này phân tích sự phân bố dân cư và

cấu trúc thành phố theo phương diện các nhóm xã hội cư ngụ tại các khu đô thị, trong

đó một số nhóm có ưu thế hơn hoặc thực hiện sự kiểm soát đối với các nhóm khác Trong hình thức hiện đại của nó, cách tiếp cận phi thị trường về nguyên tắc là do các nhà xã hội học, địa lý học và khoa học chính trị đại diện (Rex, 1968; Pahl, 1975; Harvey, 1973; Smith, 1987) Những điểm mạnh nhất của thuyết này tập trung phê phán các lý thuyết dựa trên cơ sở thị trường được đặc trưng bởi quan điểm phi lịch sử của chúng Những người theo thuyết này chỉ ra rằng, thay vì kết quả của cạnh tranh thị trường, giá nhà đất và, suy rộng ra, cấu trúc vị trí dân cư bị ảnh hưởng mạnh mẽ, nếu như không nói là bị lũng đoạn, bởi tư bản sở hữu đất đai thông qua địa tô độc quyền (Harvey, 1973; Smith, 1987)

Nếu bất đồng giữa hai cách tiếp cận này chủ yếu đề cập tới những nền tảng lý thuyết, việc áp dụng chúng cũng đang vấp phải các thử thách không kém phần nghiêm trọng Cả hai cách tiếp cận, thị trường và phi thị trường, đã chứng tỏ các bất tương hợp

đáng kể khi áp dụng vào các hoàn cảnh thực tế

Trong số những hiện tượng phổ biến mà cách tiếp cận thị trường không thể giải thích được, sự trưởng giả hoá là một ví dụ nổi bật Lý thuyết lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở cho rằng người giàu ở các thành phố phương Tây có xu hướng tự nhiên thích sống trong những bất động sản lớn ở ngoại ô, nơi đất rẻ và môi trường tốt, bởi vì

họ chịu được chi phí đi lại Người nghèo sống trong trung tâm thành phố bởi vì họ không trả được các chi phí đi lại cao Bất kể việc các suy luận này đã là một sự đơn giản hoá cao độ, lý thuyết này đã ít nhiều được chấp nhận cho đến những năm 1970 và

1980, khi người giàu di chuyển đến những khu bỏ hoang trong trung tâm thành phố,

cải tạo chúng và ở lại đó, trong một hiện tượng lan rộng, sau này được gọi là sự trưởng giả hoá (Hamnett và Williams, 1980) Không có một sự giải thích thoả đáng nào được

đưa ra mà không đe doạ bị mâu thuẫn với chính các định đề căn bản của lý thuyết lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở

Tương tự như vậy, những trường hợp ngày càng gia tăng của việc bỏ hoang các khu nhà ở với chất lượng công trình còn khá tử tế và giá thuê phải chăng, có hàm nghĩa về

sự phân tán của nơi làm việc và nơi ở - nói cách khác, thực tế hàng ngày trong các thành phố hiện đại ở phương Tây, cũng tỏ ra sai lệch so với lý thuyết lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở, một lý thuyết luôn luôn nhấn mạnh cách ứng xử thuần tính kinh tế, tối

ưu và máy móc của người dân đô thị

Đến lượt các nhà lý thuyết đô thị phi thị trường phải xử lý những mâu thuẫn đó,

như lý thuyết khoảng chênh lệch địa tô (rent gap theory) của Smith đối với sự trưởng

giả hoá (Smith, 1987), và một loạt các lập luận hậu hiện đại về những thực tế đô thị mới (Harvey, 1991; Soja, 1996; Dear và Flusty, 1998) Mặc dù một số trào lưu lý thuyết đó ít nhiều thành công hơn trong việc đưa ra giải thích về các hiện tượng mới của đô thị, điểm then chốt của cách tiếp cận phi thị trường về địa tô độc quyền thực tế chưa bao giờ được các số liệu khảo sát hỗ trợ hoàn toàn (Kivell, 1993) Bị cuốn hút bởi vai trò của tư bản, những người ủng hộ cách tiếp cận này thường có xu hướng bỏ qua

Trang 4

một số nguyên cớ mạnh mẽ đối với việc phân bố dân cư, như chu kỳ sống, ý thích và thị hiếu

Một lý thuyết thoả đáng về vị trí dân cư và cấu trúc đô thị, do vậy, vẫn còn là một cái gì khó nắm bắt, và, như Dear và Flusty (1998) nhận xét, là một “mặt hàng khan hiếm” Có một nghịch lý dường như được chấp thuận rộng rãi là, bất chấp tất cả những vấn đề của chúng, các lý thuyết cũ hơn và đơn giản hơn về vị trí dân cư, cuối cùng lại

có thể tồn tại một cách khả quan hơn (Balchin và các đồng tác giả, 1995) Đó cũng là

sự công nhận rõ ràng những hạn chế của các lý thuyết hiện nay Một số lý do có thể

được đưa ra như sau

Đối với cách tiếp cận thị trường, có thể trở ngại lớn nhất ngăn cản nó đạt được, không chỉ một sự mô tả sát thực, mà còn là một sự giải thích thoả đáng về vị trí dân cư,

là sự dựa quá mức vào các biến số vật lý có thể định lượng được, mà ý nghĩa của chúng

có thể trải qua nhiều biến động căn bản trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Vai trò của trung tâm thành phố và khoảng cách tới nó là một ví dụ rõ ràng nhất Hiện nay, một sự thật hiển nhiên là, trung tâm của một thành phố đơn cực, nếu có tồn tại, không còn giữ vai trò áp đảo của nó như là nơi tập trung duy nhất của việc làm, và khoảng cách tới nó cũng không còn là một hạn chế quyết định ở nhiều nước phương Tây, một

số khu buôn bán cũ có thể bị biến từ những trung tâm thương mại sầm uất thành những khối nhà hoang phế, nếu những nhà phát triển siêu thị ngoài thành phố làm được theo ý

họ Với xu thế phân tán mới, sự phát triển các khu công nghiệp và văn phòng (đặc biệt loại công nghệ cao) không còn lệ thuộc vào khoảng cách - tới thị trường hoặc tới các nguồn cung cấp nguyên liệu - để tồn tại, do hệ quả của các phương tiện hiện đại trong giao thông công cộng, viễn thông, mạng máy tính và vận chuyển hàng không

Cách tiếp cận phi thị trường không phải chịu sự lạc hậu hiển nhiên như vậy, chủ yếu là vì nó dựa trên cơ sở, hoặc của mối quan hệ con người, hoặc các khái niệm tương

đối ổn định, như các cơ quan nhà nước và cơ quan qui hoạch ý tưởng chủ đạo của nó, như địa tô độc quyền và sự vận hành của các tổ chức, tuy hấp dẫn nhưng khó chứng minh và định lượng hoá trên thực tế Với sự công nhận là các mô hình tân cổ điển đã

đạt được một số kết quả quan trọng trong việc tái tạo các cấu trúc vị trí dân cư, những người theo thuyết này kêu gọi hình thành một lý thuyết tổng hợp bao hàm cả các

phương diện giá trị sử dụng và giá trị trao đổi trong các nghiên cứu về vị trí dân cư

Nhưng cho đến nay, chưa có tiến bộ đáng kể nào theo hướng đó được ghi nhận (Kivell, 1993)

Cần nhớ rằng, hầu hết các lý thuyết hiện nay về vị trí dân cư là kết quả trực tiếp của việc quan sát các thành phố phương Tây, đặc biệt ở Hoa kỳ, trong một thời gian lịch sử nhất định (nửa đầu thế kỷ 20) Có những cố gắng tạo ra các lý thuyết chuyên biệt về cấu trúc thành phố trong nhiều vùng địa lý khác nhau như Đông á (Rimmer, 1991; Sit

và Yang, 1997), Đông Nam á (Mc Gee, 1991), Đông Âu trước đây (French và Hamilton, 1979; Szeleny, 1983) v.v , nhưng những nỗ lực đó hiện đang bị thách thức bởi quá trình toàn cầu hoá hầu như là bất khả kháng Theo ý tưởng về sự phân cấp đô thị toàn cầu (Hall, 1966; Friedman, 1995; Sassen, 1995), cấu trúc của một thành phố phụ thuộc vào vị trí của nó trong mạng lưới đô thị toàn cầu Mặt khác, lượng tư bản khổng lồ tự do trôi nổi vòng quanh thế giới có thể làm thay đổi bất kỳ thành phố nào hầu như chỉ qua đêm, và các thành phố trên tuyến đi của nó có thể trở nên giống nhau hơn so với các thành phố khác trong cùng một nước hoặc vùng (một hiện tượng tương

Trang 5

thực dân, xem Clark, 1996) Bởi vậy, sự phân cách truyền thống giữa tính chất của các thành phố các nước phát triển và các nước đang phát triển có thể không thấy được rõ ràng như trong quá khứ Do vậy, không có gì lấy làm ngạc nhiên khi xuất hiện những khó khăn trầm trọng trong việc cố áp dụng những lý thuyết hiện có, phần lớn được dựa trên cơ sở những số liệu lịch sử, cho những trung tâm đô thị đang được chi phối bởi các quá trình hoàn toàn mới và khác

Từ đó, nhu cầu về một lý thuyết mới có thể thấy là hiển nhiên Để tìm cách vượt qua những khó khăn cố hữu nhắc ở trên, bài viết này cố gắng giải quyết sự khác biệt giữa các cách tiếp cận thị trường và phi thị trường, bằng cách đưa ra một hệ thống lập luận linh hoạt hơn Nó dựa trên các cơ sở xã hội của việc phân bố vị trí dân cư, được coi là có khả năng đưa ra cách giải thích phù hợp hơn, trong khi tiếp nhận các phương pháp và kỹ thuật định lượng hoá dùng để mô tả cấu trúc của vị trí dân cư đô thị

Nên biết rằng mặc dù trường hợp điển hình nói về Hà nội, vì lý do có số liệu phù hợp, các ý kiến đưa ra không hề bị hạn chế trong khuôn khổ thành phố của các nước

đang phát triển

Có những lý do để tin rằng trong nhiều bối cảnh đô thị thực tế, những lô gích dẫn đến các quyết định trong vị trí dân cư là rất khác so với những giả thiết của mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở Một số lý do đó là mới, nhưng hầu hết các lý do khác chỉ đơn giản là bị bỏ qua bởi vì chúng không phù hợp với các giả thiết hạn hẹp của các mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở

Thứ nhất, trong quá trình tạo ra quyết định của hộ gia đình liên quan tới vị trí dân

cư, một vai trò quan trọng được gắn với vị thế xã hội (Maclennan, 1982), đặc biệt trong các xã hội với cấu trúc phân tầng rõ ràng Có thể lập luận rằng phân tầng xã hội bắt nguồn từ bất kỳ hình thức nào của sự khác biệt (quyền lực, tài sản, kiến thức, văn hoá v.v ) và có thể có nhiều hình thức thể hiện khác nhau, trong số đó ngôi nhà và vị trí của nó thường chiếm vị trí quan trọng nhất (Lawrence, 1987; Cooper, 1972)

Thứ hai, khoảng cách vật lý ngày càng trở nên ít quan trọng hơn, với sự phân tán

của các trung tâm việc làm và khả năng di động gia tăng Cuộc cách mạng thông tin của những thập kỷ qua, với mạng lưới máy tính và mạng Internet, đang làm suy giảm

sự thống trị của khoảng cách vật lý (Harvey, 1991; Dear và Flusty, 1998)

Thứ ba, nhu cầu về không gian ở có thể được điều chỉnh trong một dải tần rộng

(Rapoport, 1977), và trong nhiều trường hợp, đặc biệt trong các xã hội mang nhiều tính truyền thống của các nước đang phát triển, nó thường bị hy sinh cho các nhu cầu khác, như ý muốn được sống trong một gia đình đa thế hệ, hoặc cho những hình thức tiêu thụ khác nhau (thường có tính phô trương), bao gồm những nhu cầu về văn hoá và truyền thống

Thứ tư, sự nhận thức được ảnh hưởng bởi lịch sử và văn hoá về tầm quan trọng của

địa điểm (Bachelard, 1958; Tuan, 1979) giữ một vai trò chủ đạo trong quá trình tạo ra

quyết định nơi cư trú Lòng tin rằng, một địa điểm bao gồm nhiều thứ hơn là các đặc tính vật lý nhìn thấy được, đã được công nhận rộng rãi và bắt nguồn từ những thực tiễn

xa xưa khi con người tìm kiếm các vị trí phù hợp để định cư, trong đó các nghi lễ và tục lệ có liên quan đến nhận thức vũ trụ, tôn giáo cũng như mối quan tâm về sức khoẻ

được hoà nhập thành các qui tắc được coi là “luật thần thánh”

Trang 6

Trong nhiều nền văn hoá có mối liên hệ với truyền thống, như ở nhiều nước đang phát triển, những yếu tố và tình cảm này không thể đơn giản bỏ qua được trong việc giải thích cách ứng xử khi chọn vị trí định cư Mặt khác, trong các nước phát triển, những khuynh hướng gần đây trong phong cách sống ở đô thị đã xuất hiện, với những nội dung mang tính tâm linh và môi trường mạnh mẽ (Lawrence, 1998), đã bắt đầu thách thức tính duy lý thuần tuý kinh tế mà lý thuyết vị trí dân cư đương thời lấy đó làm cơ sở

Mối liên hệ Vị thế nơi ở/Chất lượng nhà ở

Khi tính đến các trào lưu đang hình thành hướng tới một cái nhìn phong phú hơn về cuộc sống đô thị, động học của sự thay đổi trong các khu dân cư của các thành phố có thể được quan niệm như bao gồm một sự chuyển dịch đồng thời dọc theo hai chiều, một chiều chứa đựng những biến động lịch sử, trong khi chiều kia thể hiện đặc tính tương đối bền vững của môi trường vật chất Đó là vị thế nơi ở và chất lượng nhà ở

Vị thế nơi ở là một hình thức đo sự mong muốn về mặt xã hội gắn với nhà ở tại

một địa điểm xác định Nó có thể đại diện cho của cải, văn hoá, tôn giáo, chất lượng

môi trường v.v., phụ thuộc vào hệ thống giá trị hiện thời của một xã hội nhất định, và

theo nghĩa đó, nó liên quan chặt chẽ tới các điều kiện lịch sử cụ thể, đó là chiều thời gian Việc định lượng vị thế có thể được tiến hành, hoặc thông qua việc ước tính một biến đại diện (proxy), bằng một quá trình sắp xếp thứ tự (thí dụ, với việc sử dụng các nhóm trọng điểm (focus groups) hoặc bằng cách ước tính các giá cả “suy ra” (implicit) của các thuộc tính liên quan tới vị thế, thông qua nhiều kỹ thuật hồi qui khác nhau, như

kỹ thuật hedonic (Griliches, 1969; Rosen, 1974; Megbolugbe, 1986) Trong bất kỳ trường hợp nào, với các phương pháp tính toán hiện có, việc định lượng hoá khái niệm

vị thế không phức tạp hơn việc định lượng một khái niệm trừu tượng như “một đơn vị dịch vụ nhà ở” như trong mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở

Chất lượng nhà ở bao gồm các đặc tính vật lý đo đếm được, như diện tích sàn, số

lượng phòng tắm, số tầng cao v.v Thêm vào đó có thể tính đến các chỉ số chất lượng sản phẩm như độ bền, tính tương thích với một công nghệ xây dựng hiện có v.v Thường những đặc tính đó tách rời khỏi nội dung vị thế của nó, và hay được tập hợp lại trong các số liệu thống kê về điều kiện nhà ở Có thể cho rằng, tính trung lập của các con số thống kê về chất lượng nhà ở đã tạo ra một phần của nghịch lý bề ngoài về sự hiện diện đồng thời của sự khan hiếm nhà ở và sự thừa thãi diện tích sàn trong nhiều nền kinh tế thị trường ở phương Tây Điều này cũng có nghĩa rằng, nhiều đơn vị nhà ở không xứng đáng được xếp hạng là nhà ở, bởi vì chúng thiếu các thuộc tính có thể chấp nhận được về vị thế xã hội

Vì các tiêu chuẩn vật lý của nhà ở tại mỗi địa điểm có khác nhau, và tương tự như vậy, những tiêu chí chủ quan của vị thế nơi ở cũng khác nhau đáng kể qua các mô hình xã hội khác nhau, trong mỗi một bối cảnh đô thị cho trước, một mối liên hệ đặc trưng nhận biết được giữa hai thành phần này có thể được xác định Và vì hai thành phần đó

- chất lượng nhà ở và vị thế nơi ở - có thể là tương thích hoặc đối nghịch với nhau, một

sự thể hiện bằng đồ thị đơn giản những mối tương tác giữa chúng có sử dụng các phương pháp định lượng hợp lý, tỏ ra có khả năng mô tả hầu hết các thể loại nhà ở trong các mô hình xã hội khác nhau

Trong một hình thức rất đơn giản, ý tưởng đằng sau một mô hình lý thuyết về

động học trong lĩnh vực nhà ở có thể được minh hoạ bởi một loạt các đồ thị (Hình 1a)

Trang 7

F Các đơn vị nhà ở nói chung có cùng một tiêu

chuẩn nhưng khác nhau đáng kể trong vị thế xã hội,

ví dụ: các dự án nhà ở công cộng trong các xã hội TBCN, được xây theo một tiêu chuẩn như nhau nhưng đặt tại các khu vực với nhiều mức vị thế khác nhau, yếu tố làm cho các đơn vị nhà ở, mặc dù về cơ bản tương tự nhau, nhưng lại khác hẳn nhau trong tính mong muốn

E Quĩ nhà ở trong một xã hội cho là “phi giai

cấp”, thừa kế từ một xã hội có ý thức vị thế Chất

lượng nhà ở thay đổi nhưng tất cả các đơn vị nhà

ở chia sẻ cùng một mức độ vị thế như nhau., ví

dụ: các khu ở cũ của các thành phố XHCN Đông

Âu trước đây, hoặc nhà ở còn lại của chế độ cũ,

cư ngụ bởi người dân với một hệ thống giá trị

khác

D Nhà ở trong một xã hội tư bản "bình thường", với

chất lượng nhà ở và vị thế nơi ở nói chung tương

đồng với nhau: vị thế nơi ở thấp có chất lượng nhà ở tương ứng thấp, và vị thế cao có chất lượng cao Loại liên kết nhà ở này bao hàm một sự phân biệt không gian-xã hội gay gắt trong đô thị

C Hai loại nhà ở chia sẻ cùng một loại địa điểm vị thế

cao: loại nằm dưới đường ngưỡng là ổ chuột và xóm

liều, loại nằm trên đường ngưỡng là nhà ở của những

người trưởng giả hoá

B Nhà ở trong một nền văn hoá không chính thức

công nhận sự khác biệt trong vị thế xã hội Nhà ở có thể có chất lượng từ trung bình tới cao nhưng hầu như không có sự phân biệt trong vị thế, ví dụ các khu nhà tập thể trong các nước XHCN Đông Âu (trước đây), được xây dựng tại các địa điểm hợp lý

về phương diện vật lý nhưng ít có ý nghĩa về mặt xã hội Cả nhóm không nhất thiết có giá trị thấp tại trục 0-VN

A Nhà ở trong một mô hình xã hội coi trọng

vị thế xã hội hơn các chất lượng vật lý, như:

khu ở của các bộ tộc lạc hậu, nơi nhà ở được

bố trí theo các nguyên tắc vũ trụ học và thứ

bậc bộ lạc, vì thế những đơn vị nhà ở có nhu

cầu lớn nhất có thể không có chất lượng vật

lý cao nhất

Trang 8

O

HP

HP CL

VN

CL

VN

Hình 1b Vị thế nơi ở và chất lượng nhà ở - một mô hình giả định

Đường cong liên tục thể hiện các ngưỡng tích hợp của chất lượng nhà ở và vị thế, dốc tại các mức độ chất lượng nhà ở và

vị thế thấp và thoải hơn, hầu như nằm ngang, tại đoạn cuối trên cao của chất lượng nhà ở và vị thế nơi ở Nhà ở nằm phía dưới đường này sẽ được quan niệm như là không mong muốn hay các khu ổ chuột và nhà tạm HP là mức chất lượng tối thiểu tương ứng đối với một mức vị thế cho trước

Một mô hình giả định về động học nhà ở, bao gồm nhiều mức độ vị thế khác nhau Tại mức độ giá trị thấp, một sự thay đổi nhỏ trong vị thế sẽ tương ứng với một thay đổi lớn hơn nhiều trong chất lượng nhà ở Tại một mức độ cao hơn, những thay đổi trong chất lượng nhà ở trở nên không đáng kể hoặc không thể thực hiện được: vị thế có lẽ chỉ thay đổi được bằng cách di chuyển, hay, trong các trường đặc biệt, bằng cách tạo ra các thể loại vị thế mới Nhà ở trong những nhóm này, về lý thuyết, có chất lượng vật lý cao nhất có thể, nghĩa là, không thể tăng chất lượng cao hơn một cách hợp lý Vị thế, tuy nhiên, có thể được bổ sung hay tạo ra, ví dụ bằng cách gắn nhà ở với những sự kiện hay cá nhân đặc biệt nào đấy

Hình 1c Đường ngưỡng cong liên tục

Trang 9

Hình 1d Khả năng áp dụng của mô hình để biểu diễn một thành phố đa cực

Đồ thị trong Hình 1b áp dụng cho không gian ba chiều

Trang 10

Trong các đồ thị đó, trục O-CL thể hiện chất lượng nhà ở, trong khi trục O-VN thể hiện vị thế nơi ở Tại các điểm trên trục O-VN, có một ngưỡng, hoặc một mức độ chất lượng nhà ở chấp nhận được mà dưới nó nhà ở có thể được xếp hạng là kém phẩm chất hay không mong muốn Đường chấm chấm, nối những điểm đó và tạo thành một góc

α với O-VN, là đường ngưỡng giữa các loại nhà ở mong muốn và không mong muốn

Đối với bất kỳ một cấu trúc kinh tế xã hội xác định nào, đường này sẽ có một vị trí duy nhất, nhưng để đơn giản hoá việc so sánh, đường này được vẽ tại vị trí tổng quát Những ví dụ thể hiện trong Hình 1a chỉ phản ánh một số những tính huống thường gặp nhất, và rõ ràng là mô hình này có thể miêu tả nhiều khả năng khác nữa Giả thuyết

đưa ra là đường ngưỡng sẽ là một đường cong phức tạp hơn là một đường thẳng (Hình 1c)

Giả thuyết này có thể được mở rộng, dẫn đến một số kết quả không gian thú vị của mối quan hệ chất lượng nhà ở-vị thế xã hội (CL-VT) Trong Hình 1d, một thành phố giả thiết được thể hiện với ba cực vị thế Mối quan hệ CL-VT như chỉ ra trong Hình 1b

được thể hiện trong không gian ba chiều, nơi các đường ngưỡng cho mỗi cực cùng tạo

ra “mặt ngưỡng”, trên đó nhà ở có thể được coi là “mong muốn”, và dưới đó là “không mong muốn” Thực tế mặt ngưỡng này chia bất kỳ thành phố nào ra làm hai phần: một

“thành phố lưỡng nguyên”, được thể hiện trong không gian ba chiều

Điều thú vị là, trong khi những mối quan hệ phức tạp này có thể được công thức hoá bằng toán học, sự biểu hiện bằng đồ thị của chúng dường như có được một sự quyến rũ trực giác nào đó

Sự giống thật của những tình huống nhà ở thể hiện trong Hình 1a gợi ra ý tưởng là các kết quả hữu ích có thể đạt được từ một sự phân tích hệ thống những nguyên tắc chi phối sự hình thành và những xu thế tiềm tàng của cấu trúc dân cư thành phố, dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa vị thế nơi ở và chất lượng nhà ở Một sự trình bày sơ bộ về một

lý thuyết mới về vị trí dân cư, Lý thuyết Chất lượng-Vị thế, được đưa ra dưới đây

Các mẫu hình vị trí dân cư của hầu hết các thành phố tuân theo một cấu trúc cực, trong đó một hay nhiều cực thể hiện những điểm cao nhất của một số loại vị thế xã hội nhất định, được công nhận bởi một phần nhất định của công chúng Những tham số của vị thế xã hội bao gồm những khái niệm khác biệt về mặt chất lượng như tài sản, quyền lực chính trị, kinh doanh, văn hoá, chủng tộc, giáo dục v.v Sự phân bố các nhóm xã hội dựa trên cơ sở các nguyên tắc sau:

1 Các khu dân cư trong các thành phố tạo nên những vành đai đồng tâm phần lớn liên tục và chờm nhau xung quanh một hay nhiều cực vị thế Cấu trúc vành đai là kết quả của một sự lựa chọn giữa vị thế mong muốn và một mức

độ chất lượng nhà ở chấp nhận được (được giải thích dưới đây)

2 Giá trị nhà ở của bất kỳ nhóm xã hội nào bao gồm hai thành phần: vị thế nơi

ở (VN) và chất lượng nhà ở (CL) Vị thế nơi ở là một tổ hợp các thuộc tính, thường là phi vật chất, được dùng để phân biệt các mức độ khác nhau của sự mong muốn về nhà ở, hay vị thế, được chấp thuận bởi một số nhóm xã hội nhất định, đôi khi không lệ thuộc vào trạng thái vật lý thực tế của nơi ở Chất

Trang 11

lượng nhà ở bao hàm những thành phần vật lý đo đếm được, tạo nên cơ sở cho việc sử dụng bình thường một nơi ở

3 Tại mỗi mức độ vị thế nơi ở, có một mức chất lượng nhà ở chấp nhận được, hoặc một điểm qui ước, mà dưới đó nhà ở được coi là kém phẩm chất Quĩ tích những điểm đó tạo thành một đường gọi là Ngưỡng chất lượng nhà ở (Hình 2) Ngưỡng này chia toàn bộ quĩ nhà ở đang quan tâm ra làm 2 khu vực: khu vực phía trên ngưỡng được gọi là “mong muốn”; khu vực phía dưới được gọi là

“không mong muốn” Mỗi tình huống nhà ở (của một đất nước hay thành phố)

có một Ngưỡng Chất lượng mang tính đặc thù có thể đem so sánh với các ngưỡng khác

4 Tại mức giá nhà thấp hơn, chất lượng nhà ở là thành phần chủ đạo, trong khi tại những mức giá nhà cao hơn, vị thế nơi ở chiếm ưu thế Với một mức độ đơn giản hoá, có thể nói rằng các đơn vị nhà ở tại những mức giá thấp hơn được

đặc trưng bởi công năng của chúng như là một chỗ ở, đó là giá trị sử dụng,

trong khi các đơn vị nhà ở tại các mức giá cao hơn được đặc trưng nhiều hơn bởi các thuộc tính làm cho chúng trở thành hàng hoá và một loại đầu tư được

ưa chuộng, đó là giá trị trao đổi

Bề ngoài, dường như có một sự tương thích rõ ràng giữa mô hình này và mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở Thực tế là cả hai cùng phản ánh cấu trúc vành đai

đồng tâm của sự phân bố vị trí dân cư trong các thành phố Các khác biệt, tuy nhiên, rất đáng kể

Thứ nhất, trong khi mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở đặt trung tâm vật lý

vào trọng tâm của tầm quan trọng, mô hình mới xem xét các yếu tố của vị thế làm cho trung tâm trở nên quan trọng Như đã nói ở trên, chúng có thể là sự giàu có, quyền lực

chính trị, việc làm, văn hoá, chủng tộc, giáo dục v.v Điều này hàm ý rằng, nếu những yếu tố này thay đổi hoặc chuyển dịch, trung tâm vật lý không thể tồn tại ở nơi cũ, mà không mất đi vai trò của nó Ví dụ, trong lý thuyết chất lượng-vị thế, không có gì lạ trong sự chuyển động đồng thời ra bên ngoài ngoại ô và vào trong các trung tâm: các nhóm khác nhau đơn giản là bị hấp dẫn vào các cực vị thế khác nhau Khi các cực di chuyển, tuân theo (hoặc báo hiệu) sự chuyển đổi trong xã hội nói chung, chúng thay

đổi những ranh giới không gian giữa các khu vực mong muốn và không mong muốn

Từ đó, một số khu nhà ở thường là rất được ưa chuộng có thể trở nên ít được ưa chuộng hơn, thậm chí trở thành khu ổ chuột, kéo theo sự tháo lui của tầng lớp trung lưu, và sau

đó là các nhóm khác, cuối cùng dẫn đến sự bỏ hoang Với cách như vậy, cũng dễ dàng nhận thấy một số nhà ở hay khu ở bình thường trở nên thời thượng như thế nào (xem Hình 3), việc này kích thích các thay đổi mà sau đó được nhân lên bởi các mối quan tâm thương mại của các nhà phát triển Thực tế là các nhà phát triển (tư nhân hay các

tổ chức) vẫn thường khởi xướng các thay đổi như vậy với mục đích kích thích thị trường

Thứ hai, trong mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở, khoảng cách tới trung tâm

là một định lượng vật lý rõ ràng (với giả thiết các ranh giới đô thị là mạch lạc, mà sự thực thường là khó được như vậy) Trong mô hình chất lượng-vị thế, trục vị thế nơi ở bắt đầu nơi mà vị thế đang quan tâm là thấp nhất Điểm này không nhất thiết nằm tại rìa thành phố, nó ở nơi mà phạm vi ảnh hưởng mới của một cực khác bắt đầu (với khả năng giao thoa nhau) Nó có thể được xác định bằng nhiều cách: giá của một loại quĩ

Trang 12

V2 1

V

hs2 hs1

M N

Trang 13

nhà ở nào đó; mật độ lưu trú; sự tồn tại các loại quan hệ xã hội nào đó v.v Khoảng cách khá trừu tượng này có thể được qui đổi thành khoảng cách vật lý liên hệ với các ranh giới thực tế

Theo lô gích của lý thuyết chất lượng-vị thế, có thể nhận thấy rằng, nếu tất cả các nhóm dân cư đều bị hấp dẫn như nhau bởi việc làm trong khu thương mại trung tâm, cả hai mô hình thực tế dường như rất giống nhau: vị thế sẽ được đo bằng sự gần gũi đối với việc làm ở trung tâm thành phố, và như vậy khoảng cách vật lý từ trung tâm sẽ trùng với khoảng cách vị thế Từ đó, có thể lý luận rằng, thực tế có một mối liên hệ giữa mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở và mô hình chất lượng-vị thế, với mô hình ban đầu là trường hợp đặc biệt của mô hình sau: nghĩa là, khi việc làm trong trung

tâm thành phố đuợc coi là sự mong muốn cao nhất cho mọi người, và sự giàu có là dấu hiệu duy nhất của vị thế

Thay vì tính cách tĩnh của mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở (Knox, 1994), mô hình chất lượng-vị thế, thông qua cơ chế hướng cực của nó, có thể chuyển tải những thay đổi xã hội, đã làm cho các thành phố trở nên những nơi khác xa so với chính bản thân chúng vài thập kỷ trước, vào trong quang cảnh đô thị thường ngày

Những lựa chọn khác

Lý thuyết lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở bị gò bó bởi những giả thiết vô cùng hạn chế về thị trường, cách ứng xử, sở thích và thị hiếu (Maclennan, 1982) Đối với một bộ phận lớn người dân đô thị ở phương Tây, bao gồm những người ở phần dưới của thị trường nhà ở, nơi mà gánh nặng chi phí giao thông được giảm nhẹ bởi các phương tiện công cộng và thời gian đi lại thực tế không phải là trở ngại lớn nhất, chắc chắn phải có

các loại lựa chọn khác Về mặt lý thuyết, tương ứng với mỗi mức chất lượng nhà ở có

một dãy vô hạn những khả năng vị thế nơi ở Tuy nhiên trong thực tế, chúng bị kèm theo những điều kiện ngặt nghèo Về căn bản, để tạo ra các quyết định về nhà ở của họ, mỗi một hộ gia đình có thể có hai loại lựa chọn

A Lựa chọn với một mức độ chất lượng nhà ở cố định:

Tuyệt đại đa số hộ gia đình có những ý đồ rất cụ thể, loại nhà ở nào họ cần, hay nói cách khác, họ có một hình ảnh xác định trước về nơi ở tiềm tàng của họ sẽ như thế nào

Điều này là phổ biến đối với những chủ nhân nhà ở mới hình thành cũng như đối với những người về hưu tìm kiếm cho mình một nơi ẩn dật lặng lẽ, và tất cả những người

khác Trong thể loại lựa chọn này, nghĩa là, khi mức chất lượng của một đơn vị nhà ở

được giữ cố định (Hình 4a), một hộ gia đình có thể chọn giữa các vị trí khác nhau,

nhưng mọi hình thức lựa chọn đều rơi vào hai kịch bản chính sau đây:

Kịch bản 1: Một đơn vị nhà ở nằm về phía bên trái đường ngưỡng (điểm A trong Hình

4a) Trong trường hợp này, mặc dù vị thế của đơn vị nhà ở thấp, nó vẫn thuộc về khu vực “mong muốn”

Kịch bản 2: Một đơn vị nhà ở nằm về phía bên phải đường ngưỡng (điểm B trong

Hình 4a) Trong trường hợp này, mặc dù vị thế tiềm tàng của nó có thể cao hơn (nằm

gần cực vị thế hơn) đơn vị nhà ở này vẫn thuộc về khu vực “không mong muốn”

Trang 14

Có thể nhận thấy rằng, thay vì lựa chọn giữa chi phí đi lại và chi phí nhà ở như lý

thuyết mức tiếp cận/diện tích ở nêu ra, trong trường hợp này, sự lựa chọn là giữa vị thế nơi ở và một mức độ được xã hội chấp nhận về chất lượng nhà ở Mức độ chất lượng

R1

R21R3

Nếu cực NL dịch chuyển tới N’L’, ranh giới của các vùng mong muốn và không mong muốn cũng

sẽ thay đổi Trong trường hợp này, R1 vẫn ở trong vùng không mong muốn R2, tuy nhiên, di

chuyển từ vùng mong muốn sang vùng không mong muốn Chỉ có vị trí R3 là cải thiện đáng kể:

nó vẫn duy trì một cách vững vàng vị trí của mình tại vùng mong muốn, trong khi lại được gần sát cực hơn

Hình 3 Sự dịch chuyển cực vị thế và những thay đổi thế đứng của các loại nhà ở khác nhau

Trang 15

này, biểu thị bằng vị trí tương đối của hộ gia đình so với đường ngưỡng, có thể tạm gọi

là “thế đứng” Một hộ gia đình, do vậy, có thể làm một sự lựa chọn giữa i) chọn ở vị trí

A, nơi đó có một thế đứng mong muốn (nằm phía trên của đường ngưỡng ) nhưng vị thế xã hội nói chung thấp (nằm xa cực vị thế), và ii) chọn ở vị trí B, thấp hơn đường ngưỡng (thế đứng không mong muốn) nhưng trong vùng vị thế cao (gần cực vị thế hơn) Sự lựa chọn, do vậy, về căn bản là mang tính xã hội hơn là tính kinh tế, mặc dù

giá nhà giữ một vai trò quan trọng: nó thể hiện mức độ nhận thức xã hội về tính mong muốn của nhà ở

Với cùng mức chất lượng nhà ở được giữ nguyên, việc di chuyển đến một khu vị thế cao hơn nói chung dẫn đến một giá nhà cao hơn và một mức thấp hơn về sự mong muốn, và ngược lại áp dụng vào thực tế, Kịch bản 1 (điểm A, Hình 4a) là phổ biến

đối với nhiều đơn vị nhà ở nằm ở những phần vị thế thấp hơn của thành phố Về mặt tương đối, mức độ không cao lắm của chất lượng vật lý là chấp nhận được, có khi còn

mang tính mong muốn tại chỗ Kịch bản 2 (điểm B, Hình 4a) là phổ biến cho các đơn

vị nhà ở trong các khu kém chất lượng ở các phần vị thế cao của thành phố Mặc dù về khái niệm tuyệt đối, mức độ chất lượng vật lý của chúng có thể không thấp, nhưng chúng được coi là không thể chấp nhận được-không mong muốn

Trong trường hợp này, mô hình chất lượng-vị thế đưa ra một sự giải thích ngược với mô hình lựa chọn mức tiếp cận/diện tích ở đối với các khu ổ chuột trung tâm thành phố Mô hình sau cho rằng, đa số dân các khu ổ chuột bắt buộc phải sống gần (hoặc ở trong) các khu vị thế cao (trung tâm thành phố) bởi vì họ không chịu được chi phí đi lại Thực tế, khi quyết định sống trong các khu ổ chuột trung tâm thành phố, người nghèo có lợi thêm ít nhất theo hai cách sau: i) tiếp cận các nguồn thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ cần thiết trong các khu vị thế cao và ii) tiếp cận nhiều dịch vụ công cộng hơn, nhiều lý do hưng phấn hơn và có thể một phong cách sống mong muốn hơn,

đặc biệt là cho giới trẻ chịu áp lực nặng nề của nhóm cùng lứa Cái giá phải trả là thế

đứng rất thấp của họ trong khu vực không mong muốn

Hộ gia đình tại A (Hình 4a) có thể có nhiều lựa chọn trong khi vẫn giữ được ở phía trên ngưỡng Họ có thể giữ nguyên vị trí, hoặc di chuyển một ít dọc theo hai trục, CL

và VN, mà vẫn ở bên trong khu vực mong muốn Họ có thể di chuyển dọc theo A-B, và sau đó B-R Trong thực tế, điều này có nghĩa là di chuyển vị trí và sau đó cải thiện nơi

ở Mặt khác họ có thể di chuyển trực tiếp tới R Trong thực tế, đó là một sự di chuyển

vị thế cao trực tiếp, mà hộ gia đình đó phải trả cho một ngôi nhà đắt hơn để có thể ở

trong khu vực mong muốn Nếu người dân thu nhập cao từ các khu sung túc khác di

chuyển tới B với mục đích cuối cùng là tiến tới R, quá trình này được gọi là sự trưởng giả hoá

Ngược lại, đối với hộ gia đình ở B, sự lựa chọn hạn chế hơn Họ có thể di chuyển sang trái, giữ nguyên mức độ chất lượng trong khi hi vọng bước tới vùng mong muốn (bằng cách di chuyển dọc theo BA tới A, một hiện tượng ít xảy ra thường liên quan tới hiện tượng bỏ hoang) Họ có thể di chuyển sang phải, vào các khu vực gần hơn với cực

vị thế, nơi có thể có cơ hội cao hơn đối với những lợi thế nêu ở trên, nhưng về vị trí càng dấn sâu vào vùng không mong muốn Khi sự cân bằng này không thể biện hộ

được, ví dụ như khi sự xuống cấp xã hội và môi trường vượt quá các lợi ích, sự bỏ hoang xảy ra Trong một lựa chọn khác, hộ gia đình này có thể ở nguyên vị trí đó và hy

vọng rằng lúc nào đó có thể cải thiện chất lượng vật lý nơi ở của họ (di chuyển dọc

B-R) Cải thiện chất lượng vật lý nhà ở của người thu nhập thấp thường được gọi là nâng

Trang 16

cấp (upgrading)và mặc dù chất lượng nhà ở (CL) có thể tăng lên đáng kể, trong thực tế

hiếm khi đủ để vượt quá ngưỡng, và bằng cách này tỏ ra khác hẳn với quá trình trưởng giả hoá, không chỉ về phương diện động cơ mà còn về phương diện chất lượng vật lý Khi mức độ vị thế gia tăng, các khả năng tồn tại trong khu vực chấp nhận được dần dần giảm xuống, cho đến khi nó đạt tới điểm N (giới hạn dưới cho nhà ở giá trị cao nhất), nơi mà chất lượng nhà ở chấp nhận được bị thu vào một khoảng hẹp (MN) Điều này có nghĩa rằng tại phần cao nhất của thị trường, các ngôi nhà ít khác nhau về phương diện chất lượng vật lý

B Sự lựa chọn với mức độ vị thế cố định trước

Một số hộ gia đình đưa ra quyết định về vị trí cư trú của họ với một mức độ vị thế cố

định trước trong tiềm thức Ví dụ tại các nước phát triển, nhiều gia đình tìm kiếm một trường khu vực tốt cho con em mình là thuộc về loại đó Trong các nước đang phát triển, những người khá giả di cư từ nông thôn ra đô thị thường làm như vậy, với mục

đích muốn được tôn trọng trong con mắt những người cùng cảnh Đối với những người này, có hai lựa chọn dường như rất đơn giản và rõ ràng:

Kịch bản 1: Một hộ gia đình phải chi phí nhiều cho một đơn vị nhà ở để ở lại khu vực

mong muốn (điểm A trong Hình 4b)

Kịch bản 2: Một hộ gia đình có thể chi phí ít và ở trong khu vực không mong muốn

(điểm B trong Hình 4b)

Từ đó, sự lựa chọn là giữa chi phí nhà ở và sự chấp nhận xã hội Nếu mức độ vị thế

được cố định trước, cho dù hộ đó muốn bao nhiêu, họ vẫn không thể chi phí ít hơn để

đạt được một mức cao hơn về sự chấp nhận xã hội (ngoại trừ trường hợp tham nhũng hay thiên vị trong việc bán hay thuê nhà ở công) Về lâu dài, hộ gia đình trong Kịch bản 2 (điểm B, Hình 4b) có thể chờ đợi có nguồn tài chính, sau đó bắt đầu cải thiện

chất lượng nhà ở của họ Đây thường được gọi là “những khu ổ chuột hy vọng” ở các

nước tư bản, nơi mà người dân thu nhập thấp hy vọng rằng nhà ở chất lượng thấp của

họ trong một khu vực vị thế cao sẽ có thể được nâng cấp

Thông qua việc nghiên cứu các ví dụ như vậy, dường như lý thuyết chất lượng-vị thế tỏ ra có khả năng mô tả một cách xác đáng những mối quan hệ phức tạp giữa vị thế, chất lượng và giá trị Nó đã chỉ ra rằng nếu quyết định vị trí dân cư là một sự lựa

chọn, thì sự lựa chọn này về cơ bản mang tính xã hội hơn là tính kinh tế, và mang tính phức tạp hơn là tính máy móc Những người với ít nguồn lực có ít lựa chọn hơn, bởi vì

trong các nền kinh tế thị trường, các khả năng lựa chọn có được đối với họ rất hạn chế (loại B trong Kịch bản 2 (Hình 4a) hoặc loại B trong Kịch bản 2 (Hình 4b)) Có lẽ không cần phải nói rằng đối với người giàu số lượng các lựa chọn là nhiều hơn một cách đáng kể Tuy nhiên, nếu mỗi nhóm có đường ngưỡng riêng của mình, thì những lựa chọn này sẽ không dễ dàng gì tránh được, ngay cả đối với người giàu, dù rằng tại các mức độ chất lượng cao hơn nhiều

Một điểm quan trọng là lý thuyết chất lượng-vị thế không phân biệt giữa các thành phố trong các nước phát triển và trong các nước đang phát triển Những khác biệt là ở trong hình thái cụ thể của các khu vực mong muốn và không mong muốn, cũng như ở những chi phí thực tế của việc di chuyển trong mỗi vùng hoặc các di chuyển vượt qua

Trang 17

L VN

N M

Hình 4a Lựa chọn với mức chất lượng nhà ở cố định (CL)

Hình 4b Lựa chọn với mức vị thế nơi ở xác định trước (VN)

Trang 18

đường ngưỡng Vị trí tương đối của các khu vực và các nguyên tắc áp dụng cho mối tương tác giữa chúng vẫn được giữ nguyên

trường trong sử dụng đất đô thị Hai loại thành phố cổ đại ở Đông Nam á, nagaras và commanderies (Wheatley, 1983), về sau đã phát triển thành những khu đô thị lớn sầm

uất, thực tế đã loại trừ khả năng trao đổi thông qua thị trường, trong khi vẫn có những cấu trúc vành đai hướng tâm rõ ràng ở loại thứ nhất, những vành đai được tạo lập có lẽ

là dựa trên cơ sở cấp bậc tôn giáo và ở loại thứ hai, nhiều lớp dân cư đã được huy động

và bố trí phục vụ mục đích phòng thủ

Mô hình chất lượng-vị thế giải thích cấu trúc vành đai đồng tâm như là kết quả của

sự lựa chọn giữa một vị thế mong muốn và một mức độ chấp nhận được của chất lượng

nhà ở: đó là sự lựa chọn giữa cái lý tưởng và cái chấp nhận được áp dụng cho các

trung tâm đô thị lịch sử phi thị trường, mô hình có thể vẫn đúng, tuy nhiên cần có một

số điều chỉnh Nếu những người ngày nay trú ngụ ở những vành đai nằm bên ngoài

phải lựa chọn địa điểm hiện tại bởi vì họ không có đủ phương tiện tài chính để di

chuyển gần hơn tới cực vị thế trong các thành phố phương Tây hiện đại, thì những bậc

tiền bối của họ đã không thể làm được như vâỵ bởi vì họ thiếu quyền hành phong kiến hay quyền lực tôn giáo Hình thái chính trị xã hội có thể thay đổi, nhưng cơ chế cân

bằng này về nguyên tắc vẫn có thể được giữ nguyên

Dự đoán

Với bản chất dễ thích ứng, lý thuyết chất lượng-vị thế có thể được dùng để dự đoán các cấu trúc khác nhau của vị trí dân cư Thay vì thao tác một tập hợp các tham số hình học, nó có thể bao gồm việc phân tích các hệ thống giá trị của một xã hội cho trước để

định nghĩa các cực vị thế Khoảng cách giữa những cực này và những giới hạn bên ngoài của phạm vi ảnh hưởng của chúng (trục VN) có thể được tính toán, như đã nêu trước đây, bằng cách tính đến các chỉ số khác nhau, như mật độ việc làm, giá nhà, các mức độ liên hệ xã hội Do mối quan hệ cụ thể giữa VN và CL, mỗi thành phần có thể

được dự đoán trước, dựa trên cơ sở biết được thành phần kia

Thay vì trạng thái cân bằng kinh tế (equilibrium) được tìm kiếm trong các mô hình tân cổ điển, kết quả của các quyết định vị trí dân cư có thể lệ thuộc vào hình thức của cấu trúc xã hội cho trước của một thành phố

Trang 19

một khu vực nào đó trở nên mong muốn (hoặc không mong muốn) đối với những người dân (tiềm năng) Vì vị thế được lĩnh hội về cơ bản là một cấu trúc chủ quan, nó

có thể được thay đổi bởi các chiến lược mang tính chủ động Có thể cho rằng điểm này không có gì mới đối với các ngành phát triển bất động sản và tiếp thị Nói cho cùng, họ chi tiêu các khoản tiền khổng lồ để đưa ra, và/hoặc thao túng, chính là cái vị thế được lĩnh hội đó, điều này được phản ánh trong những bức tranh đầy mầu sắc của các dự án xây dựng mới và vẽ trên vô số những pan nô quảng cáo tấm lớn, cũng như trong các số báo chủ nhật

Việc phân tích ngưỡng chất lượng nhà ở có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá một cách thực tế, chứ không phải quan liêu, các điều kiện nhà ở Khả năng của mô hình chỉ ra điểm quyết định, nơi các thành phần vị thế nơi ở vượt lên trên các thành phần chất lượng nhà ở trong giá trị nhà, (trong Hình 11a*, 11b* dưới đây) có thể là một công cụ tốt giúp hiểu được những thay đổi trong tiêu chuẩn chung của quĩ nhà ở, và để xem xét các hình thức phù hợp của sự can thiệp, hoặc để tăng tính hiệu quả của thị trường nhà ở, hoặc để bảo vệ các nhóm thu nhập thấp chống lại những kẻ phát triển đầu cơ Trong các nước đang phát triển, việc áp dụng lý thuyết này có thể cung cấp lý lẽ cho các quyết định đề cập tới một loạt các vấn đề nhà ở, từ việc nâng cấp các khu ổ chuột trung tâm thành phố đến các hiện tượng hoặc khả năng trưởng giả hoá, cũng như tìm địa điểm hiệu quả nhất cho các chương trình nhà ở công cộng

Nếu đạt được một sự thể hiện phù hợp của VN và CL, mô hình này có thể là một công cụ rất có tác dụng cho việc tạo ra quyết định Ví dụ, giả sử có một sự đồng ý rằng hoàn cảnh nhà ở trong Hình 1a (D) là hoàn cảnh mong muốn, nhưng hoàn cảnh thực tế lại giống Hình 1a (E) hơn (trình tự này có thể xếp ngược lại), các nhà chính sách có thể

dễ dàng nhận thấy ở đâu và làm thế nào để can thiệp Nếu biết trước những xu thế trong sự thay đổi của cấu trúc xã hội của thành phố, có thể dự báo các hình thức mới của nhà ở, rất lâu trước khi chúng xuất hiện

Giới thiệu chung

Hà nội là thành phố thủ đô được thành lập năm 1010 bởi chỉ dụ của Vua Lý Thái Tổ (974-1028), người kiến tạo lại nước Việt nam độc lập sau gần một ngàn năm dưới ách

đô hộ của các triều đại Trung quốc (111 trước công nguyên - 939) Như vậy, ý tưởng khai sinh cho thành phố cổ này (đầu tiên mang tên Thăng long, tức Rồng bay) là một

hành động chính trị rất có dụng ý, được hoạch định để tạo ra một trung tâm chỉ huy và

điều hành theo thuật ngữ đương đại Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của nó,

thành phố cũng trở nên một trung tâm giao thông và thương mại tấp nập, nhờ vào các

đường thuỷ, chủ yếu là sông Hồng Ngày nay, Hà nội là một thủ đô phát triển nhanh, với một thành phố trung tâm có gần 1 triệu dân, chiếm gần khoảng 40 km2 (Hình 5a)

và đang tiếp tục mở rộng

Sau những năm dài thăng trầm của chiến tranh và sự quản lý kém hiệu quả nền kinh

tế, cuộc cải cách chính sách của Việt nam, bắt đầu từ năm 1986 dưới tên gọi “đổi mới”, đã ngăn chặn được nguy cơ trông thấy của sự suy sụp kinh tế Trong những năm sau đó, đất nước đã có một tỷ lệ tăng trưởng rất cao, trung bình hơn 8% mỗi năm, cho

đến khi cuộc biến động tài chính hiện nay tại Đông Nam á xảy ra

Ngày đăng: 28/12/2021, 09:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1a  Vị thế nơi ở (VN) và chất l−ợng nhà ở (CL) trong những bối cảnh xã  hội khác nhau - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 1a Vị thế nơi ở (VN) và chất l−ợng nhà ở (CL) trong những bối cảnh xã hội khác nhau (Trang 7)
Hình 1b Vị thế nơi ở và chất l−ợng nhà ở  -  một mô hình giả định - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 1b Vị thế nơi ở và chất l−ợng nhà ở - một mô hình giả định (Trang 8)
Hình 1c  Đ−ờng ng−ỡng cong liên tục - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 1c Đ−ờng ng−ỡng cong liên tục (Trang 8)
Hình 1d  Khả năng áp dụng của mô hình để biểu diễn một thành phố đa  cùc - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 1d Khả năng áp dụng của mô hình để biểu diễn một thành phố đa cùc (Trang 9)
Hình 2.  Vị thế nơi ở (VN) và Chất l−ợng nhà ở (CL) - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 2. Vị thế nơi ở (VN) và Chất l−ợng nhà ở (CL) (Trang 12)
Hình 3. Sự dịch chuyển cực vị thế và những thay đổi thế đứng của các loại nhà ở khác  nhau - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 3. Sự dịch chuyển cực vị thế và những thay đổi thế đứng của các loại nhà ở khác nhau (Trang 14)
Hình 4b Lựa chọn với mức vị thế nơi ở xác định trước (VN) - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 4b Lựa chọn với mức vị thế nơi ở xác định trước (VN) (Trang 17)
Hình 4a  Lựa chọn với mức chất l−ợng nhà ở cố định (CL) - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 4a Lựa chọn với mức chất l−ợng nhà ở cố định (CL) (Trang 17)
Hình 5a   Phát triển đô thị Hà nội từ năm 1010 - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 5a Phát triển đô thị Hà nội từ năm 1010 (Trang 20)
Hình 5b.  Ba vùng hình thái của Hà nội - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 5b. Ba vùng hình thái của Hà nội (Trang 21)
Hình 6. Mật độ dân số Hà nội - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 6. Mật độ dân số Hà nội (Trang 23)
Hình thức chủ yếu - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình th ức chủ yếu (Trang 24)
Hình 8.  Các Ph−ờng đ−ợc khảo sát - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 8. Các Ph−ờng đ−ợc khảo sát (Trang 25)
Hình 9. Động học nhà ở tại Hà nội - V TH CHT LNG VA s LA CHN KHAC ti
Hình 9. Động học nhà ở tại Hà nội (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w