“Kiên Giang nhúng hồn thơ trong niềm đau và hào khí của người miền Nam đã dày công khai phá đất đai mở rộng chân trời xanh, phản ánh ít nhiều đường nét linh động thâm trầm của nền văn mi
Trang 1[3] VÀI TƯ LIỆU VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP NHÀ THƠ KIÊN GIANG
[Lê Khắc Qui 1 ]
Tiểu sử
Kiên Giang tên thật là Trương Khương Trinh (17/02/1929 – 31/10/2014) là nhà thơ, soạn giả, ký
giả, ông nổi tiếng với bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo
tím”, Kiên Giang sinh tại làng Đông Thái, huyện An
Biên, tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang), là con thứ
trong một gia đình có năm anh em và là đồng hương với
nhà văn Sơn Nam Kiên Giang là bút danh ông dùng
trong viết thơ, ngoài ra ông cũng là một soạn giả nổi tiếng
với bút danh khác là Hà Huy Hà
Tuổi thơ của ông gắn liền với cuộc sống nhọc nhằn ở vùng U
Minh Thượng, cha ông làm nghề cày ruộng thuê, còn mẹ
ông thì gie gạo (giã ra gạo sàn trắng) để có tiền cho ông
đi học
Năm 1943, nhà thơ Kiên Giang theo học trường tư thục Lê Bá
Cang ở Sài Gòn Năm 1944, ông về Cần Thơ theo học
trường tư thục Nam Hưng và có một mối tình học sinh
với một cô nữ sinh quê ở Sóc Trăng, và đây là nguồn cảm hứng cho ông biết bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” nổi tiếng sau này
Năm 1948, ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, viết thơ cho báo “Tiếng súng kháng
địch” tại chiến khu 9 thuộc miền tây U Minh Thời gian này ông chủ yếu viết thơ với các
đề tài về tuổi thơ, quê hương, đất nước như các bài: Khói Trắng, Xe Trâu…
Năm 1955, Kiên Giang về Sài Gòn viết báo cho các tờ báo lớn như Tiếng Chuông, Tiếng Dội,
Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng… Viết báo, làm thơ không đủ sống, ông tiếp tục viết cải lương và vọng cổ, ông nổi tiếng cùng thời với Năm Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Viễn Châu, Quy Sắc… với tác phẩm đầu tay là Ngưu Lang Chức Nữ được viết theo hình thức
“thi ca vũ nhạc” Trước năm 1975, ông còn phụ trách ban thi văn Mây Tần trên Đài Phát thanh Sài Gòn, làm ký giả kịch trường cho nhiều tờ báo lớn Ông từng tham gia phong trào “ký giả ăn mày” và dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại những quy chế khắt khe của chính quyền cũ áp đặt lên giới báo chí Vì hành động này, Kiên Giang đã bị đi tù
Sau năm 1975, soạn giả Kiên Giang – Hà Huy Hà được cử làm Phó đoàn cải lương Thanh Minh
– Thanh Nga đồng thời làm việc tại phòng nghệ thuật sân khấu, là Ủy viên Ban chấp hành Hội Sân khấu thành phố Hồ Chí Minh qua ba nhiệm kỳ Ông từng sống cô độc trong nhiều năm tại Hội Ái hữu Nghệ sĩ Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh nằm trên đường Cô Bắc,
Q 1, TP HCM
1 T
Trang 2Năm 2013 do tuổi già, ông quay về An Giang sống cùng gia đình người con gái Ngày 28 tháng
10 năm 2014 Kiên Giang bị đột quỵ khi đang ở Sài Gòn Ông mất ngày ngày 31 tháng
10 hưởng thọ 85 tuổi Ông được an táng tại Nghĩa trang Bình Dương, xã Chánh Phú Hòa, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Sự nghiệp
Về thơ, ông đã sáng tác rất nhiều và xuất bản được ba tập thơ: Hoa trắng thôi cài trên áo tím
(1962, Nxb Phù Sa); Quê hương thơ ấu (1967, Nxb Phù Sa); Lúa Sạ miền Nam (1970, Nxb Lá Bối) Năm 1995, tập thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím được Nhà xuất bản Văn học tái bản Năm 1996, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin Hà Nội cho in tuyển tập Thơ
Kiên Giang
Về soạn tuồng cải lương với bút danh Hà Huy Hà ông có những tuồng như sau : Người đẹp bán
tơ (1956), Con đò Thủ Thiêm (1957), Người vợ không bao giờ cưới (1958 cùng với Phúc Nguyên), Ngưu Lang Chức Nữ, Sơn nữ Phà Ca, Áo cưới trước cổng chùa, Phấn lá men rừng, Từ trường học đến trường làng, Dòng nước ngược, Chia đều hạnh phúc, Trương Chi
Mỵ Nương, Mây chiều xuyên nguyệt thôn, Sương phủ nửa chừng xuân, Chén cơm sông núi, Hồi trống trường làng, Lưu Bình Dương Lễ Trong đó, hai vở cải lương “Người vợ không bao giờ cưới” và “Áo cưới trước cổng chùa” được xem là đỉnh cao trong sự nghiệp của ông Riêng vở cải lương “Người vợ không bao giờ cưới” đã giúp cho cố nữ nghệ
sĩ Thanh Nga đoạt giải thưởng Thanh Tâm “nữ nghệ sĩ cải lương xuất sắc nhất” do nhật báo “Tiếng Dội” của nhà báo Trần Tấn Quốc làm chủ nhiệm tổ chức; Thanh Nga cũng từ
đó trở thành một ngôi sao trong giới nghệ sĩ cải lương
Ngoài ra ông cũng viết một số bài tân cổ giao duyên, tiêu biểu như: Trái gùi Bến Cát, Đội gạo
đường xa, Tim đá mạ vàng, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Người đẹp bán tơ, Hương cao quê ngoại, Trái tim cò trắng, Vắt sữa nai nuôi mẹ, Hương sắc gái Cà Mau, Lập quán kén chồng, Ni cô và lão ăn mày, Khói lò gạch, Cô gái miền Tây…
Chưa kể một lượng lớn các bài báo bình luận kịch trường, bút ký, phóng sự xã hội mà ông đã viết
trong thời gian làm ký giả ở Sài Gòn
Nhận định của các nhà phê bình và báo giới
Một số ý kiến cho rằng thơ của Kiên Giang chịu ảnh hưởng bởi nhà thơ Nguyễn Bính, vì thời trẻ
ông từng gặp gỡ và là anh em kết nghĩa với nhà thơ Nguyễn Bính Riêng nhà văn Sơn Nam lại có nhận xét như sau: “Kiên Giang là một thi sĩ thành công, một soạn giả đã đưa thi ca vào sân khấu, để lại cho đời những vở tuồng mang đậm chất thơ như Áo cưới trước cổng chùa, Người đẹp bán tơ, Ngưu Lang Chức Nữ, Sơn nữ Phà Ca… Còn trong thơ ca, Kiên Giang đã viết những câu thơ mà nhiều nhà nghiên cứu cứ ngỡ là ca dao : “Ong bầu vờn đọt mù u / Lấy chồng càng sớm tiếng ru càng buồn” Thơ Kiên Giang cũng như thơ Nguyễn Bính có nét chung bình dị, mộc mạc, nhưng một bên là chân quê Nam Bộ, còn một bên là chân quê Bắc Bộ”
“Có người nói ông làm thơ dễ dãi đến mức có lẽ không đọc lại bản thảo (?) Cũng có thể như vậy
hoặc không như vậy, nhưng nếu dễ dãi mà đã để lại cho đời những bài thơ như “Hoa trắng
Trang 3thôi cài trên áo tím”, “Khói trắng” hay “Tiền và lá”… – những bài thơ sống dai dẳng trong lòng người dân miền Nam suốt một thời thật nên trân trọng”
“Kiên Giang nhúng hồn thơ trong niềm đau và hào khí của người miền Nam đã dày công khai
phá đất đai mở rộng chân trời xanh, phản ánh ít nhiều đường nét linh động thâm trầm của nền văn minh miệt vườn”
Trong lời tựa tập thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” Sơn Nam tiếp tục: "Một cuộc đời lăn lóc,
chẳng bao giờ khấm khá, về già làm chuyện ái hữu, tương tế, quả là thành đạt, không xấu
hổ với đất nước Đây là một người bạn cùng xóm, cùng làng, cùng xứ U Minh mà tôi lấy làm tự hào và thật lòng ca ngợi" Hai văn nhân "miệt vườn" sau mấy chục năm lưu lạc, kẻ làm thơ người viết văn, về già khen nhau như vậy thì quả là tri âm tri kỷ vậy”
PGS TS Lê Tiến Dũng (Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học KHXH & NV - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) nhận định về thơ và con người của ông như sau:
“Những vần thơ của Kiên Giang sẽ có một chỗ đứng trong lòng người đọc, của những người yêu thơ ca, yêu cái nét giản dị và mộc mạc tựa như con người ở miền đất Nam Bộ Cũng giống như những nhà thơ khác viết về thơ tình, Kiên Giang mang cho ta cảm giác say đắm, ngọt ngào của những cảm xúc yêu thương, của chờ mong, của hồi hộp, của ngập ngừng Có cái gì đó đáng yêu mà giản dị, chân thật, mà đi sâu vào trái tim người ta một cách dễ dàng
Như cái vẻ phong trần và lặng thầm bề ngoài, Kiên Giang đi đi về về với những cảm xúc và công
việc Lặng lẽ với những gì giản đơn nhất, chân thành nhất mà một đời người không nhà, một con tàu không sân ga như ông vẫn cứ mải miết trên cuộc hành trình của riêng mình Những tập thơ sẽ cứ in sâu mãi trong lòng người đọc, của những con người yêu quê hương, đất nước và yêu những gì đơn sơ nhất
Hình ảnh quê hương cứ đau đáu mãi trong lòng và những tâm sự, nỗi nhớ được trút hết vào thơ
Và thơ được xem như một nơi chứa đựng, lưu giữ lại kỷ niệm cả một đời người của Kiên Giang”
Nhà báo Hà Đình Nguyên ngậm ngùi: “86 tuổi đời với gần 70 năm cầm bút, Kiên Giang đã để lại
cho đời hàng trăm bài thơ, bài báo, bài vọng cổ và nhiều vở tuồng Ngay cả trước khi bị đột quỵ (dẫn đến tử vong) ông vẫn đang xúc tiến việc in một tập thơ mới - coi như là “kỷ niệm cuối đời”, nhưng đành… để lại cho thân hữu tiếp tục lo việc in ấn
Chơi thân với ông gần hai mươi năm chỉ thấy ông toàn “ăn nhờ ở đậu” Ông dời chỗ ở không
dưới chục lần Hết che tạm cái chòi lá ở Khu Dưỡng lão Nghệ sĩ (quận 8, TP.HCM), lại
về đường Bùi Minh Trực, hết lên quận 9 ở với nhà thơ Thiên Hà lại về Mỹ Tho là “ông từ giữ đền” cho Nhà Lưu niệm nhà văn Sơn Nam , nhưng nơi ông luôn gắn bó đời mình chính là trụ sở Hội Ái hữu Nghệ sĩ TP.HCM (133 Cô Bắc, quận 1, TP.HCM) Ở đó ông
là một trong những cố vấn của hội đề ra những phương án cứu trợ cho các nghệ sĩ neo đơn, những nhân viên hậu đài đang gặp khó khăn 15 năm trước nhà văn Sơn Nam đã nhận xét về người bạn thân của mình: “Kẻ cần cứu trợ nhất lại là người tích cực vận động cứu trợ cho người khác!”
Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài nhắc lại: “Khi về phụ trách Hội Văn học nghệ thuật An Giang, tôi có
điều kiện mời ông về tham gia một số công việc liên quan Lúc nào ông cũng sốt sắng
Trang 4nhận lời và về đúng hẹn Mấy lần tôi mời ông về làm giám khảo các cuộc thi sáng tác bài
ca cổ hoặc kịch bản ở địa phương, ông luôn làm việc nghiêm túc, cẩn trọng và đầy tinh thần trách nhiệm” và đúc kết “Những lời thơ dung dị, mộc mạc nhưng sao mà thấm thía đến nao lòng… Đó là chất, đó là hồn của Kiên Giang”
Nhà thơ Hồ Thi Ca (tác giả bài thơ nổi tiếng Dấu Chân Phía Trước) cho biết thêm: “Từ ngày biết
Kiên Giang tôi đã thấy ông là nhà thơ không nhà, không tiền Dù dùng phương tiện nào,
xe đạp hay sau này là chiếc xe gắn máy xập lết, ông vẫn chỉ có thơ, khắp nơi: cả xấp bản thảo thơ trong chiếc túi nhàu nát te tua đeo trên vai, mặt ngoài túi ông cũng viết thơ chi chít, cái nón đội đầu cũng ghi mấy dòng thơ, trên sườn xe đạp, thân xe máy ông cũng không chừa chỗ nào mà không đề thơ lên đó
Nhiều lần cùng ngồi ban giám khảo các cuộc thi ngâm thơ với ông, thấy ông có “tiêu chí” chấm
thi rất độc đáo, thí sinh ngâm xong bài thơ, ông quay sang tôi nói: “Con bé này sống khổ lắm mà còn ngâm được thơ, cho điểm khá chút đi mày!” Cái khổ, cái khó chừng như vận vào Kiên Giang mọi lúc mọi nơi cho nên không mấy bất ngờ khi thỉnh thoảng thân hữu lại hay tin ông bị trộm, bị móc túi, bị tai nạn xe cộ ”
Nguyễn Văn Thức trong tờ bướm "Vài nhận định về thơ và các nhà thơ ở thành phố Hồ Chí Minh"
có đoạn nhận xét về Kiên Giang: "Một nhà thơ chỉ còn giao lưu với Câu lạc bộ thơ Quận
là chính, Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím nay chỉ còn là kỷ niệm Đôi khi tôi thấy nhà thơ buồn như sương giá, lạnh quanh đời"
Phụ lục một số bài thơ của ông
Nhắc đến thơ Kiên Giang không thể không đề cập bài thơ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” (theo
đề mục của tác giả ở cuối bài thì bài thơ được viết 1958 tại Bến Tre) có thể nói đây là bài thơ được phổ nhạc và trở nên nổi tiếng, làm lay động biết bao thế hệ yêu thơ và vẫn dồi dào sức sống trong lòng người mộ điệu
Theo nhà thơ Kiên Giang tâm sự: “Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo
Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần Năm 1944, tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có Nguyễn Thúy Nhiều – cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau Nhiều đến tận nhà
cô ở xóm nhà thờ Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, Nhiều biết ý gửi cho, rồi tôi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn : ‘”Con Tám Nhiều vẫn chờ mày” Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của Nhiều để tâm tình suốt đêm với Nhiều bên ánh đèn dầu Sau đó tôi nghe tin Nhiều lấy chồng có con đầu lòng đặt tên
là tên ghép lại của tôi và Nhiều vì thế chồng cô biết rất ghen tức Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng Câu kết trước
là : “Xe tang đã khuất nẻo đời/ Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu/ Từ nay tóc rũ
khăn sô/ Em cài hoa tím trên mồ người xưa” thành cái kết khác: “Lạy Chúa ! Con là người ngoại đạo/ Nhưng tin có chúa ở trên trời/ Trong lòng con, giữa màu hoa trắng/ Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!”
Năm 1999, hãng phim TFS của Đài Truyền hình Thành phố có làm phim “Chiếc giỏ đời người”
về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới
Trang 5hay tin là Nhiều mất năm 1998 Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH ở nghĩa trang Cái
Su Đúng là: “Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh/ Từng cài trên áo tím ngây thơ/ Hôm nay
vẫn đóa hoa màu trắng/ Anh kết tình tang gởi xuống mồ”
Hình 1 Bài thơ và thủ bút của tác giả (Ảnh sưu tầm)
Ngoài bài hát cùng tên do nhạc sỹ Huỳnh Anh phổ nhạc, các nhạc sỹ khác cũng lấy cảm hứng từ
bài thơ và viết nên một số ca khúc nổi tiếng như Chuyện tình hoa trắng, Bóng nhỏ giáo đường, Hồi chuông xóm đạo…
Sau đây xin giới thiệu bài thơ Hoa trắng thôi cài trên áo tím (với hai bản in khác nhau) và các bài
thơ khác của ông mà chúng tôi sưu tầm được
HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM
(Tâm tình của người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo – Bến Tre, 14-11-1957)
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy không gian
Trang 6Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường
Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh
Trường anh ngó mặt giáo đường
Gác chuông thương nhớ lầu chuông
U buồn thay! Chuông nhạc đạo
Rộn rã thay! Chuông nhà trường
Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông
Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi
***
Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm một khối sầu
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Anh vẫn yêu người em áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
***
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường
Trang 7Mặc dù em chẳng còn xem lễ
Ở giáo đường u tịch chốn xưa
Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh
Nghe chuông truy niệm mối tình thơ
Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm
Như tình nồng thắm thuở ban đầu
Nhưng rồi sau chuyến vu quy ấy
Áo tím nàng thơ đã nhạt màu
***
Ba năm sau chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Không còn đứng nép ở lầu chuông
Nhưng khi chuông đổ anh liên tưởng
Người cũ cầu kinh giữa giáo đường
Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!!!
HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TÍM
Gia Định, 28-05-1958
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương, nóc giáo đường
Mười năm trước, em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em là cô gái tuổi băng trinh
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Trang 8Mỗi lần Chúa Nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi
***
Sau mười năm lẻ, anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
Tiễn nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm một khối sầu
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỷ vật ban đầu
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
***
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ tà áo tím màu hoa trắng
Giữ cả trường xưa nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch đổ xây tường lũy
Chiếm lại lầu chuông giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn cùng trang lứa
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, em nức nở
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Trang 9Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp cỗ quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò mãi thắm tươi
***
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc… tiễn người ngàn thu
Từ đây, tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng trên mồ người xưa!!!
BÁNH ỐNG TRÀ VINH
Tôi yêu kiểu áo "tầm vong" nhỏ, Đôi mắt đen huyền cô gái lai, Đôi mái chùa cong như cánh phượng, Gió bay cờ phướn đẹp mây trời
Tôi yêu hơi nước trong nồi đất, Nấu chín mùi cơm bánh Phú Vinh,
Lá dứa thiên thanh màu lá mạ;
- Cô em mặc áo cũng thiên thanh
Tôi yêu múi bưởi Thanh Trà ngọt (Những hột kim cương của đất lành) Thay tách nước trà khi đụt nắng,
Ra về còn luyến chút ân tình
Đời lặng lờ trôi trên biển lúa Vờn theo bóng nhạn, cánh cò bay, Lưới tung chụp sóng, tìm cơm áo, Thuyền trở về sông, bến cá đầy
Tiếng trống cơm hoà nhạc ngũ âm, Trong ngày Đưa Nước, hội trăng rằm,
Dù Kê hát bội vui chùa miễu, Sống thái bình, quên cả tháng năm
Hơi nước còn thơm mùi bánh ống, Còn thơm tà áo sắc thiên thanh,
Cô em bán bánh sao hiền quá, Lóng lánh mắt huyền in bóng anh
Vườn bưởi Biên Hoà tuy ngọt lịm, Cũng không bằng nửa múi Thanh Trà
Trang 10Vì hương tóc rối thơm bông bưởi
- Cô gái Trà Vinh đẹp mặn mà
Về xứ Trà Vinh ăn bánh ống Thương màu lá dứa, áo thiên thanh
- Gió đưa hương bưởi vào hơi thở Thương xứ thương luôn gái Vĩnh Bình
Nguồn: Lúa sạ Miền Nam, NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1970
CẦU TRE
(Gởi Thùy Nhiên và thân tặng những bạn đường đang sống quay cuồng giữa đô thành loạn vết xe ngựa và cát bụi, chắc không bao giờ hướng mặt về miền quê để mà sống lại với mối tình "cầu tre" )
Ai ở làng quê
Đã từng qua nhịp, Qua nhịp cầu tre;
Lặng nghe, lặng nghe Tiếng hò tiếng hát Dưới mái nhà tranh
Ầu ơ "Ví dầu cầu ván đóng đinh, Cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi Khó đi mượn chén ăn cơm, Mượn ve mua rượu, mượn đờn kéo chơi"
Kéo lên: ọ é ò e
Cầu tre lắc lẻo, cầu tre gập ghềnh
Cầu tre một nhịp chênh vênh, Bắc ngang dòng nước lênh đênh sóng bèo
Cầu tre lắc lẻo, cheo leo, Những đêm trăng xế, trăng treo đầu cầu
Cầu tre soi bóng sông sâu, Ánh trăng sóng nước đượm màu lung linh
Cầu tre gối nhịp đất lành,
Trang 11Nằm nghe tiếng hát, tâm tình quê hương
Cầu tre làm chiếc đò ngang, Nối đôi bờ đất đôi làng thương nhau
Nhà anh ở kế bên cầu, Nhà em ở cuối đầu cầu bên sông
Bên sông cứ mỗi hừng đông,
Em ra vo gạo, bến sông bên cầu Anh vừa mở cổng thả trâu, Thấy em, anh vội xé rào nhìn em
Rồi qua cầu nói với em:
"Cô vo nếp anh thèm mùi xôi"
Vì anh, khi mới hừng trời, Qua cầu, em biếu dĩa xôi muối mè Cầu tre lắc lẻo cầu tre, Con đò chở tấm tình quê qua cầu
Từ đây cứ mỗi mùa cau, Anh qua cầu để bẻ cau cho nàng
Khi nào trầu hút trầu khan, Anh qua xin lá trầu vàng bên em
Khi mùa cấy hái "đông ken", Ruộng anh em cấy, đất em anh cày Vần công lối xóm tiếp tay, Kết tình lưu luyến gái trai đôi làng
đôi tim trang lứa nhịp nhàng, Hoà theo nhịp sóng lúa vàng mênh mông
Đôi lòng cách một dòng sông,
Tơ hồng chưa buộc, tơ lòng đã se
Trang 12Cầu tre lắc lẻo cầu tre, Duyên nghèo đầm thấm, tình quê nồng nàn
Trong tình yêu nước, yêu làng,
Có tình chăn gối, đá vàng lứa đôi
Mẹ chàng cậy mối cậy mai, Tặng quà lễ nói một đôi bông vàng
Hai bên cô bác họ hàng, Chọn ngày lễ cưới qua rằm tháng Giêng
Bỗng rồi lửa cháy xóm giềng, Cầu tre gãy nhịp gục nghiêng giữa dòng
Lửa tràn lan cháy bên sông, Máu pha nước mắt đỏ lòng trường giang
Giặc tràn về bắt sống nàng, Thôi đành dập liễu vùi mai, Bóng hồng gục giữa rừng người hung hăng
Từ đây sông lạnh bóng trăng, Nước như ngừng chảy sầu vương mối hờn
Vườn xanh úa hết chồi non, Cau khô, trầu héo chẳng còn nồng cay
Đôi trâu bỏ dở vốc cày, Lòng người lòng đất đắng cay não nề Đêm đêm như vẳng còn nghe, Tiếng than khóc của cầu tre một mình:
"Ví dầu cầu ván đứt đinh, Cầu tre găy nhịp, chung tình khóc nhau Cầu tre khóc một hôm nào,
Mẹ qua cầu bỏ trầu cau cho chàng
Còn đâu mùi vị xôi vàng,
Trang 13Buổi đầu trai gái đôi làng biết nhau Còn đâu những buổi thả trâu, Đứng bên hàng trúc xé rào nhìn em
Còn đâu mùa ruộng "đông ken"
Ruộng anh em cấy, đất em anh cày Còn đâu vị lá trầu cay, Miếng cau dầy trắng mà say miếng trầu
Bây giờ quê cũ còn đâu, Còn đâu người đẹp với cầu tre xưa"
Chiều chiều gió thổi, gió đưa Nhớ người một buổi chiều mưa lên đường
Người lên đường ra lính
Trong lòng và trên đầu súng,
Có hình ảnh nước Việt Nam
Trong ấy có đôi làng thân mến, Một dòng sông và đôi bến ngó nhau, Một tình thương bắc một nhịp cầu, Chìm sâu giữa đôi lòng trang lứa, Thân yêu nhau từ thuở thanh bình
Đến khi thời loạn đao binh
Lòng còn chôn chặt khối tình đầu tiên
Mai này trời lặng phong yên, Bóng cờ tươi thắm ngự trên hoang tàn
Anh sẽ về làng,
Về tận bên sông quê;
Anh bắc nhịp cầu quay, Anh xây chân cầu sắt Trên xác chiếc cầu tre,
Trang 14Nối liền đôi bờ đất Hàn lại vết thương đau Bến xưa dù đổi nhịp cầu, Đất nghèo còn giữ lấy màu quê hương
Dù cầu sắt nọ giàu sang,
Áo cầu rực rỡ phết vàng sơn son
Dù sông cạn với núi mòn, Trong hồn quê vẫn có hồn cầu tre
Dù đời tham tướng bỏ xe, Lòng anh lắng xuống niềm quê chân thành
Dù đời mê bã hư danh, Lòng quê bắc lại mối t́nh cầu tre Cầu tre ới hỡi cầu tre, Cầu tre lắc lẻo, cầu tre chung tình
(Rạch Giá, Thượng tuần tháng Chạp, 53)
CHẬU NHỎ ĐỰNG ĐẦY HỒN CỐ THỔ
Kỷ niệm một chuyến trở về thăm làng cũ (Đông Yên, U Minh Thượng) Năm mươi năm, bỏ làng xa xứ
Đầu bạc mới tìm về cố hương
Quên mất Vàm ngoài sông Cái nước
Không nghe gà gáy giữa canh sương
Khỉ hết chuyền cành bần hái trái
Bông không còn rụng thả trôi sông
Ngày thơ xé mắm ăn bần chín
Bóng mát lung linh chở khẳm xuồng
Cây cầu dừa bắc ngang đường lở
Trẻ quậy bùn sôi bến tắm mưa
Nay đã xây cầu, hai mố đúc
Mình quên là phải cái cầu xưa
Kìa sân phơi lúa thời thơ dại
Trang 15Con nít đá banh gọt bặp dừa
Ai đá thua khum lưng, cõng bạn
Bây giờ lập miếu nhớ người xưa
Đã cất lâu ngôi trường lợp ngói
Trống da trâu đánh buổi đông trường
Thầy cô ở huyện vô đây dạy
Cha mẹ học trò đều mến thương
Thằng bạn cái thời tuổi tắm mưa
Dắt mình tìm lại đất nền xưa
Vẫn còn nguyên vẹn, không ai chiếm
Tràm mọc đầy sân, mặc gió lùa
Ở chợ, người giàu giành hết đất
Không nhà, tới chết vẫn long đong
Sao chưa trở lại U Minh Thượng
Hai đứa già ôm tuổi tắm mưa
Nắm chặt tay sần người bạn cũ
Gượng cười, đứng ngắm cánh diều bay
Còn mang nặng nợ văn chương đó
Khó trở về quê lúc trắng tay
Đứng giữa nền xưa sao muốn khóc
Hàng ba giăng võng, mẹ ru con
Sáu năm hồn mẹ vào thiên cổ
Tiếng võng nhà bên gợi nỗi buồn
Vẫn tiếng cu gù thời trẻ dại
Còn nghe gió hát lộng chòm tre
Bến sông lở đất khơi dòng chảy
Đông xóm xanh làng mát bóng quê
Móc đất giữa nền nhà bỏ trống
Đựng đầy chiếc giỏ cuối đời người
Đem hồn quê gởi nơi thành thị
Giữ lấy cố hương giữa chợ đời
Chậu nhỏ đựng đầy hồn cố thổ
Tiếng gà rừng gáy thuở khai hoang
Ngỡ sông quê chảy vờn hương khói
Nghe tiếng cu kêu sực nhớ làng
Trang 16CHUYẾN TẦU ĐỜI
Chuyến tàu đã chuyển bánh rồi
Xe qua từng trạm kéo còi biệt ly Khói tàu vơ vẩn thành mây Mối tình lưu khứ thoáng bay lên trời
Em tôi đứng giữa ga đời Lần đầu tiên khóc, tiễn người đi xa
Xe qua cổng, khuất nhà ga Bánh nghiền gió bụi, nghiến qua cõi lòng
Đôi con đường sắt song song Chạy về một hướng mà không giao đầu Sân ga nằm nhớ con tàu
Tàu theo bóng sắc để sầu sân ga
Trường đời là bóng đường xa Tình đời là chuyến tàu qua vội vàng Đắng cay là cát bụi đường,
Lòng ta là một đám tang không mồ
Thân tằm gầy guộc xác xơ Chợ đời, mấy kẻ bán thơ làm giàu Đời ta lỡ mấy chuyến tàu
Vì chưng vứt bỏ công hầu sau lưng
_Kiên Giang_
(Trên một chuyến tàu đêm tháng 6 – 61)
CÔ HÀNG BÔNG CỎ
Năm ngoái cùng sang đò Rạch Miễu
Sánh vai qua "bắc" dưới trăng tà
Nắm tay xuống bến như đôi trẻ
Chờ đợi nôn nao phút tới nhà
Gió thổi, thổi tung đôi mái tóc
Em choàng khăn lụa, kiểu choàng hầu
Gió không hôn được làn da mộng
Em đứng nhìn trăng như khẩn cầu
Lúc đến giáo đường trong lễ nhứt
Trăng sao vũ trụ chứng tình duyên
Thoáng nhìn nhân dáng như tơ liễu
Hồn mộng đan nhau lưới tóc huyền
Trang 17Sợ em vấp ngã khi qua bến
Anh nhẹ dìu em bước xuống đò
Em nắm tay anh như cố bám
Trái tim thi sĩ, mối tình thơ
"Bắc" vừa tách bến, em cười nụ
Chỉ rặng dừa khẽ bảo : "Bến Tre!
Quê mẹ bên sông râm bóng mát
Gốc dừa bám đất vững chân quê"
Ngày thơ em gánh hàng bông cỏ
Bán chợ Bang Tra khắp lối mòn
Ai cũng khen nước da trắng mịn
Cỏ dường quyến luyến gót chân thon
Về xứ, em mua thuốc Mỏ Cày
Mua tôm nước bạc, rượu nồng cay
Đãi chồng chợ búa về quê vợ
Cát bụi đô thành bỏ lại đây
Lâu lâu về tỉnh đi đò máy
Cùng thở gió sông, ngắm nắng hồng
Qua vịnh qua doi tìm bến mát
Neo hồn Lý Bạch giữa dòng sông
Mùa cá tôm, hội hè sóng nước
Thả thuyền đuổi bắt sóng trường giang
Sóng trôi, thuyền lướt theo không kịp
Làm vỡ hào quang, nát mảnh trăng
Nửa đêm thuyền chở khẳm khoang trăng
Chở tiếng chuông khuya, nhạc giáo đường
Khác đạo, trái tim cùng máu đỏ
Phật trời sẽ buộc mối tơ vương
Năm sau qua "bắc", lòng đơn chiếc
Sao chuyến xe đò chạy quá nhanh
Nuốt vội quãng đường đầy kỷ niệm
Tóc xanh đã rối mộng xuân xanh
Đò máy Bang Tra ngày mấy chuyến
Rước đưa hành khách lạ hay quen
Còi tàu nức nở kinh cầu nguyện
Như tiếng lòng anh tưởng nhớ em
Trang 18Về xứ dừa xanh tìm kỷ niệm
Lạnh lòng, lạnh gió, lạnh đường xe
Người xưa bỏ xứ lên đô thị
Có thấu tình ta hỡi Bến Tre!
Một mình giã mướn đóng thêm tiền trường
Chày khuya làm mỏi canh sương
Nện từng nhịp mạnh mở đường chữ thơm
Lửa ngầm cháy ruột cúi cơm
Sương khuya đọng lá bầu non ngoài giàn
Con cúi cháy tàn
Mẹ còn đứng cối
Đèn khuya le lói
Soi bóng tre gầy
Sương nhiều nên cám không bay
Mà sao vầng trán ướt đầy mồ hôi
Gạo này mẹ giã trắng tươi
Nửa mua giấy mực, nửa nuôi gia đình
Ngày mai con xuống tỉnh thành
Mang theo giạ gạo, chút tình mẹ quê
Con nằm ngủ vạt giường tre
Lòng thơ trăn trở lắng nghe nhịp chày
Hé mền nhìn bóng cao gầy
Con thương thương quá, nhịp chày canh sương
Nát rồi cối gạo quê hương
Từ ngày bỏ xứ lên đường tản cư
Trán nhăn cày nếp ưu tư
Đêm nay ngồi viết lá thư quê nghèo
Trang 19Ao xưa tản mác sóng bèo
Chân trời cũ, tiếng sáo diều im hơi
Ngước lên, mắt loạn bụi đời
Trời đen khói lửa, sáng ngời hoả châu
Chày xưa cối cũ còn đâu
Còn đâu hột gạo thơm mùi quê xưa
Nửa đời con, mấy gió mưa
Công ơn trời biển con chưa đáp đền
Đêm nay gục khóc bên đèn
Làm thơ dâng mẹ trọn niềm cối khuya
_Kiên Giang _
(Tết 67)
CỐT TRĂNG
Tục lệ quết bánh phồng đêm rằm tháng chạp không còn nữa ở làng quê
Đẹp biết mấy bàn tay trai làng lấm mồ hôi ướt tóc mai của cô gái trang lứa đứng cối chày đôi Không còn ai cán mỏng vầng trăng trên chiếc bánh phồng sốp của tuổi thơ
Ánh trăng rằm vẫn đọng trong lòng cối cô đơn
Nhưng ánh vàng đã tan loãng trong mênh mông, phải chăng đi tìm một chân dung mờ khuất Quết bánh phồng đêm rằm tháng chạp
Dòng sông lấp lánh, sóng bâng khuâng
Khi chày khua cối, làng xao xuyến
Gọi chị Hằng Nga viếng xóm làng
Xem đôi trai gái quết chày đôi
Giọt giọt mồ hôi ướt tóc mai
Anh vội nâng khăn lau trán mộng
Cô em bẽn lẽn, giấu môi cười
Bột nhuyễn màu trăng bởi ánh vàng
Hoà tan khi mẹ cán vầng trăng
Trên nền bánh mỏng, trăng vàng ửng
Trăng sáng cuối năm, sáng cả làng
Tàn trăng tháng chạp vào Nguyên Đán
Hết Tết ra giêng, em lấy chồng
Năm tới cũng ngày rằm tháng chạp
Cối trăng nhớ nhịp chày mồ côi
Trang 20Cối lạnh đọng màu trăng tháng chạp
Ánh vàng trong cối toả mênh mông
Bánh chợ, đủ màu cay đắng mới
Bánh phồng đời gọi bánh quê mùa
Cối mòn, chày gãy nằm trong bếp
Mặc thói đời nhiều nỗi nắng mưa
***
Ai người khăn gói gió đưa
Về đây quên hết nắng mưa, bụi đời Khi yêu, yêu lắm người ơi
Cả trời cả đất cả người Bến Tre Bóng dừa râm mát lối quê Người ơi! tôi ngỡ lối về cung tiên Gái làng đi họp chợ phiên (Phất phơ tà áo nàng tiên xứ dừa)
***
Em ạ trưa nồng vào quán cũ Lòng người trở lại buồn bâng quơ Khơi trong dĩ vãng tìm vang bóng
Kỷ niệm ngủ yên dưới bóng dừa
Trang 21_Kiên Giang_
Bến Tre, 1956
DƯỚI GIÀN MỒNG TƠI Kính tặng Mẹ
Mẹ già nấu rượu nếp than
Kiếm tiền trả bớt nợ nần thâm niên
Trán nhăn cày nếp ưu phiền
Bàn tay nào sạch ? Đồng tiền nào dơ ?
Cau già xa gốc trơ vơ
Trái đau trổ muộn bạc phơ mái đầu
Nửa đêm ngồi ngoáy cối trầu
Nghiền tan cay đắng trộn màu thời gian
Nhìn màu tím rượu nếp than
Ngỡ ngồi hóng mát dưới giàn mồng tơi
Nghe mòn mỏi nhịp võng lơi
Thoáng hương cau ngát mây trời quê hương
"Bần gie, đom đóm lập lòe
Năm mười chín tuổi, mẹ về với cha"
Hai mươi, nở nhụy khai hoa
Vầng trăng mười chín xế tà vì đâu ?
Mùa mưa cắm cá giăng câu
Mùa khô, bắt ách xe trâu băng đồng
Hai vai gánh nợ con chồng
Tay nhen bếp lửa, tay bồng con thơ
Thở dài theo điệu ầu ơ
"Lấy chồng xa xứ, bơ vơ một mình
Bên ven rừng xứ U Minh
Trọn niềm dâu thảo, trọn tình mẫu thân
Bây giờ héo hắt tuổi xuân
Sáu mươi năm, sáu mươi năm mỏi mòn
Vầng trăng Xẻo Đước thôi tròn
Đường câu đã cuốn, lối mòn đã qua
Tàu xuplê một,
Tàu xuplê ba
Con sông Cái Lớn, làng xa khói mờ
Trưa buồn nghẹn tiếng hitcô
Xót xa chim vịt bơ vơ gọi bầỵ
Trang 22Ới sông Cái Lớn
Ới ngọn bần gie
Lửa đom đóm chẳng lập loè
Bao giờ mới thấy lối về quê xưa
_Kiên Giang_
(trích tập thơ "Lúa Sạ Miền Nam")
ĐAU TRONG LÒNG
Vắng em sa mạc vào hồn Lạc đà thay bước nỗi buồn ngao du Vắng em trưa có sương mù
Thư trang lạnh ngắt lời thư nhạt tình Hỡi người vào buổi trăng trinh Trái tim có mấy bóng hình trong mơ
Dại khờ là kẻ làm thơ
Từ lâu nuôi mộng, bây giờ nghẹn đau
Đã yêu trao trọn cho nhau
Mà người lừa đảo nói câu đưa đò
Đường tình cát bụi mịt mờ Trong lầu mộng ngọc có mồ thanh lâu Trần ai hề bã công hầu
Mơ khanh tướng, bước qua cầu phù hoa
Nàng đi vay mượn hồn ta Điểm trang hư vọng bước qua xác gầy Làn môi đôi mắt gót giày
Moi tim, nạo tủy xác này héo khô
Nàng chê thi sĩ dại khờ Làm thơ đổi gạo bao giờ giàu sang Những thằng thi sĩ lang thang Trọn đời vào mộng tiêu hoang kiếp đời
Còn gì xét lại người ơi Trái tim rách nát ngàn bài thơ đau
Từ ngàn xưa cho đến ngàn sau Bao giờ thi sĩ hết đau trong lòng
ĐẾM SAO VÔ HÌNH
Trang 23Ngày chúng mình yêu nhau
Mắt anh là vì sao
Mở rộng vùng chiêm bao Cho tình em lấp lánh
Em thích hôn mắt anh Rồi bảo : "Đây trời xanh Cho hồn em trú ẩn Trong vùng mát thơm lành"
Những đêm trời sáng sao Mình thích ra bờ ao
Áp đầu nhìn một hướng Hồn cùng bay lên cao
Ngoéo tay mình giao ước
Ai đếm hết sao trời
Sẽ được hôn trong mắt (Người nào thua cuộc chơi)
Anh đếm một hai ba (Không kể ánh sao sa) Bốn năm rồi sáu bảy Sao tiếp sao hằng hà
Khi đếm sao anh dặn Đừng đếm sao Ngân Hà (Những vì sao tan vỡ) Làm Ngưu-Chức lìa xa
Một trăm, ngàn vì sao
Vì sao thấp hay cao
Vì sao mờ hay tỏ Đều đẹp tình ly tao
Đếm hoài không hết số
Vì vòm trời bao la Nên tình thơ man mác Sao nở trời cẩn hoa
Đôi mươi năm sau nữa Cuộc sống cướp ngày xanh
Mắt anh mờ ánh lửa
Vì thao thức tàn canh
Em vẫn hôn mắt anh
Trang 24Với chuỗi hôn nồng cháy Khẽ nói : "Trời vẫn xanh Trong trái tim tinh anh"
Sao trời dầu tắt lặn Nhưng ánh sao ân tình Vẫn sáng đẹp bình minh Khi tình ta gắn bó
Thời chiến trời hết xanh
Vì màu đen khói loạn Dải Ngân Hà tan nhanh Sao trời rơi tan tành
Đêm trăng, đi ngủ sớm Không dám đứng bờ ao Sánh vai ngắm trời cao Tàn rồi trăng thơ ấu
Hãy đếm trong ánh mắt Hằng hà sao vô hình
Để em tơ ôm ấp Hương tuổi thời băng trinh
ĐÊM THAI NGHÉN
Qua rồi, biết bao đêm không ngủ
Ta khóc trong lòng giấy tả tơi Bằng óc, bằng tim, bằng cảm hứng
Để ghi chép lại vạn trang đời
Thao thức là giờ đau quặn thắt
Là giờ thai nghén của tâm hồn Ôi! thần thánh, phút, giây thai nghén Hỡi trang giấy trắng hỡi tâm hồn
Hãy sống triền miên bên giấc ngủ Mỉm cười trong bóng tối thâm u Cười trong rau cỏ, khi thai nghén
Mà bút cuồng đau vẫn hẹn hò
Kẻ tuyệt vọng chỉ là xác chết Những lời hoa gấm thuốc hồi sinh Hãy ghì ôm lấy đời hoa mộng Hỡi kẻ bơ vơ kẻ tuyệt tình
Trang 25Mực chảy mở đường cho thế hệ
Là bao giọt máu tự buồng tim Xác gầy nhưng dạ bằng gang thép Trên huyệt đầu lâu, ta đắp nền
Bao giờ hộc máu trên trang giấy Gần tàn hơi, bút vẫn nở hoa Trong tác phẩm ta gieo sự sống Cái còn sống mãi vẫn là ta
Qua rồi biết bao đêm không ngủ Bạn ở phố nghèo, ngõ hẻm sâu Bạn ở lầu cao, hay gác trọ Đêm nầy vẩy bút đón chào nhau
Gặp nhau rồi, giữa đêm thai nghén Dẫu lạ hay quen, dẫu kẻ thù Hãy vẩy bút cùn, tung giấy mực Tìm nhau trong bóng tối thiên thu
ĐỒNG TIỀN DUYÊN
Chưa chồng ôm má ngủ đi em
Cứ ngỡ còn thơ dưới mái thềm
Thuở mới lên mười ăn nước đá
Cười duyên má núng đủ hai tiền
Người chị thấy em mình ngộ nghĩnh
Bảo rằng : "Cô Út có hai tiền
Hãy cho chị đổi hai đồng bạc
Có lấy hai đồng đổi chút duyên ?"
Em mắc cỡ chạy ôm siết mẹ
Đôi bàn tay nhỏ bụm đồng tiền
Giả vờ ngáy ngủ nhưng không ngủ
Khúc khích cười trong áo mẹ hiền
Năm nào vào tuổi xuân đôi chín
Trang 26Vì không lâu nữa độ vài năm
Gối tay chồng thế tay người mẹ
Ru mộng hồn vào giấc ái ân
Ai mở vòng tay kề gối phượng
Dìu em vào mộng giữa trường đời
- Em ơi ngày ấy bao lâu nữa
- Anh muốn nàng thơ chậm trả lời
Hãy để đồng tiền tròn má núng
Cho anh hôn lén cứ làm thơ
- Ngày nào có kẻ giàu xin cướp
Anh mất tiền duyên hết ước mơ
Ôi đẹp làm sao giây phút ấy
Từ khi cô giáo tập em đồ Không kê giấy chặm em vô ý
Để dấu tay lem vở học trò
Mồ hôi ươn ướt ốc tay tròn
In dấu lem nhòa trang giấy thơm
Cô bảo : "Hoa tay em xấu quá Xoè tay cô khẻ thế roi đòn "
Cô khẻ tay em, cô khẻ nhẹ
Em xoa tay, anh cũng xoa tay Nỗi đau da thịt, anh đau thế
Mà nỗi lòng đau, ai thế đây
Anh nhịn ăn mua tờ giấy chặm Tặng cô bạn nhỏ lót kê tay
Em mừng nước mắt rơi trên giấy
- Tiếng hát nô đùa ôi đắm say
Mực hết lem nhòa trang vở cũ
Trang 27Cô khen : "Trò nhỏ có hoa tay Nét đồ khép nép như con gái
“- Hoa trắng ngoài sân đã nở đầy”
Trống trường hai buổi điểm thời gian
Em đợi khi trường đổ trống tan
Em trả đồng xu mua giấy chặm
- Chiều rồi hoa trắng rụng đầy sân
Sau ngày ra tỉnh xa trường cũ Trang vở ngày xanh xếp lại rồi Bông điệp úa nhàu chôn xác bướm Đồng xu anh giữ, nhớ thương hoài
Thế rồi từ độ ra trường lớn
Em lấy chồng, anh mới viết văn
- Xứ Huế xa vời, tàu chuyển bánh
Ga đời anh đứng khóc ly tan
Người cũ theo chồng ra xứ Huế Đồng xu kỷ niệm vẫn còn đây
Em đem tiền bạc đền ơn nghĩa (Mười mấy năm rồi, anh mới hay)
Gõ đồng xu nhẹ trên đường sắt Nghe nức nở lên nhạc tiễn hành Tàu chạy xa rồi, thôi đã hết Đồng xu giấy chặm, chuyện ngày xanh
_Kiên Giang_
(Huế - 62)
ĐƯỜNG VƯỢT BIỂN
Nõn nà thay lá giao mùa Đẹp sao sản phụ mới vừa khai hoa
Trang 28Vút cao tiếng khóc tu-oa Tưởng chừng nhạc khúc tình ca chào đời
"Đàn ông đi biển có đôi, Đàn bà đi biển mồ côi một mình"
Người Mẹ xé khăn làm tã lót
Ủ con so, hòn ngọc trong lành Chồng nghèo lên tận rừng xanh Đốt than, hái ráng ủ tình tào khang Phòng sanh nào khác cung vàng Trên giường cữ khói, nữ hoàng ngự lên Chồng là người lính trung kiên Canh chừng giấc ngủ nàng tiên bên giường Mùi thơm dầu chổi tỏa hương Xông thơm da thịt nữ hoàng con so
Than hồng củ ráng, xông chăn gối
Ấm cả nhà xiêu, ánh lửa mờ Vàng bạc trên đời không đổi được Một hòn ngọc quí : đứa con so Non ngày non tháng em nằm ngủ Muối mặn, tiêu nồng, cơm dẻo thơm
- "Má nó ăn đi, đây sữa ngọt Sữa nghèo chuyền máu để nuôi con"
Đợi tối người chồng làm giấy nợ Hỏi vay bạc tháng mấy mươi phân Buộc tay bà mụ đền ơn nghĩa Rồi sẽ cày thuê trả nợ nần
Nhìn thấy gói tiền, em khẻ hỏi :
- "Tiền đâu ghim kỹ, giống tiền vay ?"
Anh liền nói dối : - "Tiền cha mẹ, Cứng cát mình làm lễ cột tay"
Cầm tờ giấy bạc vàng kim gút Người vợ biết tiền chồng mới vay Không nói ra mà lòng đã khóc Khi bàn tay nắm lấy bàn taỵ Đàn bà sống chết đường sanh nở
Đi biển mồ côi chỉ một mình Chín tháng cưu mang đường vượt biển Trăm năm hương lửa biết bao tình
_Kiên Giang_
trích từ tập thơ "Lúa Sạ Miền Nam"
GIÓ BẤC HIU HIU
Trang 29Ngày xưa mới học chữ a, bê Con bỏ mái thềm, xa bóng quê
Ở trọ nhà người nơi Rạch Giá Cái đầu hớt tóc kiểu "ca-rê"
Quá giang ghe lúa ra trường tỉnh Phải trả công người: tát nước ghe Ngủ đứng như tù trong khám tối Học trò nghèo sớm tập làm thuê
Hay ghét nhà giàu từ độ ấy Lớn lên tôi định lên Tà Lơn Học bùa, học võ đi ăn cướp
Có lẽ đời mình đỡ khổ hơn
Mỗi độ bãi trường, kỳ lễ lớn Tôi dành tiền bỏ ống ngày thơ Mua văn kiếm hiệp và ma quái
Để học cái nghề tôi ước mơ
Trong trường tụ tập năm ba đứa Giả bộ chia phe cướp chủ nhà Sào huyệt: vườn xoài hay giếng nước Múa roi trâu thế chiếc roi da
Bắt chủ nhà trói gô thúc ké Tống tiền nhãn tập với cò thơ Đem tiền cướp cho người nghèo khó Thơ mộng thay đảng cướp học trò!
Ba tôi hay chuyện con ăn cướp Đánh mấy trận đòn, cột gốc me
"Ăn cướp đâu bằng làm chủ quận Học làm quan khỏi phải lo nghèo"
Từ đó tôi không còn đánh cướp Chẳng thèm nuôi giấc mộng làm quan Vừa lên lớp nhất, làm văn sĩ
Vừa tập làm thơ, vừa viết văn
Vừa mới ra trường đi dạy học Thôi dạy làm thơ nên trắng tay Đời viết văn như manh lá rách Nước sông gạo chợ, ngày qua ngày
Trang 30Bãi trường tỉnh, đầu mùa xuân cũ Con nắm tay Ba xuống bến tàu Đầu hớt "ca-rê" vừa mọc tóc Nghe hơi gió bấc lạnh da đầu
Đáp tàu khói, về quê ăn tết Gió bấc đầu muà gợn sóng đêm
Ôm ổ bánh mì làm gối nhỏ đêm về cho mẹ với cho em
Quê hương chìm khuất chân trời lửa
Ba bốn năm, không về cố hương Rồi một chiều mưa, dây thép đến Mới hay cha chết ở trong làng
Theo chuyến xe đò về tới xứ Người ta đã khép áo quan rồi
Mẹ không vuốt mặt cha lần chót Con cháu còn xa mấy dặm đời
Mấy em gái co chồng xa xứ Đứa ở Bạc Liêu, đứa Vũng Tàu Con cái đùm đề, cơm áo chợ Muốn về xóm cũ, chắc còn lâu
Mẹ già goá bụa sầu con cái Nay trọ nhà đèn, mai bến xe Nấu rượu nếp than, làm bánh khéo
Lo cho thằng út chuyện gia thê
Bây giờ kỷ niệm còn đâu nữa
Từ lúc lìa quê bỏ bến tàu
Bỏ mộ cha nằm vùng đất biển Hiu hiu gió bấc tiếng còi sầu
Từ lúc tản cư, rời Xẻo Đước Con sông Cái Lớn, lục bình trôi Bến vàm Cái Nước, tàu thôi ghé Hồi mõ điểm canh tiếng thở dài
Nhớ ngày cha mới lìa quê nội Bơi chiếc xuồng con đến xứ người Kinh Xáng mới đào, Tây chiếm đất Cha đi lập nghiệp giữa đồng khơi
Phát mướn cày thuê, mua lúa giống
Trang 31Trăng rừng soi lạnh nẻo khai hoang Cày sương, cha thức theo gà gáy Quần vải hột dền bạc gió sương
Mấy mùa làm ruộng nghèo xơ xác Lúa hột vào kho lẫm chủ điền Mướn đất thôi đành ăn lúa lép Mùa khô bứt choại kiếm thêm tiền
Nửa đời sự nghiệp còn tay trắng Chưa trả ơn, cha đã chết rồi Bóng núi Thái Sơn cao chót vót Hồn cha phảng phất tận mây trời
_Kiên Giang_
Đêm 21-2-67
HƯƠNG NƯỚC MƯA
Trời đang đứng bóng trưa gay gắt Anh ghé nhà em xin nước mưa Ngỡ lạc Đào Nguyên hay Thượng Uyển Khi bông sứ nở hội đương mùa
Uống nước trời mưa anh những tưởng Uống mùi hương tóc gái thơ ngây Nước trong veo quá, không men rượu Mới uống lòng đã ngây ngất say
Gió thổi tóc bay hương phảng phất Giả vờ anh gọi: "Nước mưa thơm"
Hương xông từ tóc lên da thịt
Vì má hồng chưa có dấu hôn
Vuốt tóc liếc nhìn như bẽn lẽn Môi cười nửa nụ trách người quen
"Cái anh thi sĩ đa tình quá Uống nước no rồi chọc ghẹo em"
Cổng đã khép rồi bông sứ rụng Anh lên đường giữa nắng ban trưa Lòng còn say ngất dư hương cũ Hương tóc hay là hương nước mưa
KHÓI TRẮNG
Trang 32(Kính Dâng Mẹ của tôi và của bạn với tất cả lòng thương kính)
Hương cau thơm phức ngôi sao mẹ Thơm ngát mái nhà, thơm áo cơm Con thở trong mùi thơm bát ngát Thịt da mái tóc quyện mùi thơm
Nước mắt chảy xuôi tình mẫu tử Chảy theo nước mắt cuộn mồ hôi
Mẹ đem cái chết làm nên sống Nước mắt một dòng vẫn chảy xuôi
Ngày xửa ngày xưa thời trẻ dại Con đau rên siết mẹ sầu lo Bán đôi bông cưới mua thang thuốc Mua bánh tai heo, giấy học trò
Đêm nào con khóc đòi ru ngủ
Mẹ thức mỏi mòn: nhịp võng đưa Thân lạnh nằm khoanh lòng mẹ ấm
Mẹ ơi ! Con lớn giữa niềm ru
Nhớ ngày mẹ ốm nằm trong xó Chiếu lạnh ủ không ấm vóc gầy Đau đớn không hề rên siết khẽ
Sợ con nghe tiếng mà buồn lây
Nói làm sao hết mẹ hiền ơi ! Công đức niềm đau lẫn tiếng cười
Mẹ lấy bụi đời làm phấn sáp Che dù trời nắng, đội mưa rơi
Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ
Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân Khói trắng lên trời như tóc bạc Con ngỡ khói tóc quyện mây Tần
Chiều nay dừng gót trên bờ biển Nhìn sóng bạc đầu mây trắng trôi Con ngỡ khói vườn hay tóc mẹ Bay tìm con, lạc bước giữa đường đời
Mai mốt con về thăm xóm mẹ Thăm mùa cau trổ, bóng làng xưa
Để rình nghe lại trong hiu quạnh Tiếng hát ngày xưa, nhịp võng đưa