Thời đại bắt đầu công nhận người khuyết tật là con người chỉ sau thời kì phục hưng (Renaissance) và cuộc cải cách tôn giáo (Reformation). Thời kì phục hưng diễn ra tại miền Nam châu Âu bắt đầu từ Italy giữa thế kỉ XIV đến thế kỉ XV và cuộc cải cách tôn giáo diễn ra tại miền Bắc Âu bắt đầu ở pức vào đầu thế kỉ XVI đã tạo ra bước ngoặt mới, khiến người ta thừa nhận khuyết tật và coi trẻ khuyết tật là đối tượng của giáo dục. Thời kì phục hưng tìm sự phục hưng về học vấn và nghệ thuật, coi con người là trung tâm và cuộc cải cách tôn giáo tìm nhu cầu đức tin trực tiếp thay cho đức tin gián tiếp đã khẳng định tất cả mọi người đều bình đẳng, thừa nhận người khuyết tật cũng là con người giống như người bình thường, đồng thời bất đầu nhận thức rằng người khuyết tật cũng có thể giáo dục được.
Trang 1LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÀ GIÁO DỤC VỀ KHIẾM THỊ TRONG
NƯỚC VÀ THẾ GIỚITRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
Trang 2I LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ KHIẾM THỊ TRÊN THẾ GIỚI
Thời đại bắt đầu công nhận người khuyết tật là con người chỉ sau thời kì phục hưng (Renaissance) và cuộc cải cách
tôn giáo (Reformation) Thời kì phục hưng diễn ra tại miền Nam châu Âu bắt đầu từ Italy giữa thế kỉ XIV đến thế kỉ XV
và cuộc cải cách tôn giáo diễn ra tại miền Bắc Âu bắt đầu ở pức vào đầu thế kỉ XVI đã tạo ra bước ngoặt mới, khiến người ta thừa nhận khuyết tật và coi trẻ khuyết tật là đối tượng của giáo dục Thời kì phục hưng tìm sự phục hưng về học vấn và nghệ thuật, coi con người là trung tâm và cuộc cải cách tôn giáo tìm nhu cầu đức tin trực tiếp thay cho đức tin gián tiếp đã khẳng định tất cả mọi người đều bình đẳng, thừa nhận người khuyết tật cũng là con người giống như người bình thường, đồng thời bất đầu nhận thức rằng người khuyết tật cũng có thể giáo dục được
Trang 3 Được mở rộng vào thế kỉ thứ VIII, tư tưởng khai sáng đã đặt nền móng cho cuộc cách mạng Pháp năm 1789, mọi quan tâm và nghiên cứu của các nhà tư tưởng khai sáng đã ảnh hưởng vô cùng lớn đến quá trình hình thành GDĐB Tư tưởng khai sáng này đã ảnh hưởng đến Hauy Vtestion (1745-1822), người tiên phong trong giáo dục cho người khiếm thị
Năm 1784, trường khiếm thị Pa-ri được thành lập
Trang 4Năm 1824 Louis Braille phát minh ra bảng hệ thống chữ nổi, Braille được vinh danh là “Người đem ánh
sáng cho thế giới bóng tối” Phát minh của ông được ví như một cuộc cách mạng làm thay đổi sâu sắc cuộc sống của những người khiếm thị trên thế giới
Trang 5II LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHIẾM THỊ Ở VIỆT NAM
So với lịch sử GDĐB của thế giới thì GDĐB ở Việt Nam xuất hiện muộn hơn rất nhiều Nếu so sánh về thứ tự xuất hiện các dịch vụ giáo dục trẻ khuyết tật, cũng như thế giới, giáo dục cho trẻ khiếm thị, khiếm thính ra đời sớm hơn so với giáo dục cho trẻ khuyết tật trí tuệ (theo cách gọi hiện nay)
Trang 6Tại miền Nam, vào năm 1903 trường mù đầu tiên được ra đời tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn do ông Nguyễn Văn Chí, một người mù du học ở Pháp về nước thành lập, giáo dục trẻ khiếm thị trải qua quá trình tái thiết lập, tách nhập hai trường nam sinh và nữ sinh mù.
Năm 1976, trường công lập dành cho học
sinh khiếm thị được thành lập tại địa chỉ
cũ 184 Nguyễn Chí Thanh với tên gọi là
trường Phổ thông Đặc biệt Nguyễn Đình
Chiểu TP Hồ Chí Minh cho đến ngày nay
Trang 7Ở miền Bắc, năm 1936, có một cơ sở dạy người mù đặt tại số 55 phố Quang Trung, Hà Nội, sau đó bị
đóng cửa Mãi đến năm 1955, do nhu cầu phục hồi chức năng cho thương bệnh binh, ngành thương binh xã hội đã mở trường dành cho những thương binh hỏng mắt đặt tại số 139 phố Nguyễn Thái Học
Trang 8Đến năm 1960, có thêm một cơ sở dạy bổ túc văn hóa cho thanh niên mù đặt tại khu Ba Đình, Hà
Nội
Vào cuối những năm 60 và đầu những năm 70 ở miền Bắc, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cử nhiều
chuyên gia đi đào tạo dài hạn ở nước ngoài về giáo dục trẻ khuyết tật Số cán bộ này sau khi về nước được bố trí làm việc tại Viện Khoa học Việt Nam và đã trở thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành về GDĐB ở Việt Nam
Trang 9Trong suốt thời gian từ khi thành lập đến những năm 1995, mỗi trường nuôi dạy trẻ khiếm thị có chương trình
dạy học riêng, không thống nhất Hệ thống chữ viết được dịch từ chữ Braille Pháp ngữ sang chữ Braille Việt ngữ Khi sử dụng, mỗi trường lại có sự thay đổi, do đó chữ viết Braille giữa các trường có nhiều điềm không thống nhất
Trang 10III GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THỊ TẠI VIỆT NAM
.Giáo viên phải trực tiếp soạn các tài liệu dạy học hoặc làm giáo cụ trực quan để giải thích tranh
vẽ, biểu đồ một cách cụ thể hơn
.Sử dụng các phương tiện thông tin khác nhau, hoặc sử dụng các tài liệu internet hoặc diễn thử
.Sử dụng chữ nổi, các tài liệu ghi âm và cố gắng sử dụng các tài liệu giảng dạy thay thế như các tài liệu phóng to khi dạy học sinh nhìn kém
.Trước khi vào trường tiểu học, học sinh cần được ưu tiên học đọc và viết chữ nổi Braille trước khi học các môn học khác
Trang 112 HƯỚNG DẪN SINH HOẠT
Là một nội dung rất quan trọng, giáo viên cần phải dạy cho học sinh khiếm thị những kĩ năng sống hàng ngày, khả năng hình thành và duy trì mối quan hệ ứng xử, trình bày quan điểm suy nghĩ, bày tỏ bản thân, kĩ năng giải trí, sinh hoạt gia đình, xã hội và quốc gia
Trang 123 DẠY CHỮ NỔI
Chữ nổi (Braille) là phương tiện đọc, viết của người khiếm thị Chữ nổi thường được đọc bằng cách rà nhẹ đầu ngón tay trỏ Vì vậy, để đọc tốt chữ nổi, điều quan trọng nhất là học sinh khiếm thị cần phải biết dùng đầu ngón trỏ để phân biệt
Để trẻ có thể phân biệt tốt hơn bằng xúc giác, thay vì đơn thuần cho sờ đồ vật, nên cho học sinh khiếm thị tập phân loại đồ vật theo kích cỡ, hình dạng, chất liệu,
Trang 134 DẠY ĐỊNH HƯỚNG DI CHUYỂN
Đi bộ bao gồm “đi bộ có người hướng dẫn” và “tự đi bộ”
Đi bộ có người hướng dẫn là cách đi bộ đơn giản nhất vì có sự giúp đỡ của người sáng mắt, người khiếm thị nắm tay người sáng mắt để bước đi; còn tự đi bộ là cách mà người khiếm thị tự di chuyển trong nhiều tình huống khác nhau
Trang 14 Ngoài ra, các dụng cụ điện tử hỗ trợ đi bộ cũng có
thể giúp trẻ khiếm thị di chuyển dễ dàng Gậy laser là
dụng cụ phát tín hiệu báo cho người khiếm thị biết độ cao
nguy hiểm hoặc đồ vật nguy hiểm ở phía trước họ
phát ra tín hiệu, thông qua tín hiệu đó, nó thu nhận thông tin về môi trường, giúp người khiếm thị biết đồ vật ở gần hay xa, tính chất và vị trí của đồ vật “Mowat sensor” là thiết bị thay đổi sóng siêu âm sinh ra do phản xạ với
sự vật thành chấn động Những thiết bị hỗ trợ điện tử này giúp trẻ khiếm thị có thể nhận biết môi trường xung quanh
Trang 15IV GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THỊ TRÊN THẾ GIỚI
.Hệ thống giáo dục trẻ khiếm thị ở Nhật Bản được thành lập năm 1948, sau khi ban hành Luật Giáo dục phổ thông
.Từ thời điểm này, số lượng học sinh các trường khiếm thị tăng lên không ngừng.
.Năm 1971, Bộ Giáo dục Nhật Bản thành lập Viện giáo dục đặc biệt quốc gia (NISE) để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể của hệ thống giáo dục đặc biệt Cho đến nay tất cả trẻ em, không phân biệt , đều được đến trường
.Năm 1979, tất cả các trường đặc biệt ở Nhật trở nên bắt buộc Những trẻ em không thể đến trường, được học
ở nhà.
Trang 16Theo luật, trẻ em có thể vào học trường đặc biệt hay lớp đặc biệt tại các cơ sở giáo dục phổ thông Trẻ
em cũng có thể vào học trường đại trà và nhận được sự trợ giúp về chuyên môn thông qua các phòng nhân lực với điều kiện đứa trẻ chỉ bị một khuyết tật không trầm trọng Đối với những trẻ em ở tuổi mầm non bị khuyết tật (từ 3 - 6 tuổi) sự trợ giúp về tâm lý giáo dục chỉ có thể được thực hiện ở nhà trẻ đặc biệt
trường phổ thông đại trà Các trường phổ thông bình thường có hệ thống trợ giúp dành cho những trẻ em khiếm thị
Học sinh khiếm thị ở mức trung bình được học tại các lớp đặc biệt của trường phổ thông Tại đây các
em nhận được sự trợ giúp cần thiết theo nhu cầu cá nhân
Trang 17Trẻ em khiếm thị kèm khuyết tật trí tuệ hoặc nhiều khuyết tật vẫn phải đi học
Nhiều học sinh khiếm thị tiếp tục vào học đại học 1/5 số học sinh khiếm thị tốt nghiệp các trường đại học
Các hoạt động của trẻ khiếm thị hoạt động theo chuẩn quốc gia Nhà trường yêu cầu các giáo viên và phụ huynh phối hợp xây dựng kế hoạch cá nhân của học sinh
Để xây dựng kế hoạch cần thu thập và xử lý thông tin về tiểu sử bệnh tật của đứa trẻ, đánh giá tâm lý
và kiểm tra, cũng như thu thập thông tin về hoàn cảnh gia đình, lưu ý tới nguyện vọng của bố mẹ
Việc kiểm tra sự phù hợp của hoạt động dạy học với nhu cầu cá nhân học sinh được thực hiện bởi các
cơ quan quản lý giáo dục khu vực: Thông qua các tổ chức giám định trực thuộc, các cơ quan này hỗ trợ tư vấn cho tất cả các trường giáo dục đặc biệt
Trang 182 ANH QUỐC
Mới đây, một chương trình có tên Everyone Can Code để giúp trẻ khiến thị trên toàn nước Anh có cơ hội được tiếp cận với việc học lập trình một cách dễ dàng đã được phát động
Chương trình do Apple cùng Viện Người Khiếm thị của Hoàng gia Quốc gia Anh thực hiện
Trong khuôn khổ chương trình, trẻ em khiếm thị tại nước Anh sẽ được học lập trình và viết các đoạn mã lập trình
Để phù hợp với lứa tuổi, các em sẽ được học lập trình qua một ứng dụng (app) có tên Swift Playgrounds - dạy lập trình qua những đoạn phim hoạt hình hoặc câu đố vui
Trang 19Các em sẽ được sử dụng công nghệ đọc màn hình có tên VoiceOver để giúp các em sử dụng app mà không cần nhìn thấy màn hình.
Ngoài ra, các em cũng sẽ được phát phiên bản chữ nổi (Braille) của các câu đố có trong ứng dụng
Bên cạnh đó ở Anh xây dựng phòng đa giác quan tạo cơ hội cho trẻ khiếm khuyết có thể phục hồi và phát triển các giác quan (thính giác, thị giác, vị giác, khứu giác và xúc giác) phối hợp tay và mắt, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm, quan hệ xã hội, giải trí và thư giãn
Ở Anh hiện nay trẻ có nhu cầu đặc biệt, trong đó có trẻ khiếm thị đang phát triển các kỹ năng giao tiếp trong phòng cảm giác trắng và phòng cảm giác đen theo sự cài đặt của SpaceKraft, cũng như tương tác ngoài trời và trong khu vui chơi mạo hiểm
Trang 21Ngoài ra, công nghệ này được xây dựng trên một nền tảng mở, do đó, những nhà phát triển có thể thêm các chức năng trên nền tảng di động vào WeWalk.